Skip to main content
Đức Giáo Hoàng Hưu Benedict XVI (Mazur/catholicnews.org.uk)

Đức Benedict XVI nói về vụ bê bối lạm dụng tình dục hàng giáo sĩ

Vatican, 11/04/2019 (MAS) – Trong một bài luận được đăng vào Thứ Năm trên CNA, Đức Giáo Hoàng Hưu Benedict XVI đã đưa ra những tư tưởng của Ngài về cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục mà Giáo Hội đang đối diện. Đức Benedict đã ôn lại cuộc cách mạng tình dục vào những năm 1960, và xem xét tác động của nó trên việc đào luyện linh mục và đời sống, trước khi đưa ra sự đáp trả phù hợp của Giáo Hội.

“Ngày nay, việc tố cáo đối với Thiên Chúa là, trên hết, về việc đặt Giáo Hội của Ngài vào nét đặc thù là hoàn toàn tồi tệ, và do đó ngăn cản chúng ta khỏi Giáo Hội. Ý tưởng về một Giáo Hội tốt đẹp hơn, được chính chúng ta tạo nên, thực ra là một lời đề nghị của ma quỷ, mà qua đó nó muốn dẫn chúng ta rời xa khỏi Thiên Chúa hằng sống, qua một luận lý cám dỗ rất logic mà qua đó chúng ta cũng dễ dàng bị lừa gạt”, Đức Benedict viết trong bài “Giáo Hội và Vụ Bê Bối Lạm Dụng Tình Dục”, được đăng ngày 11/4.

“Không, thậm chí ngày nay Giáo Hội không chỉ được tạo thành từ các loại cá xấu và những thứ cỏ lùng. Giáo Hội của Thiên Chúa cũng tồn tại ngày nay, và ngày nay Giáo Hội là một phương thế rất quan trọng mà qua đó Thiên Chúa sẽ cứu chúng ta”.

Bài viết của Đức Giáo Hoàng hưu được đăng đồng thời bằng tiếng Đức trên trang Klerusblatt, bằng tiếng Ý trên trang Corriere della Sera, và bằng tiếng Anh trên trang Catholic News Agency và National Catholic Register.

Đức nguyên giáo hoàng đã nói cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục không thể được hiểu tách ra khỏi bối cảnh xã hội của nó, khi nhấn mạnh rằng “vào những năm 1960 một biến cố quá tồi tệ diễn ra…những tiêu chuẩn chính thức trước đó có liên quan đến tình dục bị sụp đổ hoàn  toàn, và một qui chuẩn mới được xuất hiện”.

“Một cách nào đó đây là một thời kỳ khó khăn…sự sụp đổ đặc biệt của thế hệ linh mục tiếp theo trong những năm đó và một con số rất cao những vụ hoàn tục là kết quả của tất cả những sự phát triển này”.

Một cách đồng thời nhưng độc lập, “Nền thần học luân lý của Công Giáo trải qua một sự sụp đổ vốn làm cho Giáo Hội mất khả năng tự vệ trước những thay đổi này trong xã hội”, Ngài viết.

Cuộc khủng hoảng của nền thần học luân lý đã dẫn đến một sự bỏ đi ý tưởng về tội bản năng, và một sự chối bỏ vai trò của Huấn Quyền bởi một số nhà thần học, mà từ đó tông thư Veritatis splendor năm 1993, là một sự đáp trả.

Đức Benedict đã viết: “Có những giá trị vốn phải không bao giờ được bỏ đi vì một giá trị lớn hơn và thậm chí vượt qua khỏi sử bảo vệ sự sống thể lý”, khi gọi việc tử đạo là “một kiểu nền tảng cho sự hiện hữu Kitô Giáo”.

