Skip to main content
Đức Hồng Y Joseph W. Tobin được Đức Giáo Hoàng Phanxicô chúc mừng sau khi nhận mũ Hồng Y (archindy.org)

Đức Hồng Y Tobin: "Tôi Hy Vọng Phụ Nữ Sẽ Tiếp Tục Nói Về Sự Thật"

Đức Hồng Y Joseph W. Tobin, C.Ss.R., đã được Đức Giáo Hoàng Phanxicô bổ nhiệm vào Hồng Y Đoàn vào ngày 09/10/2016, trong khi đang phục vụ trong vai trò Tổng Giám Mục Indianapolis. Vào đêm trước ngày diễn ra thông báo, Ngài đã tham dự một buổi thảo thuận cùng với Đức Giám Mục Charles Thompson thuộc Evansville tại buổi hội thảo lãnh đạo của Phụ Nữ Giáo Hội Công Giáo tại Ferdinand, Indiana. Tôi đã điều phối buổi hội thảo này.

Vào ngày 06/01/2017, Đức Hồng Y Tobin được đặt làm Tổng Giám Mục Newark, và Đức Giám Mục Thompson sau này được bổ nhiệm làm người kế nhiệm Ngài tại tổng giáo phận Indianapolis. Đức Hồng Y Tobin và tôi đã gặp lại nhau vào Tháng 8/2017 để thực hiện lại cuộc trao đổi về phụ nữ trong Giáo Hội Công Giáo. Bài phỏng vấn đã được biên tập lại và đã cô đọng lại vì dài và vì sự rõ ràng.

Baker: Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã thu hút sự chú ý của nhiều người bằng lời mời gọi của Ngài đối với một sự hiện diện sắc bén hơn nữa của phụ nữ trong giáo hội. Ngài nghĩ trong tư tưởng của Đức Giáo Hoàng có những gì?

ĐHY Tobin: Tôi nghĩ Ngài đang nói về hai cấp độ, vì Đức Giáo Hoàng Phanxicô tin vào cảm thức của chiều kích giáo hội và bổ trợ. Ngài có một sự tôn trọng cao độ dành cho giáo hội địa phương nhưng thậm chí là còn nhiều hơn nữa cho mạng lưới các giáo hội địa phương. Tôi nghĩ Ngài không chỉ nghĩ về khả năng lãnh đạo ở cấp độ giáo hội hoàn vũ, mà Ngài còn nói với anh em giám mục của Ngài. Ngài nói anh em phải đảm bảo là những quà tặng của phụ nữ được phản chiếu trong giáo hội địa phương vốn đã ủy thác cho anh em.

Mọi vị giám mục, trước khi được tấn phong, phải trải qua một vài công thức mà trong đó vị ấy thực hiện việc tuyên xưng đức tin và tuyên xưng chính bản thân Ngài trong sự hiệp nhất với giáo huấn của giáo hội nhưng còn là nhìn nhận trách nhiệm của bản thân để biện phân những quà tặng đã được trao ban cho giáo hội địa phương và để điều phối chúng. Tôi nghĩ rằng chính ở cấp độ đó mà Đức Thánh Cha đang hy vọng một tầm nhìn mới và một chân trời mời.

Người ta dường như nghe thấy điều mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói theo một cách tươi mới. Đức Hồng Y có suy nghĩ gì về điều gì làm cho điều Ngài nói nên tươi mới? Vì Ngài không phải đầu tiên nói về những quà tặng của phụ nữ.

Để tôi giúp bạn so sánh. Giống như các giáo hoàng trước Ngài, Ngài thực thi tước hiệu vervus servorum Dei, “Người tôi tớ của các tôi tớ của Thiên Chúa”. Ngài sống điều đó một cách rất cụ thể, ngang qua sự đơn giản của cuộc sống, qua việc coi khinh bất cứ một sự hoành tráng và hoàn cảnh nào, bằng việc yêu thích đối với những người mà bình thường không thể chạm đến Đức Giáo Hoàng.

Tôi hy vọng là Ngài không chỉ hài lòng với một kiểu ý thức hệ, vì, như Ngài nói trong “Niềm Vui Tin Mừng”, thực tại thì quan trọng hơn cả những ý tưởng. Nếu tôi nói với Ngài bằng tiếng Anh Mỹ, thì tôi có thể nói ‘Cuối cùng thì Đức Giáo Hoàng phải chạm vào bóng’. Ngài phải kết nối một số chọn lựa cụ thể với điều mà Ngài đang nói đến.

