Skip to main content
Chúa Giêsu Chịu Nạn (Pixabay)

ĐGM Robert Barron - Vì Sao Việc Chúa Giêsu Là Ai Lại Quan Trọng Thế?

Tôi đã đọc, với cả lợi ích và sự hứng khởi, cuốn sách The Incarnate Lord: A Thomistic Study in Christology của Thomas Joseph White. Cha White, một trong những người sáng giá nhất của thế hệ những nhà diễn giải Tôma, khám phá nhiều chủ đề trong cuốn sách này – mối quan hệ giữa nhân tính và thần tính của Chúa Giêsu, liệu là Chúa có kinh nghiệm được tầm nhìn diễm phúc không, một ý nghĩa thần học về tiếng kêu khóc của Đức Kitô trên thập giá, sự đi xuống Âm Ty của Ngài... – nhưng vì mục đích của bài viết này, tôi muốn tập trung vào chủ đề có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh thần học và giáo lý ngày nay. Cha White cho rằng truyền thống xưa về Kitô Học, với nguồn gốc của nó trong các bản văn Tin Mừng và Thư của Phaolô, hiểu được Chúa Giêsu về mặt bản thể, có thể nói rằng, theo nghĩa về sự hiện hữu nền tảng hay căn tính hiện sinh của Ngài; bất luận là Kitô Học hiện đại và đương thời đang có xu hướng hiểu về Chúa Giêsu theo nghĩa tâm lý học hoặc lý luận. Và qua sự khác biệt này dường như là, prima facie, đúng hơn là bí mật, thì điều này có một ý nghĩa lớn lao cho việc rao giảng, dạy dỗ và truyền giáo của chúng ta.

Trong một cảnh nổi tiếng tại Caesarea-Philippi, Chúa Giêsu quay sang các Tông Đồ của Ngài và hỏi: “Người ta bảo Thầy là ai?” Ngài không hỏi người ta nói gì về việc giảng của Ngài hay việc làm phép lạ của Ngài hay tác động của Ngài lên nền văn hoá là gì; Ngài họi họ nói Ngài là ai. Tin Mừng Thánh Gioan khởi đầu bằng một sự xác quyết mạnh mẽ khi nói, không phải về giáo huấn của Chúa, mà là về sự hiện hữu của Người: Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa...và Ngôi Lời đã trở thành xác phàm và ở giữa chúng ta”. Trong thư gửi cho Phi-líp-phê, Thánh Phaolô viết: “Dù Ngài vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng Chúa Giêsu không duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa một điều có thể duy trì”, từ đó hàm ý về một căn tính bản thể giữa Chúa Giêsu và Thiên Chúa của Israel.

Tiếp theo sau những dạy bảo này – và có nhiều điều khác trong Tân Ước – thì truyền thống thần học tiếp tục nghiên cứu về bản thể của Đấng Sáng Lập. Các công đồng từ Nicea cho đến Chalcedon đã thiết lập công thức những tuyên xưng rõ ràng hon bao giờ hết về sự hiện hữu, bản tính, và con người của Chúa Giêsu, và các thần học gia quan trọng nhất của những thế kỷ đầu – Origen, Irenaeus, Gregory Nyssa, Maximus the Confessor, Augustine v.v – đã không mỏi mệt nghiên cứu về cùng những vấn đề. Những quan tâm này cùng với sự hiện hữu của Chúa Giêsu cho thấy, bằng cách nào đó, một điểm lớn của sự phân chia ranh giới giữa Kitô Giáo và các tôn giáo lớn trên thế giới. Các Phật Tử thì tất cả đều yêu thích giáo huấn của Đức Phật, nhưng họ ít hay nhiều thờ ơ với bản thể của Đức Phật; không một người Hồi Giáo tự trọng nào lại lo lắng về việc tạo thành hiện sinh của Muhammad; và không một người Do Thái nào lại bị xâm chiếm với “sự hiện hữu” của Mô-sê hay Abraham. Cha White chỉ ra rằng việc thực hành được tôn trọng theo thời gian về nghiên cứu bản thể có liên quan đến Chúa Giêsu xuất hiện như là một kiểu đỉnh cao với lời giảng dạy rất tỉ mỉ của Thánh Tôma Aquinas trong Thời Trung Cổ Đỉnh Cao.

