Skip to main content
Cha Raniero Cantalamessa, Giảng Thuyết Phủ Giáo Hoàng, Tuần 1 Mùa Vọng 2019 (ANSA)

Cha Cantalamessa - Bài Suy Niệm Mùa Vọng 2019 Cho Phủ Giáo Hoàng - Tuần 1

 MẸ CÓ PHÚC VÌ MẸ ĐÃ TIN

ĐỨC MARIA TRONG BIẾN CỐ TRUYỀN TIN

Mỗi năm phụng vụ dẫn chúng ta đến Lễ Giáng Sinh với ba người chỉ dẫn: Isaiah, Gioan Tẩy Giả và Maria, vị tiên tri, vị tiền hô, và người mẹ. Người thứ nhất loan báo Đấng Messiah từ xa, vị thứ hai cho thấy Ngài hiện diện trong thế giới, và vị thứ ba cưu mang Đấng ấy trong lòng mình. Mùa Vọng này, tôi nghĩ nên phó thác bản thân chúng ta hoàn toàn cho Mẹ Chúa Giêsu. Không một ai tốt hơn Mẹ có thể chuẩn bị cho chúng ta vui mừng cử hành sự hạ sinh của Đấng Cứu Độ chúng ta.

Mẹ đã không cử hành Mùa Vọng, mà Mẹ sống mùa này nơi thân xác Mẹ. Giống như mọi người mẹ khi đang cưu mang con mình, Mẹ biết việc đợi chờ ai đó nghĩa là gì và có thể giúp chúng ta trong việc tiếp cận Lễ Giáng Sinh với một niềm tin mong đợi. Chúng ta sẽ chiêm ngắm Mẹ Thiên Chúa trong ba sự chuyển động mà trong đó Kinh Thánh trình bày Mẹ là trọng tâm Mùa Vọng: Truyền Tin, Thăm Viếng và Giáng Sinh.

1. “Này tôi là tôi tớ Chúa”

Chúng ta sẽ bắt đầu bằng biến có Truyền Tin. Khi Mẹ Maria đến thăm bà Elizabeth thì bà đã đón tiếp Mẹ bằng một niềm vui lớn lao và khen ngợi Mẹ vì niềm tin của Mẹ khi nói, “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1:45). Điều tuyệt vời đã xảy ra tại Nazareth sau lời chào của sứ thần là việc Đức Maria “đã tin” và do đó Mẹ đã trở thành “mẹ của Chúa”. Không hoài nghi gì là từ “tin” nói đến câu trả lời của Mẹ Maria với thiên thần: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói" (Lc 1:38).

Trong vài lời đơn sơ này, hành động lớn lao và mang tính quyết định nhất của niềm tin đã diễn ra trong lịch sử. Câu trả lời của Mẹ Maria đại diện cho “đỉnh cao của mọi hành vi tôn giáo trước Thiên Chúa, vì nó diễn tả, ở mức cao nhất, cả sự sẵng lòng thụ động và sự sẵn sàng chủ động, khoảng trống sâu thẳm nhất vốn đi cùng với sự tròn đẩy cao cả nhất”.[1] Origen nói rằng việc ấy như thể Mẹ Maria nói với Thiên Chúa, “Này đây, con là tấm bảng để được viết: xin Người Viết hãy viết điều gì Ngài muốn, xin Chúa của mọi sự hãy thành sự cho con như Ngài muốn” [2]. Ông so sánh Mẹ Maria với tấm bảng bằng sáp được sử dụng thời của ông. Ngày nay, chúng ta có thể nói rằng Mẹ Maria đã dâng chính bản thân Mẹ cho Thiên Chúa như là một trang giấy sạch mà Thiên Chúa có thể viết bất cứ điều gì Ngài muốn.

Trong một tích tắc sẽ tồn tại muôn đời và tồn tại trong vĩnh cửu, lời của Mẹ Maria là một lời của nhân loại và ‘tiếng vâng’ của Mẹ là lời thưa Amen của mọi công trình tạo dựng trước tiếng ‘có’ của Thiên Chúa” (K. Rhaner). Việc đó như thể là Thiên Chúa một lần nữa thách đố sự tự do được tạo nên qua Mẹ, mang lại cho sự tự do ấy một cơ hội cứu chuộc. Đây là ý nghĩa sâu của tình trạng tương đồng Eve-Mary (Eva – Maria), quá ý nghĩa đối với các Giáo Phụ và toàn bộ truyền thống. “Điều mà Eva đã buộc vào mình bằng sự không tin, thì Mẹ Maria lại tháo gỡ ra qua niềm tin của Mẹ”[3]