Đâu là những ví dụ của những chọn lựa cụ thể, những hành động cụ thể, mà Ngài đã thực hiện để cho thấy đây không phải là một kiểu ý thức hệ mà là một thực tại?

Tôi nghĩ rằng chắc chắn sẽ có một ủy ban nghiên cứu mà Ngài đã bổ nhiệm để nhìn vào vấn đề phụ nữ trong chức phó tế. Đối với tôi, điều quan trọng không phải chỉ đơn giản là Ngài thiết lập ủy ban này mà là ai là người mà Ngài đặt vào đó. Ở đây từ Bắc Mỹ, chúng ta vui mừng rằng Phyllis Zagano, vốn là một phụ nữ có học thức và cũng là một người phụ nữ nói rõ ràng về vấn đề, đã được bổ nhiệm vào đó. Ngay khi tôi nghe tin đó, tôi nói, “Điều này sẽ thật tuyệt đấy”. Tôi nghĩ rằng người khác vốn đang ở trong ủy ban, mặc dù tôi không biết về họ rõ lắm, cũng sẽ mang lại cho ủy ban một độ tin cậy lớn lao. Điều mà Ngài thực hiện với ủy ban sẽ thật thú vị, nhưng tôi nghĩ đó là một dấu chỉ đầy niềm hy vọng.

Có một người phụ nữ hiện giờ đang là hiệu trưởng của một trong các đại học giáo hoàng của Rôma [Sơ Mary Melone, S.F.A., thuộc Giáo Hoàng Học Viện Antonianum], cũng là một dấu chỉ khác mà trong lãnh vực học thuật của phụ nữ đã đóng một vai trò, ngay cả trong nền văn hóa của giáo hội. Đây là những cánh cửa đang mở ra. Tôi nghĩ đây là hai ví dụ.

Đâu là một số trường hợp về sự hợp tác mà Đức Hồng Y có đối với phụ nữ?

Một cuộc nghiên cứu được thực hiện bởi CARA, Trung Tâm Nghiên Cứu Ứng Dụng Công Việc Tông Đồ, về vai trò của phụ nữ trong sự lãnh đạo giáo phận. Một trong những tiền đề của cuộc nghiên cứu là nếu bạn nhận mệnh lệnh từ trên bàn, thì đâu là điều quan trọng nhất hay những vị thế sắc bén nhất đối với phụ nữ ở cấp giáo phận? Họ đã bổ nhiệm 3 người: hiệu trưởng, tổng điều hành các trường học và giám đốc tài chính.

Tại Indianapolis, không phải là do tôi mà cho vị tiền nhiệm tốt lành của tôi, hai trong số ba người này là phụ nữ. Tôi luôn quen với việc đùa với C.F.O đang là một người đàn ông. Tôi nói, “Anh biết đấy, chúng ta có thể làm cả ba vị trí!” Vị hiệu trưởng và tổng điều hành các trường chắc chắn mang lại mức độ ấy về những quà tặng và hiểu biết mà không có điều đó có lẽ cả chúng tôi cũng sẽ trở nên khánh kiệt.

Điều đó thuyết phục tôi về một điều mà Đức Giáo Hoàng Benedict XVI thường hay nói về đời sống tu. Ngài nói một giáo phận hay một giáo hội cụ thể không có dòng tu là khánh kiệt. Điều đó không có nghĩa là họ không thể hoạt động, nhưng nó hoạt động với một hoặc hai cánh tay chắp lại phía sau lưng. Dĩ nhiên, giờ đây bạn có thể nói rằng ngay cả với trường hợp ấy thì Ngài đang nói về phụ nữ, vì phụ nữ chiếm 80% đời sống tu. Tôi nghĩ điều đó một cách mang tính so sánh, tôi không thể hình dung một giáo phận muốn sắp xếp trong sự chu toàn sứ mạng của giáo hội mà lại không có tiếng nói của phụ nữ đại diện trong các quyết định của mình.

Tại Tổng Giáo Phận Indianapolis, con nghĩ cách đặc biệt đến bà Annette “Mickey” Lentz, một người là hiệu trưởng. Bà phục vụ trong nhiều vị trí mà chúng con thấy bình thường khó mà gặp thấy một người nữ giáo dân.

