Skip to main content
ĐHY Gerhard Muller và ĐGH Phanxicô (CNS)

Bài Phỏng Vấn Đức Hồng Y Müller Về Amoris Laetitia, Dubia, và Vatican

Edward Pentin: Thưa Đức Hồng Y, tháng trước có tường thuật cho rằng kể từ năm 2013, thì không còn một hành động nào được thực hiện để chống lại các thần học gia bất đồng chính kiến. Điều này có thật không?

ĐHY Muller: Sự quan sát này là không đúng. Cách tiếp cận của Bộ Giáo Lý Đức Tin kể từ khi những thay đổi của Công Đồng Vatican thì trước hết là cổ võ đức tin – và thứ hai là bảo vệ đức tin. Trong một số trường hợp, chúng tôi hành động như một tòa án cho những vi phạm về đức tin và luân lý. Nhưng trong thời của tôi, có những trường hợp trước hết chúng tôi phải đối thoại với một số thần học gia để giải quyết các vấn đề một cách huynh đệ. Nhưng tôi nghĩ chẳng có một sự thay đổi tuyệt đối nào trong vai trò của bộ. Bộ vẫn phải tiếp tục bảo vệ đức tin trước những điều dị giáo, ly giáo và những sai phạm khác đối với sự hiệp nhất của Giáo Hội và tính thánh của các bí tích, tất cả đều theo hiến chế tông đồ Pastor Bonus (1988).

Edward Pentin: Vì vậy, ít nhất là về mặt công khai, chưa có những trường hợp những thần học gia bất đồng chính kiến bị kỷ luật một cách nào đó trong vòng 4 năm qua hay nhiều năm qua?

ĐHY Muller: Đã thường có những lời quở trách chúng tôi trong vòng năm qua, một điều thuộc về một quan điểm mang tính lỗi thời về Bộ Giáo Lý Đức Tin (CDF), vốn không thi hành điều tương tự đối với vai trò và công việc của bộ trong thời hiện đại. Có một nhóm gọi là những nhà hoạt động cấp tiến, những người đã đưa ra những lời tuyên truyền chống lại chúng tôi, nói rằng sự tồn tại của bộ là một sự trở lại với những ngày Bắt Bớ. Đây là những ám ảnh trở về thời những năm 68. Giờ đây cũng những người này nói họ đã thành công trong việc can thiệp vào Đức Giáo Hoàng “của họ”, rằng bộ đang không thi hành công việc của mình, nhưng điều này không đúng. Chúng tôi nói lên những vấn đề có liên quan đến những quan điểm và những thần học gia có vấn đề. Chẳng hạn, chúng tôi không thể ban hành nihil obstat trong một vài trường hợp, ít trường hợp.

Edward Pentin: Ngài có những trường hợp các nhà thần học đã bị kỷ luật trong vòng vài năm qua, có lẽ là những người mà chúng con chưa nghe biết đến?

ĐHY Muller: Không, tôi không thể nêu tên vì họ đang ở trong tình trạng bí mật thuộc giáo hoàng, nhưng cảm tưởng cảu tôi về tình hình trong những năm qua là chưa có bất cứ một sự thay đổi nào về vai trò của bộ.

Edward Pentin: Đã có nhiều bàn tán về việc bộ đang bị hạ thấp, thậm chí là bị cô lập, trong triều giáo hoàng này. Thay vào đó, Đức Thánh Cha yêu thích tư vấn các cố vấn của Ngài hơn, chẳng hạn như Đức Tổng Giám Mục Victor Fernandez, hiệu trưởng Đại Học Giáo Hoàng Argentina tại Buenos Aires. Vậy có phải những vị như thế này đang định hướng giáo lý, và liệu CDF đang ở bên lề?

ĐHY Muller: Tôi đã biết Đức Giáo Hoàng thân thiện với một số thần học gia, nhưng các vị ấy không thể tuyên bố là những người giải thích có thẩm quyền về Đức Giáo Hoàng. Nếu Đức Tổng Giám Mục Fernandez đưa ra một lời tuyên bố, chẳng hạn, thì đó chỉ là riêng tư. Lời đó chẳng có sức mạnh nào hơn là những lời tuyên bố của các giám mục khác – và dĩ nhiên là đối với toàn thể Giáo Hội, Ngài không có thẩm quyền về huấn quyền – và vì thế nó chẳng có thẩm quyền gì đối với tôi hơn bất cứ một tiếng nói thần học nào khác.

Edward Pentin: Nhưng khi Ngài viết một văn kiện như Amoris Laetitia, như có bằng chứng cho thấy, thì quan điểm của Ngài sẽ trở thành có thẩm quyền?

ĐHY Muller: Tôi không biết là liệu đức tổng giám mục ấy có phải là người viết chương 8 của Amoris Laetita không. Đó là một văn kiện của Đức Giáo Hoàng, chứ không phải của Victor Fernandez hay của bất cứ một ai khác. Các tài liệu mang tính huấn quyền là một sản phẩm của một tiến trình của một sự chuẩn bị mang tính thần học; và trong những thời gian trước chúng tôi đã được đưa ra những cái tên của các thần học gia là những người đã thực hiện bản nháp và đã thêm bất cứ một điểm hay những suy tư cho văn kiện. Nhưng cuối cùng, điều mang tính quyết định là thẩm quyền của Đức Giáo Hoàng. Một tông huấn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, và tất cả mọi điều Ngài nói có liên quan đến giáo lý, thì có thẩm quyền về huấn giáo. Điều đó mang tính trói buộc tùy thuộc mức độ của lời tuyên bố đặc biệt ấy. Nó không chứa đựng bất cứ một “giáo thuyết mới” nào, nhưng thay vào đó, một sự thể hiện giáo lý luôn luôn được giữ và dạy bởi Giáo Hội.