Từ những lời của Bà Elizabeth “Em thật có phúc vì đã tin” chúng ta để ý thấy rằng trước đó trong Tin Mừng thì tình mẫu tử thánh của Mẹ Maria không chỉ được xét đến với nghĩa thể lý, mà còn nhiều hơn thế nữa, theo nghĩa thiêng liêng, dựa trên niềm tin. Đây là điều mà chính Thánh Augustine đã đặt bản thân mình trên nền tảng này khi Ngài nói: “Đức Maria Trinh Nữ đã hạ sinh khi tin điều mà Mẹ đã cưu mang khi tin…Khi sứ thần nói, Mẹ, đầy tràn niềm tin (fide plena), khi cưu mang Đức Kitô trong tâm hồn Mẹ trước khi Mẹ cựu mang thật nơi cung lòng mình, đã trả lời: ‘Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin hãy thành sự cho tôi như lời sứ thần truyền’” Sự tròn đầy của niềm tin về phía Mẹ Maria đáp ứng với sự trọn đầy ân sủng về phía Thiên Chúa, fide plena trước gratia plena.

Một mình với Thiên Chúa

Thoạt nhìn, thì hành động đức tin của Mẹ Maria là dễ dàng và thậm chí có thể giả vờ. Mẹ sẽ trở thành một người mẹ của một vị vua sẽ trị vì đến muôn đời trong nhà Jacob, mẹ của Đấng Messiah! Chẳng lẽ đây không phải là giấc mơ của mọi thiếu nữ Do Thái sao? Nhưng đây đúng hơn là một lối lý luận kiểu con người và thế gian. Niềm tin thật sự không bao giờ là một đặc quyền hay một vinh dự; nó có nghĩa là chết đi một chút và điều này đặc biệt đúng về niềm tin của Mẹ Maria vào thời điểm đó.

Trước hết, Thiên Chúa không bao giờ cám dỗ và không bao giờ lấy ra một cách lén lút sự đồng thuận từ các con cái mình bằng việc che đậy những hệ luỵ đối với họ về điều mà họ sẽ đón nhận. Chúng ta có thể thấy điều này nơi mọi lời mời gọi lớn lao về phía Thiên Chúa. Ngài đã cảnh báo trước ông Jeremiah: “Họ sẽ chống lại con” (Gr 1:19), và với ông Ananias khi nói về Saul: “Thật vậy, chính Ta sẽ chỉ cho người ấy thấy tất cả những đau khổ người ấy phải chịu vì danh Ta” (Cv 9:16). Chả lẽ Ngài lại hành động khác chỉ với Mẹ Maria cho một sứ mạng như là của Mẹ? Dưới ánh sáng của Thần Khí vốn đi cùng với lời mời gọi của Thiên Chúa, thì chắc chắn Mẹ cảm nhận được rằng con đường của Mẹ sẽ không khác với con đường của tất cả “những người được chọn” khác. Thực vậy, cụ già Simeon đã sớm đưa điều này vào những lời tiên báo khi ông nói với Mẹ là một lưỡi gươm sẽ đâm thâu linh hồn Mẹ.

Nhưng ngay cả ở cấp độ thuần con người thì Mẹ Maria đã thấy bản thân Mẹ trong sự cô tịch hoàn toàn. Mẹ có thể giải thích với ai về điều đã diễn ra với Mẹ? Ai sẽ tin Mẹ khi Mẹ nói là đứa trẻ Mẹ đang cưu mang trong lòng là công việc của Chúa Thánh Thần? Đây là một điều chưa từng xảy ra trước đó và sẽ không bao giờ xảy ra lại nữa. Thật không hoài nghi gì Mẹ Maria đã biết rõ về điều mà luật đã chính xác đưa ra nếu các dấu hiệu về sự trinh tiết không được tìm thấy nơi người phụ nữ trẻ trong hôn nhân: Mẹ sẽ được đưa đến ngay của nhà cha của Mẹ và bị ném đá đến chết bởi người trong thành của mình (x. Đnl 22:20..).

Ngày nay chúng ta mau chóng để nói về mối nguy của niềm tin, và nhìn chung chúng ta có ý nói về mối nguy mang tính tri thức, nhưng Mẹ Maria lại đối diện với một mối nguy thật sự! Trong sách của mình về Mẹ, Carlo Carretto đã nói cho chúng ta về cách mà ông đi đến chỗ hiểu niềm tin của Mẹ Maria[4]. Khi ông sống trong sa mạc, nog đã nghe từ một vài người bạn người Tuareg của ông rằng một thiếu nữ ở trại tập trung đã được gả cho một người thanh niên trẻ nhưng cô đã không đến sống với anh ta vì cô còn quá trẻ. Carretto đã liên hệ sự thật này với điều mà Thánh Luca nói về Mẹ Maria. Vì thế, hai năm sau, khi thấy mình ở cùng một trại tập trung, ông đã hỏi về cô gái. Ông chú ý thấy một sự xấu hổ nhất định nơi những người trò chuyện với ông, và một người sau này trong số họ, đã bí mật tiếp cận ông, đưa ra một dấu chỉ cho ông: ông đưa tay lên cổ họng mình theo một nghĩa cử mang tính đặc thù của người Ả Rập khi họ muôn nói: “Cô ấy đã bị cắt cổ”. Người ta phát hiện rằng cô đã có một em bé trước khi kết hôn, cái chết của cô là cần thiết vì danh dự của gia đình. Rồi ông nghĩ lại về Mẹ Maria, về những cái nhìn không xót thương của những người dân Nazareth, của những cái nhéo mày như hiểu gì đó, và ông hiểu sự cô độc của Mẹ Maria, và cùng đêm hôm ấy ông đã chọn Mẹ là người bạn đồng hành của mình và là bà chủ niềm tin của ông.