Bà đã hiện diện và tham gia tích cực vào hội đồng linh mục, trong đoàn phó tế và ở mọi cấp độ lãnh đạo của tổng giáo phận. Bà là bộ mặt của tổng giáo phận.

Điều gì thúc đẩy Đức Hồng Y cổ võ và thúc đẩy phụ nữ trong vai trò lãnh đạo, liệu là ở cấp độ địa phương hay ở cấp độ giáo hội hoàn vũ?

Tôi nghĩ về một vài giá trị sâu sắc nhất là những giá trị mà chúng ta kinh nghiệm khi còn trẻ con. Lớn lên trng một gia đình có nhiều phụ nữ - một người mẹ, hai người chị của mẹ tôi sống với chúng tôi và 8 người chị em của tôi nữa – và chứng kiến tất cả họ đều can đảm và tự tin vào bản thân, với một sự kết nối rất mạnh mẽ và không gượng ép với đức tin, đã khích lệ tôi. Thực ra, người ta cám ơn tôi hoặc thách đố tôi về những lập trường mà tôi đã thực hiện trong quá khứ. Tôi sẽ giải thích, đây là một điều mà tôi không cần phải nghĩ nhiều nữa.

Điều đã đánh động tôi trong những năm sau đó, đặc biệt là những năm trong sứ vụ của tôi, là trở nên ngày càng ý thức hơn về cách mà phụ nữ đã bị đưa ra lý do để bỏ mặc giáo hội – một kiểu thiếu tôn trọng, và thậm chí còn hơn cả sự thiếu tôn trọng. Nếu bạn nhìn vào các Tin Mừng, Chúa Giêsu không thật sự can thiệp với con người vì đã quá áp bức người nghèo. Điều mà Ngài quan tâm người dân là khi họ không nhìn những người nghèo này. Và tôi nghĩ điều đó đúng với phụ nữ, là những người thường, cách đặc biệt bên ngoài Bắc Mỹ, hình thành một kiểu nghèo thật sự. Tội đầu tiên là không thấy họ và bước đi trên con đường vui vẻ của bạn. Hoặc nếu bạn thấy họ, thì bước sang phía bên kia đường.

Những định hướng cho việc đào luyện chủng viện đã được công bố vào Tháng 12/2016 từ Vatican [Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis], nói về “tầm quan trọng đào tạo” về sự hiện diện của phụ nữ trong thời gian đào tạo chủng viện. Ngài sẽ thúc đẩy tiến trình áp dụng những hướng dẫn mới này ở đây tại Hoa Kỳ [trong tư cách là chủ tịch Ủy Ban Giáo Sĩ, Đời Sống Thánh Hiến và Ơn Gọi của HĐGM Hoa Kỳ]. Khi Đức Hồng Y nghĩ về việc đào tạo chủng viện, đặc biệt là đào luyện các chủng sinh để có một mối quan hệ lành mạnh và hợp ta1ce với phụ nữ, thì Ngài hy vọng sẽ thấy gì trong 10 năm tới?

À, trước hết có một một thách đố bao trùm của tình trạng giáo sĩ trị, vốn không chỉ đơn giản là một não trạng chống phụ nữ, mà đó còn là một não trạng khép kín.Đó là một não trạng khép kín tin vào một số đặc quyền đặc lợi nào đó. Đức Giáo Hoàng Phanxicô thách đố não trạng này.

Tôi nghĩ một điều quan trọng không chỉ là đối với phụ nữ trong mối quan hệ lành mạnh mà là các mối quan hệ mà đôi khi giúp cho một giáo sĩ biết trách nhiệm với phụ nữ. Giờ đây tôi phát hiện điều đó rất thú vị tại Indianapolis vì có những phụ nữ tại Trung Tâm Công Giáo là những người giám sát các linh mục, hàng giáo sĩ và thậm chí cả giám mục. Tôi nghĩ khả năng liên hệ đến tính cách đó đối với một phụ nữ cũng rất quan trọng. Trong chương trình đào luyện của riêng tôi, trước khi thụ phong và khi mới được thụ phong, tôi đã có những phụ nữ cấp trên, trong vài trò là một giáo lý viên và rồi nhà tổ chức cộng đoàn, và điều đó là điều tốt.