Trong Amoris Laetitia không có một giáo lý hay giải thích nào mới về một số điểm mang tính pháp lý về giáo lý, nhưng là một sự đón nhận giáo lý của Giáo Hội và các bí tích. Vấn đề duy nhất là việc áp dụng mang tính mục vụ của văn kiện này trong những hoàn cảnh ngoại thường. Đức Giáo Hoàng không thể thay đổi hoặc là giáo lý hoặc các bí tích. Điều Ngài muốn là giúp các đôi bạn trong những hoàn cảnh khó như là một vị mục tử tốt lành, nhưng theo lời của Thiên Chúa.

Edward Pentin: Ngài nói là Ngài không biết lý do vì sao Đức Giáo Hoàng không gia hạn thêm nhiệm kỳ của Ngài trong tư cách bộ trưởng, nhưng liệu đó có phải là vì có một làn sóng dị tính ở các cấp cao nhất, và Ngài đã không phù hợp với điều đó vì Ngài được coi là chính thống? Rồi Ngài có Amoris Laetitia và lời giải thích của Ngài về tông huấn này lại khác với những người là những cố vấn thân cận nhất của Đức Giáo Hoàng và, theo quan điểm về những nhận định của người ấy về vấn đề này, rất có thể là chính Đức Giáo Hoàng. Liệu đây có thể là lý do cho viết chấm dứt nhiệm kỳ của Ngài không?

ĐHY Muller: Tôi không biết vì tôi không nhận được bất cứ một lời giải thích nào. Đức Giáo Hoàng chỉ gặp tôi trong một cuộc tiếp kiến riêng theo thường lệ, vào cuối nhiệm kỳ của tôi, để thảo luận công việc của bộ, và nói, “Vậy là được rồi”. Tất cả những lời giải thích khác trên truyền thông đại chúng là những lời phỏng đoán”. Đúng thật là có thời gian trước Đức Giáo Hoàng đã cho tôi biết rằng một số “bạn hữu” của Ngài đã nói rằng “Đức Muller là một kẻ thù của Đức Giáo Hoàng”. Tôi cho rằng đây là những lời tố cáo vô căn cứ, và sự vô căn cứ của những người tố cáo cho thấy rằng họ không chuẩn bị để có những luận điểm của họ trước ánh sáng của một cuộc thảo luận trung thực và cởi mở. Việc sử dụng những thủ thuật bất chính như thế luôn luôn bất lợi cho đời sống của Giáo Hội và cho hoạt động của Giáo Triều. Nhìn vào lịch sử, chúng ta thấy các tòa án thường bị tiêm nhiễm bởi những kiểu động cơ như thế, và đây là một điều mà chính Đức Giáo Hoàng đã lên án rất mạnh mẽ như là một sự dữ tồn tại lâu dài tại Giáo Triều Rome. Ngài đảm bảo với tôi rằng không có một sự tín nhiệm nào cho một kiểu ngồi lê như thế.

Vì thiện ích của Giáo Triều và Giáo Hội, cần phải có một cuộc đối thoại mở. Tôi phải tranh cãi lại hết mọi lời vu khống có nguồn gốc từ những bộ phận của báo giới, hay từ những nhóm vô hình và những người quan sát Vatican, và những nhóm vô danh này là “những người bạn” giả quanh Đức Thánh Cha là những người đã đặt vấn đề về lòng trung thành của tôi. Tất cả đời tôi trong tư cách là một linh mục, thần học gia và giám mục, tôi đã làm việc cho Nước Thiên Chúa và Giáo Hội của Ngài. Và trình bày tôi là một kẻ thù của Vị Kế Nhiệm Thánh Phêrô là hoàn toàn điên rồ và không công bằng.

Trong suốt các thời giáo hoàng Thánh Gioan Phaolô II và Benedict XVI, trong tư cách là một thần học gia và một giám mục, tôi đã bị người ta tố cáo với một thái độ chống Rô-ma về việc quá gần gũi với Đức Giáo Hoàng và không giữ một khoảng cách cần thiết với Rô-ma. Chắc chắn sẽ là mỉa mai là cùng những người này hiện đang tố cáo tôi là một kẻ thù của Đức Giáo Hoàng. Đây rõ ràng là một hành xử mang tính cơ hội mà chúng ta nhìn thấy. Mối nguy lớn nhất của Đức Giáo Hoàng trong những ngày này là những kẻ cơ hội này, những người theo chủ nghĩa nghề nghiệp này và những người bạn giả này là những người đang không quan tâm đến thiện ích của Giáo Hội, và cho những lời ích tài chính và sự thăng tiến bản thân.

Edward Pentin: Ngài có nghĩ rằng Đức Giáo Hoàng đang được cố vấn cách nghèo nàn bởi những người quanh Ngài, hoặc việc bãi nhiệm Ngài là một sự thể hiện của ý muốn riêng Đức Giáo Hoàng?