Mẹ Maria là người duy nhất đã tin vào “tình hình đương thời”, có nghĩa là, Mẹ tin là trong khi biến cố diễn ra và trước bất cứ một sự minh xác nào bởi biến cố ấy hay qua lịch sử. Mẹ tin vào sự cô độc hoàn toàn. Chúa Giêsu nói với ông Thomas: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!" (Ga 20:29). Mẹ Maria là người đầu tiên đã tin mà không cần thấy. Trong một hoàn cảnh tương tự, hầu hết là trong sự vinh thắng và kinh ngạc, Kinh Thánh nói cho chúng ta rằng ông Abraham, một người đã được hứa là có một người con ngay cả khi ông đã lớn tuổi, “Ông tin Ðức Chúa, và vì thế, Ðức Chúa kể ông là người công chính” (St 15:6). Và với một sự vinh thắng lớn lao hơn biết bao mà giờ đây chúng ta có thể nói về niềm tin ấy của Mẹ Maria! Mẹ Maria đã tin vào Thiên Chúa, và việc đó đã được tính cho Mẹ như là sự công chính – hành động lớn lao nhất của sự công chính được thành toàn hơn bao giờ hết trên trái đất bởi một thọ tạo, sau hành động của Chúa Giêsu, Đấng chính là Thiên Chúa.

Thánh Phaolô nói rằng “ai vui vẻ dâng hiến, thì được Thiên Chúa yêu thương” (2 Cr 9:7), và Mẹ Maria đã thưa lên tiếng vâng của Mẹ cách vui vẻ. Động từ mà Mẹ Maria sử dụng để diễn tả sự ưng thuận của Mẹ và là từ được dịch thành tiếng fiat hay “xin hãy thành sự” là trong tâm trạng tối ưu (genoito) trong bản văn gốc. Động từ này không chỉ diễn tả một sự chấp nhận mang tính đầu phục đơn thuần mà là một lòng khao khát sống động. Việc ấy như thể là Mẹ đang nói, Tôi cũng đang khao khát với tất cả hữu thể của tôi điều mà Thiên Chúa đang khao khát; xin cho ước mong của Ngài được thành sự mau chóng. Thực vậy, như Thánh Augustine nói, trước khi cưu mang Đức Kitô nơi thân xác Mẹ thì Mẹ đã cưu mang Ngài nơi tâm hồn.

Mẹ Maria không sử dụng từ fiat tiếng La Tinh; Mẹ cũng không dùng từ Hy Lạp là genoito. Vậy thì Mẹ sử dụng từ nào hồi đó? Từ nào hay lối diễn tả nào? Một người Do Thái nói “xin thành sự” là gì? Họ nói “Amen!” Nếu chúng ta cung kính nỗ lực trở về với cụm ipsissima vox, đó chính xác là cụm từ Mẹ dùng – hay ít nhất là từ đã tồn tại tại thời điểm này trong nguồn Híp-ri mà Thánh Luca sử dụng – thì nó phải thực sự là từ “amen”. “Amen” – một từ Híp-ri có mà nguồn gốc của nó có nghĩa là vững chắc, ý nghĩa – được sử dụng trong phụng vụ nhu là câu trả lời trong niềm tin trước lời của Thiên Chúa. Mỗi lần trong bản Vulgate nói tiếng fiat, thì tiếng fiat xuất hiện ở cuối một số thánh vịnh (trong phiên bản Septuagint, thì genoito, genoito) tiếng gốc Híp-ri, tiếng mà Mẹ biết, là amen, amen!

