Skip to main content
Đức Hồng Y Donald Wuerl - Tổng Giáo Phận Chicago (CNS photo/Bob Roller)

Đức Hồng Y Wuerl: Đức Giáo Hoàng Phanxicô Đã Tái Kết Nối Giáo Hội Với Công Đồng Vatican II

Tái kết nối lại giáo hội “bằng năng lượng của Công Đồng Vatican II”, có lẽ là thành tựu lớn lao nhất của Đức Giáo Hoàng, Đức Hồng Y Donald Wuerl của Tổng Giáo Phận Washington đã nói trong một bài phỏng vấn đặc biệt với America Magazine nhân dịp kỷ niệm 4 năm ngày Đức Giáo Hoàng được bầu chọn sắp tới vào ngày 13/03.

Theo Đức Hồng Y Wuerl, Đức Giáo Hoàng đang làm thay đổi triều giáo hoàng và “hoàn toàn tập trung vào vai trò của giám mục”. Ngài nói Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã “chọn nơi mà chúng ta đã bỏ đi” về các chủ đề về tính giáo hội và tính thượng hội đồng của Công Đồng Vatican II và đã tái tập trung Giáo Hội về “một nền thần học luân lý dựa trên thánh kinh và lệnh truyền yêu thương của Chúa Giêsu” và về “một tinh thần tông đồ truyền giáo”.

Đức Hồng Y Wuerl, hiện đang là tổng giám mục Washington, cũng nhận định về văn kiện thuộc huấn quyền hậu thượng hội đồng của Đức Giáo Hoàng về gia đình “Amoris Laetitia”, việc chống đối mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã kinh nghiệm và lập trường của Giáo Hội Hoa Kỳ đối với người di dân đang đối diện với những thách đố từ bộ máy của ông Trump.

Dưới đây là bài phỏng vấn được thực hiện tại Đại Học Bắc Mỹ tại Rôma, 22/02/2017:

Vào ngày 13/03, Đức Giáo Hoàng Phanxicô sẽ đi vào năm thứ 5 triều đại giáo hoàng của Ngài. Khi Đức Hồng Y nhìn lại 4 năm đầu tiên đã qua, thì Ngài hiểu về những năm ấy thế nào? Đâu là những thành tựu chính?

Tôi nghĩ sự đóng góp lớn lao của Ngài cho đến ngày hôm nay là việc tái kết nối Giáo Hội với năng lượng của Công Đồng Vatican II, năng lượng xuất phát từ công đồng ấy. Tôi là một sinh viên, đang học thần học khi Công Đồng ấy đang diễn ra và chúng tôi đều kinh ngạc về sự canh tân.

Tôi nghĩ điều đã xảy ra tiếp theo là sau công đồng có một số cường điệu. Về mặt thần học thì có một sự tường giải về sự không liên tục; về mặt phụng vụ thì có tất cả mọi kiểu thử nghiệm. Và một cách nào đó thì điều đã bị mất là lời mời gọi của công đồng đối với chúng ta hãy trở về với sự tập trung của chúng ta về tính ưu việt của tình yêu như là một động lực chính lèo lái giáo hội, giáo huấn của giáo hội và sự ra đi của giáo hội.

Đức Gioan Phaolô II là một thời khắc tái tập trung lớn lao vào đời sống giáo hội để đưa chúng ta trở về với con đường và nói không với những thái quá và sự không tiếp nối. Đức Giáo Hoàng Benedict thì đóng đinh vào chiếc hòm của sự không tiếp nối.

Bây giờ tới lượt Đức Giáo Hoàng Phanxicô là người nói rằng, “Tại sao chúng ta không chọn nơi mà chúng ta đã bỏ đi: tính giáo hội, tính thượng hội đồng”. Tính thượng hội đồng mà Đức Phaolô VI đã sáng kiến nay trổ bông dưới thời Đức Phanxicô. Hai thượng hội đồng về gia đình này thì không giống như bất cứ một thượng hội đồng nào trước đó vì chúng thật sự mời gọi các giám mục đi vào trong tiến trình một cách minh bạch và cởi mở.