ĐHY Muller: Tôi không biết. Như tôi đã nói, tôi không nhận được lời giải thích cho việc bãi nhiệm tôi, và sẽ thật là sai lầm khi phỏng đoán. Nhưng tôi vẫn kiên vững trung thành với Đức Giáo Hoàng Phanxicô, một vị mà tôi tận hiến bản thân tôi trong vai trò là một người hợp tác trung thành. Trong năm tưởng niệm cuộc cách mạng Tin Lành này chống lại quyền tối thượng của Giáo Hội La Mã, tôi đã cho xuất bản một nghiên cứu mang tính lịch sử và thần học về sứ mạng của Đức Giáo Hoàng trong tư cách là Đấng Kế Vị Thánh Phêrô, và vì thế điều đó không phải như thể là tôi không ý thức về tầm quan trọng của vị giáo hoàng trong Giáo Hội của Đức Giêsu Kitô. Điều quan trọng là chúng ta phải yêu mến Giáo Hội vì Giáo Hội là Hiền Thê của Đức Kitô. Yêu mến Giáo Hội cũng có nghĩa là đôi khi chúng ta phải chịu đau khổ cùng với Giáo Hội, vì ở nơi các chi thể của mình thì Giáo Hội không hoàn hảo, và vì thế chúng ta vẫn phải trung thành bất chấp những thất vọng. Cuối cùng, đó là cách mà chúng ta xuất hiện trong đôi mắt của Thiên Chúa có ý nghĩa, hơn là cách mà chúng ta được con người nhìn đến.

Edward Pentin: Trong khi Ngài là người lãnh đạo CDF, có những báo cáo là bộ đã đưa ra những chỉnh sửa cho những bản thảo khác nhau các văn kiện của Đức Giáo Hoàng, đặc biệt là Amoris Laetitia, nhưng cũng cả tông huấn Evangelii Gaudium – Niềm Vui Tin Mừng, nhưng chúng đã bị phớt lờ?

ĐHY Muller: Chúng tôi không có quyền trong bộ để chỉnh sửa Đức Thánh Cha, điều đó rõ ràng, nhưng vẫn luôn thường là những bản thảo đầu tiên sẽ có lời nhận định chính thức từ bộ. Nói về Amoris Laetitia, tôi không biết ai đưa ra phiên bản cuối cùng, những chỉnh sửa cuối cùng hay biên tập.

Edward Pentin: Vậy việc đó có làm phiền Đức Hồng Y không khi những chỉnh sửa của Ngài đối với các văn kiện này bị phớt lờ?

ĐHY Muller: Không phải tất cả đều bị phớt lờ - Đức Thánh Cha không buộc phải chấp nhận những chỉnh sửa của chúng tôi, nhưng tôi không biết ai là người thực hiện tổng hợp các văn bản và trình nó lên cho Đức Thánh Cha. Nếu sự việc là thế, là cùng một người thực hiện bản thảo đầu tiên cũng đưa ra phiên bản cuối cùng và rằng việc họ quyết định liệu hay bằng cách nào chấp nhận những đề nghị hay không, thì điều đó đang không đúng phẩm trật. Đức Thánh Cha không thể một cách cá nhân thực hiện hết việc tổng hợp những đề xuất khác nhau từ bộ này hay bộ kia, từ các thần học gia. Ngài có quyền tự do để đề nghị bất cứ ai. Nếu bạn là một thần học gia của bộ và được Đức Thánh Cha đề nghị để đưa ra một bản thảo, thì bạn phải phân biệt giữa nền thần học riêng của bạn với điều sẽ diễn ra, để đó là một văn kiện thuộc huấn quyền của Đức Giáo Hoàng. Người ta phải khiêm nhường khi chuẩn bị một văn kiện, luôn luôn cẩn thận để không nắm lấy cơ hội để đưa ra quan điểm của cá nhân và ca ngợi bản thân hay để cho bản thân được vui mừng vì là nhà cố vấn nổi tiếng của Đức Giáo Hoàng. Càng nhiều trách nhiệm thì bạn càng phải kín đáo.

Edward Pentin: Trước sự suy giảm của bộ, tại sao bộ lại vẫn tiếp tục quan trọng? Nếu bộ bị tước mất vai trò chính của mình, thì tại sao bộ lại cần thiết?

ĐHY Muller: Trong bầu khí hiện tại trong Giáo Hội Công Giáo, có nhiều thành kiến đối với bộ, dựa trên những quan niệm sai lầm và những thứ truyền thuyết. Đối với một số người, việc đề cập đến CDF tạo nên những hình ảnh về những bộ phim Hollywood về Sự Bắt Bớ, thiêu đốt... Điều gì đá và không xảy ra trong nhiều thế kỷ trước là một vấn đề đối với các sử gia, nhưng chẳng có mối liên hệ gì với công việc của bộ ngày nay, khi công việc của bộ là hỗ trợ Đức Thánh Cha trong sứ mạng của Ngài vào năm 2017. Nhưng một số người không hiểu công nghị các hồng y là gì, và họ không hiểu giáo huấn thần học đặt nền tảng cho Giáo Triều Rome. Đó không chỉ thuần túy là một bộ máy hay văn phòng mang tính chức năng.