Ngài nhấn mạnh rằng đôi khi phụ nữ rời khỏi giáo hội vì họ cảm thấy rằng họ không được chú ý hoặc không có chỗ cho những ơn ban của họ. Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy rằng trong số các bạn thuộc thế hệ thiên niên kỷ, thì lần đầu tiên tại Hoa Kỳ có nhiều phụ nữ Công Giáo tách ra khỏi niềm tin Công Giáo hơn là thanh niên Công Giáo. Ngài sẽ nói gì với một người phụ nữ trẻ là người đang suy xét rời khỏi Giáo Hội Công Giáo?

Tôi nghe về báo cáo này với một tần suất buồn. Tôi luôn hỏi, “Bạn nghĩ gì khi bạn rời bỏ?” Ít nhất trong niềm tin của tôi, thì đó không phải là một kiểu Elks hay một kiểu câu lạc bộ những cụ già tốt lành. Đây là thân mình của Đức Kitô, và đây là nơi mà lời của Ngài được loan báo và các bí tích được cử hành. Tôi sẽ không để cho một ai đẩy tôi ra khỏi đó. Trong khi nói điều này, tôi không muốn hạ thấp một kiểu chán nản mà tôi nghĩ những người phụ nữ trẻ đang cảm nhận.

Tôi nghĩ rằng các giám mục phải rất quan tâm đến điều này, vì những tác động lạ thường của việc đó. Tôi có một người bạn rất thân, một tác giả ở Anh, một người đã tuyên xưng là vô thần. Anh ta nói về một trong những trở ngại lớn của anh là cả cha mẹ của anh đều là người vô thần, nhưng mẹ anh thì xác tín hơn. Anh nói rằng điều đó thật khó để tôi vượt thắng, vì, tôi nghĩ, rằng tất cả mọi điều nuôi dưỡng mà anh ta được nhận lãnh từ mẹ anh, thì anh cũng đón nhận điều đó. Đó là người mà chúng ta có thể nhìn vào với một qui mô toàn bộ nếu người phụ nữ trẻ không còn cảm thấy có một sự gắn kết với giáo hội như là bí tích của ơn cứu độ. Điều đó thật sự nghiêm túc.

Tôi nghĩ một mặt chúng ta có thể trả lời đối với những người phụ nữ đang ở trong giáo hội là hãy mở ra và rõ ràng cho vấn đề tại sao. Nói mà bất chấp những thất vọng và nỗi khổ, đây là lý do vì sao tôi ở đó.

Khi Đức Hồng Y nhìn vào tương lai, thì đâu là những niềm hy vọng của Ngài đối với phụ nữ trong Giáo Hội?

Trước hết, niềm hy vọng của tôi là họ sẽ đón nhận như tại nhà. Tôi nhớ lại vào năm 2010 tôi đã hứa hướng dẫn một buổi tĩnh tâm cho anh em người Ireland của tôi tại đất nước này. Có nhiều thăng trầm ở đó, và vẫn thế, tại Giáo Hội Ireland. Có nhiều sự tức giận đối với tổ chức giáo hội. Tôi nói: Nhưng, các bạn nghe Lời Chúa ở đâu; các bạn cử hành Thánh Thể ở đâu? Giáo Hội nào là thế? Đó là ngôi nhà! Chỉ thế, các bạn biết.

Định nghĩa yêu thích nhất của tôi về tình trạng dị giáo là sự không sẵn lòng để giải quyết sự phức tạp. Đó là một lòng muốn đơn giản hóa thành một miếng nhỏ để có thể nhai hết ngay. Niềm hy vọng của tôi là sự phức tạp của mầu nhiệm của giáo hội luôn được tôn kính. Và người dân không mất niềm tin vào sức mạnh của Đức Kitô, hiện diện trong giáo hội của Ngài. Rồi bạn sẽ bằng lòng với điều gì kém hơn.

Tôi hy vọng rằng phụ nữ sẽ tiếp tục nói về sự thật và nói về sự thật cho người quyền thế khi họ cần phải nói. Và trên hết là họ không đánh mất cảm thức niềm vui. Không đánh mất niềm vui mà chúng ta có vì tình yêu vô cùng của Thiên Chúa.

Kimberly F. Baker - là một giáo sư thỉnh giảng về lịch sử giáo hội tại Chủng Viện Thánh Meinrad và Trường Thần Học tại St. Meinrad., Ind.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ America Magazine)