Rồi sau đó là sự nhấn mạnh ở “Amoris Laetitia”. Tông huấn này nói cho chúng ta biết rằng chúng ta phải trở về, như công đồng đã nói, với một nền thần học luân lý vốn dựa trên thánh kinh và lệnh truyền yêu thương nhau của Chúa Giêsu và về với những nhân đức vốn là những dấu chỉ của một đời sống luân lý, chứ không phải sự khô cứng theo câu chữ của lề luật.

Vì thế, khi tôi nhìn lại bốn năm qua, tôi thấy rằng Đức Phanxicô đã đạt được tất cả mọi sự tái tập trung này, ngay cả chúng ta đã có cả một chặng đường dài thật dài để bắt đầu chuyển hướng của một tổ chức quá lớn như Giáo Hội Công Giáo và đưa Giáo Hội tập trung trở lại trên con đường mà tôi tin là công đồng đã vạch ra. Tôi nghĩ điều Ngài đã thực hiện thật sự là một thành tựu vĩ đại.

Từ khởi đầu triều đại giáo hoàng của Ngài, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã kêu gọi Giáo Hội hãy ra đi đến với mọi người.

Chắc chắn Ngài đã mang lại cho chúng ta sự tập trung vào tinh thần tông đồ truyền giáo mà hiện đang trở nên một thương hiệu của giáo hội, nhưng chúng ta có cả một con đường rộng lớn để đi. Khía cạnh duy trì của giáo hội vẫn luôn ở đó, nhưng Ngài đang nói đừng quên rằng chỉ có hệ thống hỗ trợ cho một sự mở ra mang tính phúc âm hoá.

Khi đã đặt điều đó vào vị trí là một sự tập trung, thì cá nhân tôi nghĩ rằng Ngài đã hoàn toàn tập trung vào vai trò của giám mục. Nghĩ về điều đó, ngay lúc khai mạc Công Đồng Vatican II vào năm 1962, Đức Gioan XXIII, “Vị Giáo Hoàng Gioan Nhân Từ” đã đi vào đền thờ Thánh Phêrô trên bàn thờ cử hành của giáo hoàng và có một lượng hâm mộ đông đạo, những người Bảo Vệ Cao Quý, và rồi với tất cả mọi người Ngài nói, “Chúng ta cần nhìn vào điều này; điều này không thể là điều mà Tin Mừng loan báo”.

Giờ đây bạn thấy Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Ngài thể hiện trong một chiếc áo choàng đơn giản và mọi người nói rằng đấy là điểm cần phải là. Đó không phải là một thành tựu nhỏ bé đối với Ngài khi nói rằng một giáo hội đơn giản hơn nhiều theo nghĩa trang phục sẽ trở thành một giáo hội hiệu năng hơn rất nhiều.

Vì thế, nếu tôi phải nói đâu là thành tựu lớn lao của Đức Giáo Hoàng Phanxicô cho đến hôm nay, thì tôi sẽ nói rằng điều đó là sự tái tập trung vào giáo hội để nói và nhìn giống như Tin Mừng nhiều hơn nữa và rồi mời gọi các giám mục một lần nữa hãy nhận vai trò trách nhiệm của mình trong đời sống của giáo hội.

Trong tiến trình, dĩ nhiên, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đang thay đổi về triều giáo hoàng.

Đúng thế. Điều đó sẽ không bao giờ còn giống như nó đã từng của hơn 2 năm trước. Dĩ nhiên chúng ta phải nhớ rằng quá nhiều vẻ bề ngoại của Giáo Hội đang thừa thãi; đó là điều đã bị bỏ lại từ một kỷ nguyên trước khi sự cần thiết đối với giáo hội phải có phẩm chất chính trị và nhà nước này vốn quá quan trọng. Nhưng chúng ta đã vượt qua điều đó. Đó không phải là điều mà người ta thấy hiện tại khi họ đang nỗ lực để xác định đâu là sự dấn thân mà họ cần phải có đối với Giáo Hội Công Giáo.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã thay đổi trong ba hướng: Ngài tập trung vào tình trạng nghèo và người nghèo trên thế giới; Ngài tập trung vào việc chăm sóc công trình tạo dựng và ngôi nhà chung của chúng ta; và rồi ở trong “Amoris Laetitia” về gia đình. Đức Hồng Y thấy gì như là một sự đóng góp lớn lao trong “Amoris”?