Các hồng y đại diện cho Giáo Hội Roma. Đức Giáo Hoàng là người đứng đầu Giáo Hội Roma, vốn là Giáo Hội chính yếu trong sự hiệp thông với tất cả mọi giáo phận, giám mục và các Giáo Hội trên khắp thế giới.

Trải qua thời gian, có sự phát triển của nhóm giáo sĩ Roma này để phục vụ không chỉ cho Giáo Phận Roma, mà còn trong sự phục vụ Đức Thánh Cha cho toàn thể Giáo Hội. Khi cơ cấu của những giáo sĩ này của Giáo Hội Roma phát triển, thì các hồng y hình thành hồng y đoàn; và giờ họ có một vai trò quan trọng trong việc bầu Đức Giáo Hoàng và việc là những cố vấn và cộng sự viên chính của Ngài.

Vào thế kỷ 16, có một sự chia rẽ về trách nhiệm, vì thế một nhóm được trao cho quyền giám sát về giáo lý, nhóm khác cho việc bổ nhiệm các giám mục tương lai, nhóm khác về phụng vụ. Nhưng khi chúng ta xem xét sứ mạng của Giáo Hội, thì rõ ràng là Bộ Giáo Lý Đức Tin là quan trọng nhất vì sức mạng của Giáo Hội là rao giảng Tin Mừng về sự thật mạc khải.

Đức Thánh Cha, trong tư cách là Kế Vị Thánh Phêrô, phải hiệp nhất Giáo Hội. Sứ mạng và nhiệm vụ của Ngài là loan báo, “Ngài là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16:16). Tất cả mọi chân lý bao gồm thực tại Kitô Học, trong mối liên hệ với Thiên Chúa Ba Ngôi và sự mạc khải của Đức Kitô cho chúng ta trong vai trò là Đấng Cứu Thế nhân loại. Do đó, bộ trở nên quá quan trọng đối với Đức Thánh Cha. Ngài hoàn toàn đúng đắn khi hoàn thành sứ mạng của Ngài với sự trợ giúp của Hội Thánh Roma trong hình thức đoàn 25 hồng y, một số giám mục, đội ngũ nhân sự và nhiều cố vấn này.

Edward Pentin: Điều đó đã mất, Ngài nghĩ sao?

ĐHY Muller: Điều đó không mất, nhưng tôi lo ngại là không còn ý tưởng rõ ràng về vị thế giáo hội của Giáo Hội Roma trong hình thức một bộ gồm các hồng y và Giáo Triều Roma. Một số nghĩ rằng cá nhân một vị giáo hoàng có thể làm bất cứ điều gì Ngài muốn vì Ngài có quyền tuyệt đối, nhưng điều đó không đúng.

Edward Pentin: Đức Giáo Hoàng là “Tôi tớ của các Tôi Tớ Thiên Chúa”.

ĐHY Muller: Ngài, trong vai trò là một Giáo Hoàng là người đứng đầu nhà nước Vatican thì chẳng có liên hệ gì với Đức Giáo Hoàng trong vai trò lãnh đạo hữu hình của Giáo Hội, nguyên tắc hiệp nhất của Giáo Hội trong chân lý mạc khải. Sự độc lập của Đức Giáo Hoàng về các thế lực trần thế là cần thiết cho sứ mạng của Ngài, nhưng Ngài không độc lập khỏi luật luân lý. Thực ra, Ngài là người đầu tiên giải thích luật luân lý.

Là người đầu, người cuối, người cao nhất, người giải thích quan trọng nhất về sự mạc khải ấy của Thiên Chúa ở nơi Chúa Giêsu Kitô, thì Ngài không phải là một người đơn độc, nhưng là lãnh đạo Giáo Hội Roma – và do đó, Ngài lệ thuộc vào sự hợp tác có phẩm chất và dự phần của Giáo Hội Roma theo hình thức các hồng y và các thánh bộ của Giáo Triều Roma.

Edward Pentin: Đức Hồng Y có nghĩ những hoa trái của việc giảm nhẹ CDF và giáo hoàng là lý do vì sao mà chúng ta thấy những hỗn loạn và sự bối rối này, các giám mục có các giải thích, theo một số nhà thần học lý luận, mang tính dị giáo về Amoris Laetitia không, chẳng hạn thế? Có phải vì sự ngu muội này, hay thiếu sự tôn trọng này, nếu đức hồng y muốn, về Giáo Hội là gì không?

ĐHY Muller: Tôi nghĩ người ta không được đổ cho Đức Giáo Hoàng về sự bối rối này, nhưng Ngài được Chúa Giêsu Kitô ủy quyền để vượt thắng điều đó. Đức Giáo Hoàng, trong tư cách là một giám mục của Giáo Hội tông đồ đầu tiên trong sự hiệp thông toàn thế giới của các Giáo Hội Công Giáo là nguyên lý vĩnh cửu và là nền tảng của sự hiệp nhất của Giáo Hội trong đức tin và trong sự hiệp thông của đức ái (Lumen Gentium, 18).

Edward Pentin: Đức Giáo Hoàng được biết đến là để ý sát sao đến truyền thông, và vì thế phải biết điều gì đang diễn ra. Do đó, nếu không phải trách nhiệm của Ngài để đưa điều này vào trật tự đúng, theo những lợi ích cho sự hiệp nhất của Giáo Hội, và rằng trách nhiệm đó hoàn toàn thuộc về Ngài, và chỉ một mình Ngài sao?