Việc sử dụng từ “amen” nhìn nhận điều đã được nói như là chắc chắn, vững vàng, có giá trị, và mang tính ràng buộc. Việc dịch chính xác của từ ấy là khi đó là câu trả lời trước lời của Thiên Chúa là, “Việc là thế, thì xin cho nên như thế”. Nó cho thấy cả niềm tin và sự vâng phục; nó nhìn nhận rằng điều Thiên Chúa nói là thật và đầu phục Lời ấy. Đó là nói tiếng vâng trước Thiên Chúa. Đây là cách mà chính Chúa Giêsu sử dụng từ này: “Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Mt 11:26). Hơn nữa, Ngài chính là tiếng Amen được nhân hoá (x. Kh 3:14), và đó là lý do vì sao mà chúng ta thưa lên tiếng Amen qua Ngài, trước vinh quang của Thiên Chúa (x. 2 Cr 1:20). Cũng như tiếng fiat của Mẹ Maria đi trước tiếng fiat của Chúa Giêsu trong Vườn Gethsemane, thì tiếng amen của Mẹ đi trước tiếng amen của Chúa Con. Mẹ Maria cũng là một tiếng amen được nhân hoá trước Thiên Chúa.

Theo Dấu Vết Của Mẹ Maria

Dấu vết để lại trên mặt nước bởi một chiếc thuyền dễ thương đang dần dần lan ra cho đến khi nó tan biến đi và hoà vào với chân trời, nhưng nó khởi đầu với điểm của chính bản thân chiếc thuyền. Điều tương tự là đúng về dấu vết của những người tín hữu là những người hình thành nên Giáo Hội. Nó bắt đầu tại một điểm nhất định, và điểm này là niềm tin của Mẹ Maria, tiếng fiat của Mẹ. Niềm tin, cùng với người chị em của nó, niềm hy vọng, là điều duy nhất không bắt đầu với Đức Kitô mà với Giáo Hội, và do đó với Mẹ Maria, Đấng là thành viên đầu tiên theo trật tự thời gian và tầm quan trọng. Chúa Giêsu không thể là chủ thể của niềm tin Kitô Giáo vì Ngài là đối tượng của niềm tin này. Thư Gửi Tín Hữu Do Thái đã mang lại cho chúng ta một danh mục những người có niềm tin: “Bởi niềm tin mà Abel…Bởi niềm tin mà Abraham…Bởi niềm tin mà Moses” (Dt 11:4 tt). Chúa Giêsu không được gộp vào! Chúa Giêsu được gọi là “Ðấng khai mở và kiện toàn lòng tin” (Dt 12:2), Đấng mà nơi Ngài niềm tin của chúng ta tuỳ thuộc vào ngay từ khởi đầu đến tận cùng, nhưng Ngài không phải là một trong những người tin, ngay cả đầu tiên.

Do đó qua sự thật thuần tuý của việc tin mà chúng ta thấy bản thân mình trong dấu vết của Đức Maria, và giờ đây chúng ta muốn nhìn sâu hơn nữa vào điều theo dấu vết của Mẹ thật sự nghĩa là gì. Từ bài đọc vốn có liên quan đến Mẹ Maria trong Kinh Thánh, chúng ta có thể thấy rằng Giáo Hội, ngay từ thời các Giáo Phụ, đã tuân theo một tiêu chú vốn có thể được diễn tả: Maria, vel Ecclesia, vel anima: “Mẹ Maria, hay đúng hơn là Giáo Hội, hay đúng hơn là linh hồn”. Ý nghĩa là điều đã được nói cách đặc biệt về Mẹ Maria trong Kinh Thánh thì có nghĩa mang tính phổ quát đối với Giáo Hội, và điều được nói một cách phổ quát về Giáo Hội có nghĩa mang tính cá nhân đối với mỗi người tin.

Giữ vững nguyên tắc này, giờ đây chúng ta hãy xem niềm tin của Mẹ Maria có gì để nói trước hết với toàn thể Giáo Hội và rồi đến mỗi người chúng ta. Cũng như chúng ta đã thực hiện với ân sủng, thì trước hết chúng ta hãy nhấn mạnh đến những áp dụng mang tính giáo hội hay thần học về niềm tin của Mẹ Maria và rồi những áp dụng mang tính cá nhân và mang tính khổ hạnh. Theo đó, đời sống của Mẹ sẽ không chỉ hữu ích trong việc phát triển lòng sùng kính riêng tư của chúng ta mà còn mang lại cho chúng ta một sự hiểu biết sâu hơn về Lời Chúa và các vấn đề của Giáo Hội.

