Skip to main content
Đức TGM Chaput, TGM Philadelphia cử hành Thánh Lễ năm 2015 (CNS photo/Matthew Barrick, Knights of Columbus)

Đức Tổng Giám Mục Chaput chia sẻ bài phê bình thần học về tài liệu làm việc trong Thượng Hội Đồng về Giới Trẻ sắp tới

Philadelphia, 24/09/2018 (MAS) – Đức Tổng Giám Mục Charles J. Chaput vào thứ Sáu đã mang lại cho trang First Things một bản phê bình bởi một thần học gia về tài liệu làm việc cho Thượng Hội Đồng Giám Mục về Giới Trẻ sắp tới, vốn nhấn mạnh năm khó khăn thần học chính trong văn kiện.

Thượng Hội Đồng sẽ được tổ chức từ ngày 3-28/10 tại Vatican. Đức Tổng Giám Mục Chaput là một trong năm đại diện là những vị đã được Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ chọn để tham gia vào cuộc họp.

Ngoài ra, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã bổ nhiệm Đức Hồng Y Blasé Cupich thuộc Chicago và Đức Hồng Y Joseph Tobin thuộc Newark; tuy nhiên Đức Hồng Y Tobin đã quyết định không tham gia, do những luật buộc mục vụ tại Giáo Hội địa phương của Ngài trong cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục.

Đức Tổng Giám Mục Philadelphia đã viết vào ngày 21/9 rằng trong những tháng gần đây Ngài đã “nhận được nhiều email và những lá thư từ hàng giáo dân, giáo sĩ, thần học gia, và nhiều học giả khác, già và trẻ, với những suy tư của họ liên quan đến Thượng Hội Đồng Giám Mục tháng 10 tại Rôma để thảo luận về giời trẻ”.

“Gần như tất cả” những người này “đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của vấn đề chủ đề”, “khen ý định của Thượng Hội Đồng”, và “nêu lên những quan ngại về một kiểu hay kiêu khác về kế hoạch thời gian và nội dung có thể của Thượng Hội Đồng”, Ngài viết.

Đức Tổng Giám Mục Chaput đã chia sẻ một bài phê bình tài liệu làm việc, mà Ngài đã nhận được “từ một thần học gia trọng vọng người Bắc Mỹ”.

Ngài nhấn mạnh đó “là sự phân tích của một người; những người khác có thể không đồng ý. Nhưng nó thật đủ để cảnh báo một sự xem xét và thảo luận rộng hơn khi các đoàn giám mục đang chuẩn bị tham gia vào chủ đề của Thượng Hội Đồng”.

Vị thần học gia này đã xác định 5 vấn đề chính với tài liệu làm việc cho Thượng Hội Đồng giới trẻ: chủ thuyết tự nhiên, một sự hiểu biết chưa đủ về thầm quyền thiêng liêng của Giáo Hội, một nền nhân chủng thần học nửa vời, một khái niệm tương đối về ơn gọi, và một sự hiểu biết nghèo nàn về niềm vui Kitô Giáo.

Tác giả nói tài liệu “cho thấy một sự tập trung đang lan rộng vào các yếu tố văn hóa xã hội, trước sự loại trừ về những vấn đề luân lý và tôn giáo sâu hơn”, và thể hiện một mong muốn xem xét thực tại qua niềm tin và kinh nghiệm của Giáo Hội, trong khi “thật tiếc thay là lại thất bại không làm thế”.

Bốn trường hợp về chủ thuyết tự nhiên này được đưa ra. Một trong số đó là thảo luận trong phần 144, đoạn “có nhiều thảo luận về điều mà người trẻ muốn; một chút về những ước muốn này phải được biến đổi thế nào bởi ân sủng trong đời sống vốn rập khuôn theo ý muốn của Thiên Chúa cho đời họ”.

“Sau những trang phân tích về những điều kiện vật chất, tài liệu làm việc không mang lại sự chỉ dẫn về cách mà những bận tâm vật chất này có thể được nâng lên hay hướng đến cùng đích siêu nhiên của họ...đa số văn kiện cẩn thận đưa ra những thực tại mang tính văn hóa và kinh tế xã hội của những bạn trẻ trong khi không mang lại sự suy tư có ý nghĩa về những quan tâm thiêng liêng, hiện sinh, hay đạo đức. Người đọc có thể dễ dàng kết luận rằng những điều sau thì không quan trọng đối với Giáo Hội”, thần học gia viết.

Vị thần học gia sau đó thảo luận đến “sự hiểu biết chưa đủ về thẩm quyền của Giáo Hội” nơi văn kiện”, khi nói rằng “toàn bộ tài liệu đặt trên giả định vào niềm tin rằng vai trò chính của thầm quyền Giáo Hội là ‘lắng nghe’”.