ĐHY Muller: Tôi không muốn phê bình Đức Giáo Hoàng, một cách công khai hay riêng tư. Nhưng tôi hoàn toàn tự do để nói điều tôi nghĩ là vì thiện ích của Giáo Hội. Tôi đã thực hiện một vài can thiệp tại bộ của tôi trong tư cách là bộ trưởng, mà trong đó tôi đã giải thích rằng cách giải thích duy nhất là thật và đúng về Amoris Laetitia – một văn kiện xét về tổng thể là rất tốt lành và ưu tiên cho tình vợ chồng – là cách giải thích chính thống, mà qua đó chúng tôi có ý muốn nói: Văn kiện này theo tinh thần của Kinh Thánh, Truyền Thống tông đồ và những quyết định rõ ràng về huấn quyền của Đức Giáo Hoàng và hàng giám mục, vốn hiện đang tiếp tục diễn ra cho đến giờ. Không một chỗ nào trong Amoris Laetitia được người tín hữu đòi hỏi để tin bất cứ điều gì vốn đi ngược với giáo lý vì tính bất khả phân ly là rất rõ ràng. Vấn đề duy nhất là liệu, trong một số trường hợp, tình vợ chồng thật sự tồn tại trong xã hội ngày nay, trong một nền văn hóa là nơi mà định nghĩa về vợ chồng là rát khác so với điều mà Giáo Hội đang giảng dạy hay không.

Edward Pentin: Vậy thì có ván đề là Đức Giáo Hoàng đang đưa ra những giải thích của Ngài có vẻ như trái lại với cách giải thích chính thống mà Ngài đề nghị, chẳng hạn như lá thư của Đức Giáo Hoàng gửi cho hàng giám mục Argentina và lời khen ngợi của Ngài đối với hàng giám mục Malta không?

ĐHY Muller: Trong trường hợp lá thư gửi cho hàng giám mục Argentina, nếu Đức Giáo Hoàng viết thư riêng và cá nhân, thì đó không phải là một văn kiện mang tính giáo lý.

Edward Pentin: Lá thư đã được đăng trên trang web của Vatican.

ĐHY Muller: Trang web của Vatican có một vài sức nặng, nhưng đó không phải là thẩm quyền huấn giáo, và nếu như bạn nhìn vào điều mà hàng giám mục Argentina viết trong bản hướng dẫn của các Ngài, thì bạn có thể giải thích điều này một cách chính thống.

Edward Pentin: Trở lại với CDF, Đức Hồng Y muốn thấy bộ này sẽ được quay trở mục đích đã được xác định của bộ? Ngài muốn bộ sẽ thực hiện thế nào dưới thời bộ trưởng mới, Đức Tổng Giám Mục Luis Ladaria?

ĐHY Muller: Về mặt thần học, thì Đức Tổng Giám Mục Ladaria và tôi tuyệt đối có cùng một sự hiểu biết về niềm tin và thần học Công Giáo, vì Ngài yêu thích các đại Giáo Phụ và các các thần học gia và có một khuynh hướng cho nền tảng của những câu Kinh Thánh, lời của Thiên Chúa, Truyền Thống tông đồ - cùng một nền tảng. Nhưng tôi hy vọng rằng vị thư ký và trợ lý cũng sẽ có cùng một sự hiểu biết này: để phục vụ một niềm tin chính thống, để phục vụ Đức Thánh Cha trong vai trò rất quan trọng của Ngài vì sự hiệp nhất của Giáo Hội và chân lý mạc khải. Khả năng thì quan trọng hơn tình bạn, và sự chân thành thì quan trọng hơn cả nhưng tham vọng. Tôi đã nói điều đó cách cá nhân với Đức Thánh Cha rằng thật đặc biệt quan trọng để các thành viên, cấp trên, và các cộng sự và các cố vấn của chúng tôi, trước hết là chính thống, có một khả năng thần học và phải có một đời sống đạo đức tốt, và một nền linh đạo sâu như các linh mục.

Edward Pentin: Vậy thì một kiểu chủ nghĩa cơ hội như thế có làm phiền Ngài không?

ĐHY Muller: Đức Thánh Cha, trong bài diễn văn Giáng Sinh thứ hai của Ngài với Giáo Triều, cho các hồng y đã nói về 15 căn bệnh của Giáo Triều một cách rất phổ quát. Nhiều trong số những người tham dự cảm thấy bị xúc phạm vì báo chí nói về các quan chức của Vatican như thể tất cả các vị đều là những người theo chủ nghĩa nghề nghiệp và cơ hội vậy, nhìn quanh chỉ thấy tiền và những dinh thự lớn v.v. Nhưng người ta phải không nên nói cách chung chung về những người hiện tại như thể họ là ngu xuẩn hay tội lỗi.

Những người theo chủ nghĩa nghề nghiệp và cơ hội phải không được cất nhắc, và người khác là những cộng sự có năng lực thì không nên bị loại trừ mà không có lý do hay bị trục xuất khỏi Giáo Triều. Điều đó không tốt. Tôi đã nghe biết từ một số cơ quan ở đây, rằng mọi người đang làm việc tại Giáo Triều là đang sống trong sự sợ hãi lớn lao. Nếu họ nói một lời phê bình nhỏ hay vô hại, thì một số gián điệp sẽ đưa những nhận định này trực tiếp lên Đức Thánh Cha, và tố cáo cách sai trái những người chẳng có một cơ hội nào để bảo vệ chính mình. Những người này, những người nói xấu và nói dối về người khác, là gây phiền toái và phá vỡ niềm tin tốt lành, thanh danh tốt lành của người khác mà họ gọi là anh em.