Tuy nhiên, khởi đi trong thế kỷ 18 với tư tưởng của Friedrich Schleiermacher, thì Kitô Học mang lấy một bước ngoặt mang tính quyết định. Khi nỗ lực đưa ra những tuyên bố về niềm tin Kitô Giáo một cách thông thái hơn cho đọc giả hiện đại, Schleiermacher giải thích Sự Nhập Thể theo nghĩa mối quan hệ của Chúa Giêsu và sự ý thức của Thiên Chúa. Đây là một lời tuyên bố đặc biệt rõ ràng về lập trường của ông: “Do đó, Đấng Cứu Độ, thì giống như tất cả mọi người xét về căn tính của bản tính con người, nhưng tách biệt ra khỏi tất cả con người bởi sức mạnh liên lỉ của ý thức – Thiên Chúa của Ngài, điều vốn là một sự hiện hữu xác thực về Thiên Chúa ở nơi Ngài”. Rất nhiều các thần học gia – cả Tin Lành lẫn Công Giáo – đã chạy đua trên Xa Lộ Schleiermacher này trong vòng hai trăm năm qua, áp dụng một “nền Kitô Học ý thức” hơn là nền “Kitô Học bản thể”. Tôi có thể làm chứng rằng việc đào tạo thần học của tôi trong những năm 70 và 80 của thế kỷ trước là đã bị điều kiện hoá rất nhiều bởi cách tiếp cận này. Cha White khẳng định cách mạnh mẽ rằng sự thay đổi này đại diện cho sự biến thể nghiêm trọng trong nền thần học Kitô Giáo, và tôi nghĩ Ngài đã đúng.

Việc bỏ đi cách tiếp cận bản thể đã tạo ra những hậu quả tiêu cực, nhưng tôi sẽ chỉ tập trung vào một vài điều. Trước hết, việc này ngay lập tức sẽ biến Chúa Giêsu thành một kiểu siêu thánh, khác biệt có lẽ về mức độ so với những người thánh thiện khác, mà không phải cùng một kiểu. Do đó, trong sự hiểu biết này, ít nhất vẫn chưa rõ ràng tại sao Chúa Giêsu lại thuộc về hàng quan trọng lớn lao hơn so với các nhân vật và những nhà sáng lập tôn giáo khác. Nếu Ngài là một vị thánh, ngay cả một vị thánh vĩ đại, thì người ta có thể tranh luận như Khổng Tử, như Đức Phật, các nhà thần bí Sufi và các bậc thầy Ấn Giáo, và theo cách của riêng họ như Socrates, Walt Whitman và Albert Schweizer. Nếu Chúa Giêsu thông truyền sự thánh đến bạn, các tốt đẹp và tốt lành, vậy thì tại sao bại lại cảm thấy một nhiệm vụ đặc biệt nào đó để đề xuất Ngài cho ai đó khác, có lẽ ai sẽ được đánh động bởi một người thánh thiện từ một truyền thống tôn giáo khác? Thực vậy, nếu “Thiên Chúa – ý thức” là vấn đề, thì chúng ta là ai mà lại nói rằng ý thức của Chúa Giêsu lại rộng hay sâu hơn ý thức của Thánh Phanxicô hay của Mẹ Teresa? Tắt một lời, động lực cho việc truyền giáo thực sự ít hay nhiều sẽ bị tiêu tan khi người ta đi trên đại lộ Schleiermacher.

Một cách nền tảng hơn, khi trọng tâm được đặt trên ý thức con người của Chúa Giêsu về Thiên Chúa, thì sức nặng tinh thần sẽ nghiêng một cách trọn vẹn về phía nội tại triết học. Điều tôi muốn nói là lòng muốn tìm kiếm Thiên Chúa của chúng ta, sự tìm kiếm sự thánh của chúng ta, và sự phát triển trong sự ý thức tinh thần của chúng ta sẽ trở nên tối quan trọng, hơn là điều mà Thiên Chúa đã đạt được và thiết lập cách độc nhất. Khi Giáo Hội nói rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa, thì Giáo Hội muốn nói rằng đời sống thánh, qua sự can thiệp ân sủng của Thiên Chúa, đã trở nên sẵn sàng cho thế giới theo một cách hoàn toàn độc nhất. Hơn thế, Giáo Hội còn có ý nói rằng chính bản thân Giáo Hội – trong việc rao giảng của mình, việc rao giảng chính thức của mình, trong các bí tích, nơi các vị thánh của mình – là một phương thế đặc quyền mà qua đó sự sống này giờ đây chảy tràn vào trong tâm hồn con người và trong nền văn hoá. Thật dễ đủ để thấy rằng sự chuyển từ nền Kitô Học bản thể sang nền Kitô Học ý thức đã làm dẫn đến tất cả tính cách của chủ thuyết tương đối, chủ thuyết chủ quan, chủ thuyết thờ ơ, và sự suy giảm về động lực truyền giáo.

Một trong những chủ đề thường trực của tôi khi tôi còn là giáo sư và là hiệu trưởng của Chủng Viện Mundelein là chủ đề những ý tưởng tạo nên những kết quả. Tôi nhật thấy rằng rất nhiều trong số những điều mà Cha White thảo luận trong tập sách của Cha dường như có thể là sự trừu tượng vô vọng, nhưng thực ra Ngài đang đặt một ngón tay của Ngài trên một sự thay đổi vốn đã có một ảnh hưởng rất lớn trên đời sống của Giáo Hội hậu công đồng.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Wordonfire.org)