Trong “Amoris Laetitia” (Niềm Vui Tình Yêu), Đức Thánh Cha nhận thấy điều mà tất cả chúng ta đều sẽ thấy – rằng một chủ thuyết tục hoá phổ biến hiện đang là tiếng nói văn hoá thống trị. Nhưng không có gia đình thì bạn chẳng thể chuyển giao điều gì. Đức Gioan Phaolô II nói niềm tin, văn hoá, văn minh và mọi thứ được chuyển giao qua gia đình vì mọi đứa trẻ đều trở thành người thừa hưởng di sản của những thế hệ trước đó.

Đức Thánh Cha này đã nhận biết rằng hôn nhân trong nền văn hoá mà chúng ta đang sống cần phải được đổi mới hoàn toàn. Nhưng bạn không thể thực hiện điều này mà không nhận biết rằng đây là một thời điểm khác trong lịch sử so với 25 năm trước, và người dân mà giáo hội đang nói sẽ không hiểu những lời ấy theo cùng một cách thế mà chúng ta hiểu.

Tôi sẽ nói với anh một ví dụ. Vào mùa hè, chúng tôi luôn có thời gian mà tôi gặp gỡ các bạn trẻ, những đôi vợ chồng trẻ, chỉ để nói về vị thế của họ, điều gì đang diễn ra. Trong một cuộc trao đổi, họ rất rõ ràng về hôn nhân là “vĩnh cửu”, đó là, cho đến khi hôn nhân không còn hiệu nghiệm nữa, họ nói. Vĩnh cửu đối với họ có một ý nghĩa khác so với ý nghĩa mà tôi có.

Tôi nghĩ đó là điều mà Đức Thánh Cha đang nói: nền văn hoá này, ngôn ngữ này – ngay cả những từ ngữ chúng ta sử dụng – chúng có một ý nghĩa khác đối với nền văn hoá này, và chúng ta phải tìm một cách khác để thể hiện rằng chúng ta đang đồng hành với họ, để chúng ta có thể nghe họ và họ có thể bắt đầu nghe chúng ta.

Khái niệm đồng hành này là chìa khoá ở đây.

Sự đồng hành là thiết yếu đối với điểm mà chúng ta sẽ đến. Tiếng nói của niềm tin, tiếng nói của Tin Mừng, ngày nay sẽ không được loan báo cho số đông người dân đang đợi chờ lắng nghe. Tiếng nói ấy cũng không được loan báo qua các cấu trúc văn hoá, xã hội – tất cả những yếu tố thường nhật được sử dụng như phần của nền văn hoá Kitô Giáo. Tiếng nói ấy cần phải được lắng nghe vì người tín hữu đang bước đi cùng với người khác và nói, “Bạn biết tôi nghĩ có một con đường tốt hơn; tôi có một con đường khác hơn so với con đường bạn đang đi”.

Đức Phaolô VI đã khẳng định con đường này trong “Evangelii Nuntiandi” (“Phúc Âm Hoá trong Thế Giới Hiện Đại”): “Con người hiện đại sẵn lòng lắng nghe các chứng nhân hơn là các thầy dạy, và nếu người ấy thật sự nghe lời các vị thầy, là bởi vì họ là những chứng nhân”.

Con cho là điều đó quá đúng.

Một số người đã cho rằng “Amoris Laetitia” không phải là một giáo huấn thuộc huấn quyền. Tôi sẽ không bao giờ, chẳng bao giờ bắt đầu thách thức tiếng nói của Ngai Toà Phêrô vì nếu bạn nói, như một cá nhân, tôi có thể xác định điều nào trong số các giáo huấn của giáo hội là huấn quyền và điều nào thì không, rồi những tông thư giáo hoàng nào và tông huấn giáo hoàng nào là hợp pháp và điều nào là không? Ai sẽ quyết định điều đó.

Điều đó được xác định khi những giáo huấn này xuất hiện với chữ ký của một vị giáo hoàng trên đó. Đó là điều làm cho những giáo huấn này trở thành một phần của Ngai Toà Phêrô = chứ không phải sự phán quyết của ai đó về tư tưởng của chúng hay nội dung của chúng. Và vì thế mọi tông huấn, và đó là tất cả mọi tông huấn hậu thượng hội đồng, tất cả đều là huấn quyền của Phêrô.