Tin Mừng và những lời của Chúa Giêsu là rất mạnh mẽ chống lại những người chối bỏ anh chị em họ và những người đang tạo ra bầu khí nghi ngờ này. Tôi đã nghe biết là không ai nói; mọi người có một chút sợ hãi vì họ có thể bị báo cáo. Đó không phải là hành vi của người trưởng thành, nhưng là hành vi của trẻ mẫu giáo.

Edward Pentin: Một nhân vật cao cấp của Giáo Hội, nói với con với điều kiện ẩn danh, gọi đó là “chế độ của sự kinh hãi”.

ĐHY Muller: Điều đó tương tự tại các phân khoa thần học – nếu bất cứ ai đưa ra bất kì nhận định hay câu hỏi nào về Amoris Laetitia, thì họ sẽ bị sa thải, và tương tự. Đó không phải là sự trưởng thành. Một sự giải thích nhất định về Ghi Chú 351 của văn kiện không thể là tiêu chí cho việc trở thành một giám mục. Một giám mục tương lai phải là một người làm chứng cho Tin Mừng, một người kế vị các tông đồ, chứ không phải là một người lặp lại những lời của một văn kiện của vị giáo hoàng mà không có sự hiểu biết trưởng thành về thần học.

Chúng ta phải phân biệt giữa điều là giáo lý chính thức của Giáo Hội, vai trò của Đức Giáo Hoàng, và điều Ngài nói trong những cuộc trò chuyện riêng. Những ý kiến riêng của Đức Giáo Hoàng cần phải được tôn trọng vì chúng là những ý kiến và lời của Đức Thánh Cha, nhưng không ai buộc phải chấp nhận nó một cách không phê bình mọi điều mà Ngài nói, chẳng hạn về các vấn đề chính trị hay khoa học. Đây là ý kiến riêng của Ngài, nhưng chẳng có liên hệ gì đến niềm tin Công Giáo của chúng ta, mà nhờ đó chúng ta được công chính trong ân sủng của Thiên Chúa.

Edward Pentin: Nói về Amoris Laetitia và nỗi sợ khi phê bình văn kiện này, và sự thiếu phúc đáp trước vấn đề dubia, thì đó không phải là một sự mỉa mai là điều đó đi ngược lại với mong muốn nói thẳng thắn và can đảm và đối thoại của Đức Giáo Hoàng sao?

ĐHY Muller: Mọi người trở thành giám mục, hồng y hay giáo hoàng thì phải học để phân biệt giữa những người chỉ trích là chống lại người khác và những người chỉ trích lại sứ mạng mà bạn có. Đức Thánh Cha, Phanxicô, phải biết rằng thật quan trọng khi người ta chấp nhận ý muốn của Ngài: giúp những người ở xa Giáo Hội, rời xa niềm tin của Giáo Hội, rời xa Chúa Giêsu Kitô, những người đã giúp họ...Việc thảo luận này không phải chống lại Ngài, cũng không chống lại ý định của Ngài, mà cần có sự làm rõ ràng hơn nữa. Cũng thế, trong quá khứ, chúng ta đã có những thảo luận về đức tin và việc áp dụng mục vụ đối với đức tin. Đó không phải là lần đầu tiên việc này xảy ra trong Giáo Hội, và vì thế tại sao lại không học từ những kinh nghiệm lâu năm của Giáo Hội và đừng cá nhân hóa và phân cực? Đó không phải là một lời chỉ trích cá nhân về Ngài, và mọi người phải học biết điều đó và tôn trọng trách nhiệm cao nhất của Ngài. Đây là một mối nguy lớn đối với Giáo Hội là một số nhóm thần học tự giới thiệu họ là những người bảo vệ đặc biệt cho sự giải thích đúng duy nhất về Amoris Laetitia. Họ cảm thấy họ có quyền lên án tất cả mọi người có quan điểm khác là xuẩn ngốc, khô cứng, lạc hậu, trung cổ...

Chẳng hạn, không ai có thể nói Đức Hồng Y Caffarra không hiểu bất cứ thứ gì về thần học luân lý. Đôi khi hành vi không phải Kitô Giáo lại được in trên L’Osservatore Romano, tờ báo bán chính thức của Vatican, hay được đăng vào những bài chính của truyền thông, tạo nên vấn đề và hùng biện. Điều này không thể giúp chúng ta trong hoàn cảnh này – chỉ có một sự thảo luận thần học sâu sắc mới có thể.

Edward Pentin: Liệu Ngài có nói là chúng ta chưa bao giờ có một Vị Giáo Hoàng như thế này, một người tạo ra một cách tiếp cận gây tranh cái với giáo lý này, phân biệt giữa giáo huấn và thực hành mục vụ, cũng như để cho quá nhiều những lời giải thích sai trái phát triển. Do đó, trong một bối cảnh như thế, liệu Ngài có nói rằng CDF còn cần thiết hơn bao giờ hết không?