“Có một loạt các giá trị luân lý tối thiểu vốn gắn kết cách bất khả phân ly với nguyên tắc nền tảng của niềm tin và là điều phải được bảo vệ nếu không thì niềm tin sẽ bị giảm xuống thành một thứ lý thuyết thay vì được nhìn nhận trong lời tuyên xưng của niềm tin này trước một đời sống cụ thể”, Đức Giáo Hoàng hưu suy tư.

Ngài cũng bàn về phản ứng của giáo hội đối với nạn ấu dâm, khi nhấn mạnh Bộ Giáo Luật 1983 “đã dường như đủ để thực hiện những biện pháp cần thiết”, và rằng qua thời gian “một sự canh tân và đào sâu luật hình sự được xây dựng cách lỏng lẻo tinh tế về Luật Mới đã bắt đầu hình thành”.

Đức Benedict đã suy tư về câu nói của Đức Kitô “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn này tin vào Ta bị vấp phạm, thì thà cột cối đá vào và ném nó xuống biển thì hơn”.

“Cụm từ ‘những người bé mọn’ theo ngôn ngữ của Chúa Giêsu có nghĩa là những người tín hữu nói chung là những người có thể bị làm cho lệch lạc về niềm tin của họ bởi sự kiêu ngạo trí tuệ của những người nghĩ rằng họ thông minh. Vì thế ở đây Chúa Giêsu bảo vệ sự vững vàng của niềm tin bằng một sự đe doạ nhiệt thành về hình phạt cho những ai làm hại đến niềm tin ấy”, Ngài giải thích.

“Việc sử dụng câu này trong hiện tại tự thân nó không sai trái, nhưng việc ấy phải không được làm lu mờ ý nghĩa nguyên gốc”, mà trong đó thật rõ ràng là “đó không chỉ là quyền của người bị tố cáo là quan trọng và đòi hỏi một sự đảm bảo. Điều thiện hảo lớn lao như Đức Tin là quan trọng ngang bằng”.

“Một bộ giáo luật quân bình đáp ứng lại toàn bộ thông điệp của Chúa Giêsu do đó phải không chỉ mang lại một sự đảm bảo cho người bị tố cáo, sự tôn trọng đối với người tốt về mặt pháp lý. Nhưng còn phải bảo vệ cả Đức Tin…Một bộ giáo luật được hình thành đúng do đó phải hàm chứa một sự đảm bảo kép – sự bảo vệ hợp pháp cho người bị tố cáo, sự bảo vệ hợp pháp đối với sự tốt lành đang gặp nguy cơ. Nếu ngày nay người ta áp dụng ý niệm rõ ràng minh bạch này, thì về tổng thể người ta sẽ rơi vào tình trạng điếc tai khi việc này có liên quan đến vấn đề bảo vệ Đức Tin như là một sự tốt lành hợp pháp. Sự hiểu biết chung về pháp luật, thì Đức Tin không còn có vẻ là nằm trong thứ bậc của một sự tốt lành đòi hỏi sự bảo vệ nữa. Đây là một tình trạng cảnh báo vốn phải được xem xét và được suy xét cách nghiêm  túc bởi các vị mục tử của Giáo Hội”.

Ngài nói quyết định trao thẩm quyền cho những vụ việc ấu dâm hàng giáo sĩ cho Bộ Giáo Lý Đức Tin, thay vì cho Bộ Giáo Sĩ “là một kết quả của tầm quan trọng của Đức Tin đối với Giáo Hội”. Thực ra, thật quan trọng để thấy một hành vi sai trái như thế bởi hàng giáo sĩ sau cùng đang làm huỷ hoại Đức Tin”.

Sau cùng Đức Benedict hướng sang điều cần phải được thực thi: “Chỉ có sự vâng phục và tình yêu dành cho Chúa Giêsu Kitô mới có thể chỉ ra con đường”.