Trước hết, Đức Maria nói với chúng ta về tầm quan trọng của niềm tin. Sẽ không thể có âm thanh hay âm nhạc nếu không có lỗ tai để nghe nó, bất luận là biết bao nhiều giai điệu hay những hợp âm tinh tế lấp đầy không khí thế nào. Sẽ không có ân sủng, hay ít nhất là ân sủng không thể hoạt động, nếu không có niềm tin để chấp nhận ân sủng. Cũng như mưa không thể làm nảy mầm bất cứ điều gì trừ khi nó rơi xuống đất vốn sẽ ngấm nước mưa, thì ân sủng cũng thế nếu nó không rơi xuống trên niềm tin. Chính qua niềm tin mà chúng ta nhạy bén với ân sủng. Niềm tin là nền tảng cho mọi sự; đó là điều đầu tiên và tốt nhất nơi các việc tốt lành. Việc làm của Thiên Chúa là các ông tin, Chúa Giêsu nói (x. Ga 6:29). Niềm tin quá quan trọng vì chỉ một mình nó đủ để duy trì sự nhưng không của ân sủng. Nó không nỗ lực để đảo ngược trật tự, biến Thiên Chúa thành một con nợ và con người thành chủ nợ. Đó là lý do vì sao niềm tin quá thân thương với Thiên Chúa, Đấng làm cho hâu như mọi sự lệ thuộc vào niềm tin trong các mối liên hệ của Ngài với con người.

Ân sủng và niềm tin: đây là cách mà hai trụ cột của ơn cứu độ được đặt để. Con người được ban tặng cho đôi chân để bước đi hay hai đôi cánh để bay. Tuy nhiên, đó không phải là hai điều song song, hầu như như thể là ân sủng đến từ Thiên Chúa và niềm tin đến từ chúng ta và rằng do đó ơn cứu độ tuỳ thuộc cách bình đẳng vào Thiên Chúa và chúng ta, vào ân sủng và sự tự do. Thiên đàng sẽ giúp một người nghĩ rằng ân sủng tuỳ thuộc vào Thiên Chúa nhưng niềm tin tuỳ thuộc vào tôi; cùng với Thiên Chúa và tôi sẽ mang lại ơn cứu độ! Một lần nữa chúng ta lại biến Thiên Chúa thành một con nợ, một cách nào đó tuỳ thuộc vào chúng ta và Đấng phải chia sẻ công đức và vinh quang với chúng ta. Thánh Phaolô đã bỏ hết mọi sự hoài nghi khi Ngài nói, “chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa” (Ep 2:8 tt). Cũng vậy hành động niềm tin của Mẹ Maria được thực thi bởi ân sủng của Chúa Thánh Thần.

Điều khiến chúng ta quan tâm bây giờ là rọi ánh sáng trên một vài khía cạnh của niềm tin Đức Maria vốn có thể dẫn Giáo Hội ngày nay đến một niềm tin lớn lao hơn. Hành động niềm tin của Mẹ Maria là rất mang tính cá nhân, độc đáo, và không bao giờ có thể lặp lại được. Đó là một sự tín thác vào Thiên Chúa và một sự phó thác hoàn toàn bản thân Mẹ cho Thiên Chúa. Đó là một quan hệ cá vị con người với con người. Điều này được gọi là niềm tin mang tính chủ quan.  Sự nhấn mạnh vào việc tin hơn là vào điều được tin. Nhưng niềm tin của Mẹ Maria cũng rất mang tính khách quan. Mẹ không tin vào một Thiên Chúa mang tính cá nhân, chủ quan, tách ra khỏi mọi sự, Đấng tự mạc khải chính Ngài chỉ cho một mình Mẹ nơi kín ẩn. Thay vào đó, Mẹ tin vào một Thiên Chúa của các Tổ Phụ, Thiên Chúa của dân Mẹ. Mẹ thấy ở nơi Thiên Chúa là Đấng tự mạc khải chính Ngài cho Mẹ là Thiên Chúa của những lời hứa, Thiên Chúa của Abraham và các dòng dõi của ông. Mẹ khiêm tốn cảm thấy là thành phần của đông đảo những người tin và trở thành người tin đầu tiên của giao ước mới, cũng như Abrham là người tin đầu tin của giao ước cũ. Lời Ca Ngợi Khen Magnificat là đầy tràn niềm tin này dựa trên Kinh Thánh và những tham chiếu về lịch sử dân của Mẹ. Thiên Chúa của Mẹ Maria là một Thiên Chúa có những nét đặc thù kinh thánh rõ rệt: Đức Chúa, Đấng Toàn Năng, Đấng Thánh, Đấng Cứu Độ. Mẹ Maria lẽ ra đã không tin vào sứ thần nếu vị này mạc khải một Thiên Chúa khác cho Mẹ, Đấng mà Mẹ không thể nhận ra là Thiên Chúa của dân Israel của Mẹ. Cũng thế trong đời sống bề ngoài của mình Mẹ Maria đã rập khuôn theo niềm tin này. Mẹ tự đặt bản thân Mẹ vào hết mọi điều mà Lề Luật đưa ra: Mẹ đã cho con đi cắt bì, Mẹ đã dâng Ngài lên đền thờ, Mẹ trải qua nghi thức thanh tẩy, và Mẹ đi lên Jerusalem để dự Lễ Vượt Qua.