ĐHY Muller: Ngài có một cách tiếp cận khác: Đức Gioan Phaolô II và các Giáo Hoàng Phaolô VI và Benedict XVI – các vị đã đáp ứng được những vấn đề hiện đại và khởi thủy của thế giới; các Ngài có những lời giải thích rất tốt. Ngài [Đức Giáo Hoàng Phanxicô] nghĩ là sự đóng góp của Ngài không phải bằng cách này, vì điều đã rõ là có một cách tiếp cận từ cái gọi là Thế Giới Thứ III. Người nghèo là điểm chính cho công cuộc Tân Phúc Âm Hóa, và Ngài muốn điều đó, đúng thật thế, và một ý muốn rất tốt lành là nỗ lực để vượt thắng sự chống lại này trong Giáo Hội. Đức Thánh Cha muốn nói không chỉ điều này hay điều kia được phép, mà dành nhiều tầm quan trọng hơn nữa cho những ý hướng tốt, sự tích cực, để nói rằng Tin Mừng cổ võ sự sống, không chỉ là chuyện phá thai, chẳng hạn.

Chúng ta có mối liên hệ không thể thiếu này giữa niềm tin và cuộc sống, ân sủng và tình yêu, chứ không phải là thuyết nhị nguyên giữa lý thuyết và thực hành. Đó là một cách tiếp cận Mác-xít để phân biệt giữa hai điều. Chúng ta đang không nói từ lý thuyết vì niềm tin không phải là một lý thuyết; niềm tin là sự hiệp nhất với Thiên Chúa trong lương tâm của chúng ta. Những kiểu của chúng ta không phải là lý thuyết và khuôn khổ, mà là sự thật và sự sống, cả hai món quà ân sủng, những hình thức của việc giao tiếp với Thiên Chúa trong Giáo Hội trong tư cách là Thân Mình của Đức Kitô. Do đó, việc thực hành mục vụ có nghĩa là đi đến một sự hiểu biết thật về điều mà Đức Kitô là mục tử và là vị mục tử tốt lành đang thực hiện cho chúng ta, dẫn chúng ta đến sự sống đời đời.

Edward Pentin: Đâu là những mối bận tâm nữa mà Ngài muốn nói đến, tại CDF và nhiều lãnh vực khác?

ĐHY Muller: Vai trò của CDF là rất quan trọng: Người đứng đầu và tất cả mọi cộng sự viên đều dành những cuộc phỏng vấn và những buổi nói chuyện để cổ võ đức tin. Đó là căn tính mới được hình thành bởi Đức Hồng Y Rojseph Ratzinger trong suốt thời gian dài của Ngài trong tư cách là bộ trưởng, và chúng tôi kh6ong thể đi về với cách tiếp cận tiền công đồng khi mà CDF là cơ quan bảo vệ quan liêu phía sau những bức tường của Vatican, và mọi người sợ phải nhận một lá thư từ bộ. Đó là hình thức cũ, và tôi hy vọng không có đường trở về với điều đó. Bộ phải mang lại cho Giáo Hội, đặc biệt các giám mục và thần học gia, những động lực và định hướng cho các thầy dạy của đức tin. Sự hỗ trợ tốt nhất cho Đức Thánh Cha ngày nay là một bộ cấp cao về giáo lý đức tin và luân lý hướng tới.

Edward Pentin: Và rồi nhiều người muốn thấy CDF trở thành một cơ quan bảo vệ về đức tin nhiều hơn, đặc biệt là ngày nay. Dường như thể là có một sự thiếu vắng thẩm quyền bảo vệ đức tin từ Vatican. Đức Hồng Y nói gì về điều đó?

ĐHY Muller: Tôi đã nỗ lực để tránh ấn tượng này. Tôi đã thực hiện nhiều bài nói chuyện trên khắp thế giới. Điều tôi mang lại là sự cổ võ đức tin này và tất cả mọi giáo huấn, bảo vệ đức tin, những vấn đề mới về giáo lý và những vấn đề luân lý, và đặc biệt những thách đố về đạo đức sinh học và những nỗ lực lớn lao này, chẳng hạn như ý thức hệ về phái, một điều hoàn toàn hủy diệt nền tảng của sự sống con người, gia đình và tương lai.

Edward Pentin: Nhưng thế còn về vấn đề tư tưởng mang tính thế tục và dị tính trong Giáo Hội và việc bảo vệ chính thống?

ĐHY Muller: Điều tôi có thể làm, tôi đã làm. Tôi hiểu vai trò của vị bộ trưởng trong tầm nhìn mới này được thể hiện bởi Đức Hồng Y Ratzinger rồi bởi vị kế nhiệm Ngài, Đức Hồng Y William Levada, và do đó Đức Benedict XVI đã bổ nhiệm tôi. Tôi hy vọng CDF giờ đây sẽ tiếp tục với việc cổ võ đức tin này. Điều mà chúng ta cần là một sự nỗ lực lớn lao cho sự thật về đức tin chứ không phải là một trận chiến để có nhiều quyền lực hơn trong toàn thể Giáo Hội và đặc biệt là tại Giáo Triều Roma.