“Chúa đã sáng tạo ra một trình thuật của tình yêu với chúng ta và muốn gói ghém hết mọi công trình sáng tạo vào đó. Sức mạnh chống lại ma quỷ, vốn đang de đoạ chúng ta và toàn thế giới, sau cùng chỉ có thể hệ tại ở trong sự đi vào trong tình yêu này của chúng ta. Đó là sức mạnh thật sự chống lại ma quỷ. Sức mạnh của ma quỷ xuất phát từ sự chối bỏ yêu mến Thiên Chúa của chúng ta. Người tín thác bản thân mình cho tình yêu của Thiên Chúa thì được cứu chuộc. Sự hiện hữu của chúng ta không được cứu là hậu quả của sự không có khả năng yêu mến Thiên Chúa của chúng ta. Học yêu mến Thiên Chúa do đó là con đường cho sự cứu chuộc của con người”.

“Một nhiệm vụ tối quan trọng, việc phải xuất phát từ những thăng trầm luân lý của thời đại chúng ta, là điều mà bản thân chúng ta một lần nữa bắt đầu sống bởi Thiên Chúa và lệ thuộc vào Ngài. Trên hết, chính bản thân chúng ta một lần nữa phải học để nhìn nhận Thiên Chúa là nền tảng cho đời sống của chúng ta thay vì gạt Ngài sang một bên”, Đức Benedict viết.

Đức Giáo Hoàng hưu cũng nói cần phải có một sự tôn trọng sâu sắc về sự kinh ngạc của Sự Nhập Thể, và, qua đó, sự hiện diện của Đức Kitô trong Thánh Thể.

“Công Đồng Vatican II đã tập trung cách đúng đắn vào sự trở về với bí tích này về Sự Hiện Diện của Mình và Máu Đức Kitô…vào trung tâm của đời sống tkg và sự sống rất quan trọng của Giáo Hội. Tắt một lời, điều này thật sự đã diễn ra, và chúng ta phải hết sức biết ơn Thiên Chúa vì điều này”.

Nhưng “một thái độ khá khác lạ đang thắng thế”, Ngài nói. “Điều đang thắng thế không phải là một sự tôn kính đối với sự hiện diện của cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô, mà là một cách để giải quyết với Ngài là điều vốn huỷ diệt sự cao cả của Mầu Nhiệm”, trước việc trưng dẫn sự tham dự ngày càng suy giảm vào Thánh Lễ Chúa Nhật và việc đối xử với Thánh Thể như là một “cử chỉ mang tính nghi lễ thuần tuý”.

“Chúng ta không cần một Giáo Hội khác theo thiết kế của chúng ta. Thay vào đó, điều cần trước hết và trên hết là sự canh tân Đức Tin trong Thực Tại về Chúa Giêsu Kitô được trao cho chúng ta trong Thánh Thể”.

Mặc dù “có tội lỗi trong Giáo Hội và ma quỷ…thì thậm chí ngày nay vẫn còn có Giáo Hội Thánh Thiện, vốn không thể phá huỷ được. Ngày nay có nhiều người đang tin, đau khổ và yêu mến cách khiêm nhường, mà ở nơi họ Thiên Chúa chân thật, Thiên Chúa yêu thương, tỏ chính Ngài cho chúng ta”.

“Trong phiên toà chống lại ma quỷ, Chúa Giêsu Kitô là chứng nhân đầu tiên và thực thụ đối với Thiên Chúa, vị tử đạo đầu tiên, Đấng kể từ đó được biết bao nhiêu người đi theo”.

Ngày nay có thể thấy những chứng nhân “những người đứng lên vì Thiên Chúa bằng đời sống và nỗi thống khổ của họ. Chính sự tê liệt của tâm hồn là điều dẫn chúng ta đến chỗ không mong muốn nhận ra họ. Một trong những nhiệm vụ lớn lao và thiết yếu của công cuộc truyền giáo của chúng ta là, càng xa càng có thể, là thiết lập những cư dân của Đức Tin và, trên hết, tìm và nhận ra họ”, Đức Benedict kết thúc.

Joseph C. Pham (CNA)