Có một bài học lớn nơi tất cả điều này dành cho chúng ta. Niềm tin, giống như ân sủng, đã trải qua nhiều thế kỳ một hiện tượng phân tích và chia rẽ, để chúng ta có nhiều vô số các hình thức và hình thức phụ về niềm tin. Những anh em Tin Lành của chúng ta chẳng hạn, mang lại nhiều giá trị cho khía cạnh đầu tiên – mang tính khách quan và các nhân – của niềm tin. Luther đã viết, “Niềm tin là một sự tín thác sống động và can đảm vào ân sủng của Thiên Chúa”; đó là một “sự tin tưởng vững chắc”. Trong một số khuynh hướng của Đạo Tin Lành, như trong hệ phái Mộ Đạo, nơi mà khuynh hướng này được thực hiện đến cực độ, các tín lý và những điều gọi là sự thật của niềm tin lại có rất ít tầm quan trọng. Một thái độ nội tâm mang tính cá nhân hướng về Thiên Chúa hầu như đang thắng thể cách đặc biệt.

Thay vào đó, trong truyền thống Công Giáo và Chính Thống Giáo, vấn đề về niềm tin đúng và chính thống vẫn luôn mang tầm quan trọng ngày từ thời xa xưa. Vấn đề về việc đâu là điều cần tin đã nhanh chống chiếm ưu thế qua khía cạnh chủ quan và cá nhân của việc tin, có thể nói, qua hành động của niềm tin. Những luận thuyết của các Giáo Phụ được gọi là “Về Vấn Đề Niềm Tin” (De fide) thậm chí không đề cập niềm tin như là hành động mang tính chủ quan hay việc tín thác và phó thác, nhưng chúng liên quan đến việc xác định những sự thật cấn phải tin trong sự hiệp thông với toàn thể Giáo Hội trong sự đối nghịch lại với những người dị giáo.

Sau phong trào Cải Cách và như là một sự phản ứng đối với sự nhấn mạnh đơn phương về niềm tin – niềm tín thác, thì khuynh hướng này trở nên được nhấn mạnh hơn nữa trong Giáo Hội Công Giáo. “Việc tin” về nguyên tắc có nghĩa là gắn liền với niềm tin của Giáo Hội. Thánh Phaolô nói rằng con người tin bằng tâm hồn và ngươi ấy tuyên xưng bằng môi miệng (x. Rm 10:10), nhưng việc xưng thú niềm tin đúng đã chiếm ưu thế so với việc tin bằng tâm hồn.

Trong trường hợp này cũng vậy, Đức Maria mời gọi chúng ta một lần nữa tìm lại “sự toàn thể” vốn phong phú hơn nhiều và tuyệt vời hơn nhiều so với phần mang tính đơn lẻ. Một niềm tin mang tính chủ quan đơn thuần, một niềm tin vốn là sự phó thác cho Thiên Chúa ở nơi lương tâm nội tại của con người, thì chưa đủ. Thật dễ dàng để giảm thiểu Thiên Chúa thành một phương thế của riêng một người theo cách này. Điều này xảy ra khi chúng ta hình thành ý tưởng chúng ta về Thiên Chúa, dựa trên khung hẹp, và rồi gắn với điều này bằng tất cả sức mạnh của chúng ta, thậm chí mang tính cuồng tín, mà không nhận biết rằng chúng ta tin vào bản thân nhiều hơn là vào Thiên Chúa và rằng niềm tín thác không lay chuyển của chúng ta vào Thiên Chúa chẳng là gì so với niềm tín thác của chúng ta vào chính bản thân mình.

Tuy nhiên, một niềm tin thuần tuý mang tính khách quan và tín điều thì cũng không đủ, nếu niềm tin này không dẫn đến một mối quan hệ cá vị Tôi-bạn gần gũi với Thiên Chúa. Nó có thể dễ dàng trở thành một đức tin chết, niềm tin qua người thứ ba hay tổ chức, vốn sẽ thất bại ngay khi có khủng hoảng, bất luận lý do là gì, giữa niềm tin của một người và mối quan hệ cá nhân của một người với tổ chức của Giáo Hội. Bằng cách này, một người Kitô Hữu có thể dễ dàng đạt tới tận cùng đời mình mà chưa bao giờ thực hiện một thực hành niềm tin mang tính cá vị và tự do, mà chỉ điều đó mới có thể biện minh cho danh xưng “tín hữu”.