Bằng việc nhấn trọng tâm vào việc lắng nghe và đối thoại của tài liệu, văn kiện làm việc đề nghị rằng “Giáo Hội không thủ đắc sự thật nhưng phải đưa ra lập trường của mình cùng với những tiếng nói khác”, tác giả viết. “Những người đóng vai trò là thầy dạy và thầy giảng trong Giáo Hội phải thay thế thẩm quyền của họ bằng đối thoại”.

Sự hiểu lầm này về thẩm quyền giảng dạy của Giáo Hội tạo ra một “sự trộn lại chức tư tế phép rửa và chức thánh linh mục”, vị thần học gia viết, và sự hiểu lầm này cũng “cho thấy một vấn đề mục vụ”: “Giáo Hội trong tư cách là mẹ và thầy dạy không thể qua sự phớt lờ hay hèn nhát mà bỏ đi vai trò cần thiết của việc đặt ra những giới hạn và định hướng (x. số 178). Trong mối liên hệ với số 171, đoạn chỉ về tình mẫu tử của Giáo Hội, thì lại không đi xa đủ. Số này chỉ mang lại vai trò lắng nghe và đồng hành trong khi loại bỏ vai trò dạy dỗ”.

Thứ ba, vị thần học gia thảo luận về “nền nhân chủng thần học nửa vời” của tài liệu làm việc, mà họ nói “không đưa ra bất cứ sự đề cập nào về ý muốn” trong sự thảo luận của tài liệu về con người nhân loại.

“Chính ý muốn về mặt nền tảng được hướng về điều thiện”, tác giả nhấn mạnh. “Kết quả thần học của sự thiếu sót đáng giá này thì thật thì hết sức quan trọng, vì vị thế của đời sống luân lý có ở trong ý muốn chứ không phải là ở nơi những thay đổi của kết quả”.

Sau đó là thảo luận về “khái niệm mang tính tương đối của ơn gọi” trong tài liệu, vốn tạo ra ấn tượng là “ơn gọi ấy chỉ liên quan đến sự tìm kiếm ý nghĩa và chân lý riêng của cá nhân”.

Một trường hợp của vấn đề này là ở phần 139, đoạn “mang lại cảm tưởng là Giáo Hội không thể đề xuất chân lý duy nhất cho người dân và rằng họ phải tự quyết định cho chính bản thân. Vai trò của Giáo Hội hệ tại chỉ ở trong sự đồng hành. Sự khiêm nhường giả tạo này có nguy cơ bỏ đi những đóng góp hợp pháp mà Giáo Hội có thể và nên thực hiện”.

Cái khó chính sau cùng của tài liệu làm việc là sự hiểu biết nghèo nàn của tài liệu về niềm vui Kitô Giáo, theo thần học gia.

Đời sống thiêng liêng và luân lý “bị giảm xuống thành chiều kích ảnh hưởng, rõ ràng nhất trong số 130, bằng chứng là một khái niệm mang thuộc về những người theo trường phái cảm tính về niềm vui”.

Theo vị thần học gia, tài liệu trình bày niềm vui như “một tình trạng hiệu quả thuần túy, một cảm xúc hạnh phúc....Ngoài việc tham chiếu thường trực đến ‘niềm vui’ của tài liệu, thì không có nơi nào khác mà tài liệu này mô tả niềm vui như là hoa trái của nhân đức đối thần là bác ái. Cũng như bác ái không được mang nét đặc thù là trật tự đúng của tình yêu, đặt Thiên Chúa lên hàng đầu và rồi đặt trật tự tất cả các tình cảm khác trong sự tham chiếu đến Thiên Chúa”.

Kết quả về sự hiểu về niềm vui này là một sự thiếu “bất cứ một nền thần học thánh giá nào” trong tài liệu làm việc.

“Niềm vui Kitô Giáo không phải là phản đề cho đau khổ, vốn là một thành tố cần thiết cho một cuộc đời theo thập giá”, vị thần học gia viết. “Tài liệu mang lại cảm tưởng là người Kitô Hữu thật sự sẽ ‘vui’ trong mọi lúc, theo nghĩa tương đồng. Tài liệu còn hàm ý xa hơn nữa sai lỗi là tự bản thân đời sống thiêng liêng luôn là kết quả của một niềm vui cảm nhận được”.

“Vấn đề mục vụ vốn là kết quả của điều này trở nên rõ ràng nhất trong số 137: Có phải là vai trò của Giáo Hội là làm cho người trẻ “cảm thấy được Thiên Chúa yêu thương” hay trợ giúp họ trong việc biết rằng họ được yêu bất chấp họ đang có thể cảm thấy thế nào?”

Vị thần học gia này nói thêm rằng có những quan ngại thần học nghiêm trọng khác trong tài liệu, nhấn mạnh, “một sự hiểu biết sai về lương tâm và vai trò của lương tâm trong đời sống luân lý; một sự trái ngược sai được đề ra giữa sự thật và sự tự do; một sự bình đẳng sai giữa cuộc đối thoại với người trẻ thuộc nhóm LGBT và cuộc đối thoại đại kết; và một sự xem xét chưa đủ về vụ bê bối lạm dụng tình dục”.

Đan Sĩ (CNA)