Vấn đề của ngày nay không phải là về việc có nhiều quyền lực hơn đối với các quan chức của Giáo Hội, nhưng là chân lý của Thiên Chúa cho đời sống của tất cả mọi người. Đức Phaolô VI đã thực hiện một sai lỗi khi Ngài thay đổi vai trò của bộ, và nó đã trở nên một trong những bộ khác. Sự thật là CDF thì quan trọng hơn các bộ khác, không phải vì các thành viên của bộ tự coi họ là tốt hơn quyền lực hơn người khác, mà vì nền tảng của Giáo Hội không phải là chính trị, mà là đức tin. Quốc vụ khanh có nhiệm vụ tổ chức các tòa khâm sứ, làm việc vì hòa bình và tự do giữa các nhà nước, vì công bằng xã hội và như thế. Đó là một vai trò rất quan trọng, nhưng tuy nhiên, Giáo Hội không phải là một tổ chức chính trị; đó cũng không phải là một tổ chức xã hội; đó không phải là một tổ chức phi chính phủ. Đức Thánh Cha nhấn mạnh trong mọi lúc rằng chúng ta là một dấu chỉ của một sự hiệp nhất trọn vẹn giữa Thiên Chúa và con người trên nền tảng của niềm tin chân thật, niềm hy vọng, tình yêu, và không một ai có thể thay đổi điều đó.

Edward Pentin: Có những lời đồn đại rằng CDF có hồ sơ về Đức Tổng Giám Mục Fernandez vì nền thần học của Ngài là có vấn đề. Đức Hồng Y có biết về điều này?

ĐHY Muller: Tôi không; điều đó trước thời gian của tôi. Có lần, trong một bài phỏng vấn với Corrierre della Sera (2015), Ngài đã phê bình tôi công khai, nói rằng người bộ trưởng chẳng có gì để nói, rằng Đức Giáo Hoàng là bạn của Ngài, Ngài là một người giải thích thật, rằng Đức Giáo Hoàng đã được soi sáng trực tiếp bởi Chúa Thánh Thần. Nhưng tôi chưa bao giờ đọc được rằng Đức Thánh Cha được soi sáng trực tiếp bởi Chúa Thánh Thần trong sự hiểu biết về mạc khải mới. Đức Giáo Hoàng chỉ được Chúa Thánh Thần trợ giúp cho sự giải thích đúng về mạc khải của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Ngài và các giám mục là những người cộng tác con người trong viện thông truyền Mạc Khải, vốn hoàn toàn được trao ban ở nơi Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể của Thiên Chúa, nhưng họ không có bất cứ một mạc khải nào khác.

Các Tin Mừng là những lời của con người được gợi hứng bởi Chúa Thánh Thần, nhưng điều đó không loại trừ sự hợp tác mang tính con người thật sự là các Thánh Sử. Nền thần học Công Giáo không nói về “sự mạc khải của huấn quyền của Giáo Hoàng và các giám mục”. Các tông đồ nghe những lời của Chúa Giêsu – đó là một trung gian mang tính con người về bản chất, và vì thế sự hợp tác của Giáo Hội là hoàn toàn cần thiết. Chắc chắn đức tin được Chúa Thánh Thần trao ban, nhưng qua trung gian của việc phúc âm hóa. Không ai có thể tin trừ khi nghe được bằng tai con người những lời của Thiên Chúa.

Edward Pentin: Khi một số những người cố vấn của Đức Giáo Hoàng thường nhắc đến Chúa Thánh Thần để biện minh cho những lập trường của họ, hàm ý rằng nếu ai đó không hiểu điều đó, thì người đó đang không hiểu công việc của Chúa Thánh Thần, liệu đây là một khuynh hướng nguy hiểm?

ĐHY Muller: Tôi e là có một sự hiểu lầm mang tính Hiện Xuống về vai trò của Chúa Thánh Thần. Nơi Ngôi Lời Nhập Thể của Thiên Chúa, nơi Con Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô, chúng ta được ban hết mọi ân sủng và chân lý. Chúa Thánh Thần làm hiện thực hóa sự mạc khải trọn vẹn về giáo lý, các bí tích của Giáo Hội. Đức Thánh Cha đóng một vai trò rất quan trọng ở đây trong Truyền Thống tông đồ này, nhưng không phải là duy nhất. Giáo huấn của Ngài được điều khiển bởi lời của Thiên Chúa trong Kinh Thánh và Truyền Thống giáo lý của Giáo Hội. Huấn quyền và tất cả mọi người tin đều được Chúa Thánh Thần hỗ trợ trong sự hiện thực hóa sự mạc khải đầy đủ và trọn vẹn, nhưng họ sẽ không nhận bất cứ một mạc khải công nào mới như một phần của depositum fidei, như đã được Công Đồng Vatican II xác định (Lumen Gentium, 25).

Không một ai có thể yêu cầu một người Công Giáo tin vào một giáo lý vốn rõ ràng là trái với Kinh Thánh, Tông Truyền và các định nghĩa giáo lý của các Giáo Hoàng và các công đồng theo nghĩa đức tin và luân lý. Điều cần thiết là một sự vâng phục tôn giáo, chứ không phải là một niềm tin mù quáng, đối với Đức Giáo Hoàng và các giám mục, và chẳng có gì đối với các bạn hữu riêng và cố vấn riêng.

Những người này phải nói bằng lý luận của họ, và họ không được phép yêu cầu bất cứ một sự tôn trọng nào cho thẩm quyền huấn giáo tự giả định của họ. Chúng ta không chỉ tin mọi điều vì một Giáo Hoàng dạy họ, mà vì những sự thật này đã bao gồm trong Mạc Khải (x. Công Đồng Vatican II, Dei Verbum, 10).

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ NCR)