Do đó, thật cần thiết để tin cách cá vị, nhưng trong sự hiệp thông với Giáo Hội; chúng ta phải tin trong sự hiệp thông với Giáo Hội, nhưng cách cá nhân. Niềm tin mang tính tín lý của Giáo Hội không xuất phát từ niềm tin cá nhân hay từ sự tự phát trong việc tin, thay vào đó, niềm tin này duy trì niềm tin cá nhân và giúp cho chúng ta biết và đón nhận một Thiên Chúa lớn lao cách bao la hơn là Thiên Chúa của riêng kinh nghiệm hạn hẹp của chúng ta. Thực vậy, sẽ không một ai là người có thể đón nhận qua hành động tin của riêng mình tất cả mọi điều được biết về Thiên Chúa. Niềm tin của Giáo Hội giống như là một chiếc ống kín góc rộng, mà trong một khung cảnh cụ thể, sẽ làm cho có thể chụp được một cảnh rộng hơn nhiều so với khung cảnh được chụp từ một ống kính đơn giản. Trong sự hiệp nhất bản thân tôi với niềm tin của Giáo Hội, tôi biến niềm tin của tất cả mọi người đi trước tôi thành của riêng tôi: niềm tin của các tông đồ, các vị tử đạo, các Tiến Sĩ Hội Thánh. Các vị thánh, vì các vị không thể mang niềm tin về trời với các vị, nơi các vị không cần niềm tin nữa, để lại trong di sản cho Giáo Hội.

Những lời “Tôi tin Thiên Chúa là Cha Toàn Năng” chứa đựng sức mạnh không thể nào tả nổi. Cái “Tôi” nhỏ bé của tôi hiệp nhất và hoà cùng với “Cái Tôi” lớn lao của toàn bộ thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô, và hiện diện, làm cho âm thanh trở nên mạnh mẽ hơn là tiếng gầm của biển và làm cho mọi nền tảng của sự ngự trị của bóng tối bị rung chuyển.

Chúng ta cũng hãy tin!

Giờ đây chúng ta hãy tiếp tục xét đến những áp dụng mang tính cá nhân và khổ hạnh vốn xuất phát từ niềm tin của Mẹ Maria. Sau khi xác nhận trong bản văn được đề cập ở trên là Mẹ Maria, “đầy ân sủng, đã hạ sinh khi tin điều mà Mẹ đã xác nhận là tin”, Thánh Augustine giải thích điều Ngài có ý muốn nói: “Mẹ Maria đã tin và điều mà Mẹ tin được thành toàn nơi Mẹ. Chúng ta cũng hãy tin như thế là điều đã thành toàn nơi Mẹ cũng sẽ là lợi thế của chúng ta”.

Chúng ta cũng hãy tin! Sự chiêm ngắm niềm tin của Mẹ Maria mời gọi chúng ta đổi mới, trên hết, hành động tin và phó thác cho Thiên Chúa mang tính cá nhân của chúng ta. Đó là lý do vì sao thật quá quan trọng để nói với Thiên Chúa, một lần trong đời, xin cho điều đó thành sự, fiat, như Mẹ Maria đã thực hiện. Đây là một hành động được gói vào trong mầu nhiệm vì nó có liên quan đến ân sủng và đồng thời sự tự do; đó là một hình thức thụ thai. Linh hồn không thể thực hiện việc này một mình; do đó, Thiên Chúa giúp mà không lấy đi sự tự do.

Vậy thì chúng ta phải làm gì? Câu trả lời thật đơn giản: sau khi cầu nguyện, để lời cầu nguyện của chúng ta không còn hời hợt, thì hãy nói với Thiên Chúa, khi dùng mọi lời mà Mẹ Maria dùng: Này con đây, con là tôi tớ của Chúa: xin hãy thành sự cho con như lời Ngài! Con đang nói amen, vâng, Thiên Chúa của con, trước toàn bộ kế hoạch của Ngài. Con trao cho Chúa bản thân con!

Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng Mẹ Maria thưa lên lời fiat cách sẵn lòng và vui tươi. Biết bao nhiêu lần chúng ta thường lặp lại lời ấy với sự thoái thác kín ẩn nghèo nàn và, miệng môi mím chặt, càm ràm, “Nếu điều đó là không thể tránh khỏi, thì vâng, xin cho ý Chúa thành sự!” Mẹ Maria dạy chúng ta nói lời ấy theo một cách khác. Khi biết rằng ý muốn của Thiên Chúa là nhất định tuyệt vời và phong phú hơn trong những lời hứa so với bất cứ một kế hoạch riêng nào của chúng ta, và khi biết rằng Thiên Chúa là tình yêu vô biên và nuôi dưỡng “các kế hoạch cho phúc lợi chứ không phải sự dữ cho chúng ta” (x. Gr 29:11), chúng ta hãy nói, đầy lòng khao khát và hầu như là không nhẫn nại, như Mẹ Maria đã nói: Xin cho ý muốn yêu thương và bình an của Chúa được thành toàn nơi con, ôi lạy Thiên Chúa!

Bằng cách này ý nghĩa đời sống con người và phẩm giá cao quý nhất của nó được thành toàn. Để nói vâng, amen, với Thiên Chúa thì không làm giảm thiểu phẩm giá con người, như người hiện đại thường nghĩ; thay vào đó, tiếng này sẽ làm cho phẩm giá gia tăng. Và đâu là lời thay thế cho tiếng Amen này được thưa lên cùng Thiên Chúa? Bản thân triết học hiện đại, đặc biệt là dòng hiện sinh, đã minh hoạ cách rõ ràng nhu cầu nói tiếng Amen của con người, và nếu nó không được thưa lên cùng Thiên Chúa, Đấng là tình yêu, thì nó phải được nói với một điều gì khác vốn đơn giản là một sự cần thiết lạnh lùng và gây tê liệt: số phận hay định mệnh.

“Người công chính nhờ đức tin sẽ được sống”

Chúng ta được mời gọi để noi theo niềm tin của Mẹ Maria, nhưng đặc biệt là các vị mục tử và những vị bằng cách này hay cách khác được mời gọi để thông truyền niềm tin và Lời cho người khác. Người công chính, Thiên Chúa nói, sẽ nhờ niềm tin mà sống (x. Dt 2:4; Rm 1:17), và điều này là đúng theo một cách đặc biệt về các mục tử. Các linh mục của Ta, Thiên Chúa nói, sẽ sống nhờ niềm tin. Người ấy là người của niềm tin. “Sức nặng cụ thể” của một linh mục lệ thuộc vào niềm tin của vị ấy. Tầm ảnh hưởng của vị ấy trên người khác được quyết định bởi niềm tin của vị ấy. Nhiệm vụ của một linh mục hay mục tử nơi dân của mình không chỉ đơn giản là nhiệm vụ của việc phân phát các bí tích và sự phục vụ, mà còn là nhiệm vụ thắp lên niềm tin và là chứng nhân cho niềm tin. Vị ấy sẽ thật sự là người dẫn dắt và hướng dẫn các linh hồn đến với Thiên Chúa đến mức mà vị ấy tin và đã trao sự tự do của mình cho Thiên Chúa, như Mẹ Maria đã thực hiện.

Điều thiết yếu là người tín hữu ngay lập tức cảm nhận được nơi một linh mục hay một vị mục tử là liệu vị ấy có tin hay không, liệu vị ấy tin vào điều vị ấy nói và vào điều vị ấy cử hành hay không. Bất cứ ai tìm kiếm Thiên Chúa qua một vị linh mục sẽ nhận ra điều này ngay lập tức. Bất cứ ai không tìm kiếm Thiên Chúa qua vị linh mục có thể dễ dàng bị cám dỗ và, sau đó cám dỗ chính vị linh mục, làm cho vị linh mục cảm thấy quan trọng, khôn ngoan, và hợp thời đại, bất luận là sự thật vị linh mục cũng có thể xáo rỗng, giống như người không có ân sủng mà chúng ta đề cập trong phần trước. Ngày cả một người không có niềm tin là người đến gặp vị linh mục với một tinh thần tìm kiếm thì ngay lập tức hiểu sự khác biệt. Điều có thể gợi lên cho vị linh mục này và buộc vị này phải tra vấn lại lối sống của mình, nhìn chung, không phải là những cuộc thảo luận tài ba về niềm tin mà là chính bản thân niềm tin đơn sơ. Niềm tin có tính lây lan. Cũng như sự lây lan không diễn ra chỉ đơn giản bởi việc nói về hay nghiên cứu về virus mà bằng việc đi vào mối liên hệ với nó, và như vậy niềm tin cũng thế.

Sức mạnh của tôi tớ Chúa ở nơi sự tương xứng với sức mạnh niềm tin của người ấy. Đôi khi chúng ta khổ hay có lẽ phàn nàn với Thiên Chúa trong cầu nguyện vì người ta bỏ Giáo Hội, họ tiếp tục phạm tội, và vì chúng ta nói và nói mà không có kết quả. Một ngày kia khi các tông đồ nỗ lực không thành công để trừ quỷ từ một cậu bé. Sau khi Chúa Giêsu đã trừ xong thì các môn đệ đến với Chúa Giêsu trong riêng tư và nói: “Tại sao chúng con không thể trừ nổi quỉ ấy?” Và Chúa Giêsu bảo họ: “Bởi vì anh em kém tin” (Mt 17: 19-20).

Và chúng ta đã nói, thế gian, giống như biển cả, bị khuấy động lên bởi sự xuất hiện của một chiếc thuyền đẹp vốn là sự xuất hiện của niềm tin, khởi đi từ Mẹ Maria. Chúng ta hãy là một phần của sự xuất hiện này. Cả chúng ta nữa hãy tin, để điều đã thành sự nơi Mẹ cũng sẽ được thành sự nơi chúng ta. Chúng ta hãy khẩn xin Mẹ với tước hiệu ngọt ngào Virgo fidelis: Đức Trinh Nữ trung tín thật thà, cầu cho chúng con.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Vatican News)