Hãy nhớ rằng chính Đức Phaolô VI là người đã nói với thượng hội đồng, “Anh em không thể công bố mọi điều vì anh em không có một huấn quyền nào cả, tôi thì có”. Và từ “Evangelii Nuntiandi” trở đi, tất cả mọi giáo huấn đều là thi hành Toà Phêrô hay Huấn Quyền.

Tại sao Đức Hồng Y lại nghĩ là có sự chống đối này đối với Đức Giáo Hoàng Phanxicô?

Tôi nghĩ nó diễn ra ở nhiều cấp độ. Nó diễn ra khi Đức Thánh Cha chấp nhận một cấu trúc bao gồm hết mọi tổ chức vốn là một phần của Toà Thánh giống như Quốc Vụ Khanh, các thành bộ, các dòng tu và hỏi liệu là điều này không nên được nhìn vào để xem nó có đang thực sự đóng chức năng như nó nên là hay không. Chừng nào bạn chạm đến bất cứ điều nào trong số những điều này, thì bạn chạm vào những lợi ích cá nhân, vì thế sẽ luôn luôn có một số chống đối vì bản năng tự nhiên sẽ nói, “Chúng tôi luôn luôn thực hiện điều này theo cách này, thì tại sao chúng tôi phải thay đổi?” Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói, chúng ta cần phải nhìn đến điều này vì chúng ta có nhiều thế kỷ sau khi những cấu trúc này đã được đặt vào vị trí. Vì thế có sự chống đối ở cấp độ tổ chức.

Do đó có một số người mà tôi nghĩ rằng chỉ cảm thấy rất không thoải mái; mọi thứ khá đảm bảo và an toàn và giờ đây đang bị thách đố. Họ bị đòi hỏi phải nhìn vào ngay cả cách mà họ sẽ thực hiện một số điều thường nhật, và Đức Phanxicô kêu gọi họ hãy nhìn và hãy xem liệu đó có thực sự đang là cách tốt nhất không.

Vì thế có cả sự thách đố mang tính tổ chức và thách đố mang tính cá nhân.

Hơn thế, tôi nghĩ, chỉ có một số người không thể thay đổi bản thân họ vượt ra khỏi nơi họ đang đứng. Những người này nhìn vào mọi thứ qua chỉ một lăng kính mà thôi. Nhưng triều đại giáo hoàng này và “Amoris Laetitia” là đa diện, và nếu bạn chỉ có thể nhìn thấy chúng qua một lăng kính, thì bạn sẽ không bao giờ có thể trân trọng điều này.

Đức Hồng Y có nghĩ rằng các vị hồng y đang thực hiện đủ để trợ giúp Ngài?

Tôi nghĩ thế. Nhưng hãy phân biệt giữa những vị hồng y giáo triều và hồng y trên khắp thế giới. Tôi nghĩ các vị hồng y trên khắp thế giới, đại đa số là những giám mục địa phương, đồng cảm với điều mà Đức Giáo Hoàng đang thực hiện vì điều mà Ngài đang nói đến là điều mà chúng tôi đang được dự phần – mục vụ.

Các vị hồng y giáo triều thì có cách nhìn khác vì các vị ấy là, theo một nghĩa tốt đẹp, những người ngồi văn phòng. Các vị ấy quản lý các văn phòng; các vị ấy điều khiển các văn phòng của giáo hội, nhưng tôi có cảm tưởng là có một số vị đang lê bước vì, nhưng có người đã nói với tôi, “Tại sao chúng ta lại phải thay đổi một điều vốn đã có hiệu quả trong vòng 500 rồi?”

Và có lẽ sẽ có một vài vị chỉ cảm thấy bị đe doạ bởi sự thay đổi.

Đức Hồng Y có thấy sự cần thiết để các vị hồng y địa phương Hoa Kỳ hỗ trợ Đức Giáo Hoàng Phanxicô như Hội Đồng C9 các hồng y cố vấn đã thực hiện gần đây không?

Tôi không chắc chắn là có cần thiết để có một sự cụ thể nào hơn mức chúng tôi đang là hay không. Bạn biết đấy trong một gia đình thì có tục lệ trao đổi quà Giáng Sinh, và dùng dịp sinh nhật để nói, “Hey, I love you”.

Cũng thế, trong đời sống Giáo Hội, vào dịp kỷ niệm 4 năm Ngài được bầu làm giáo hoàng, chúng tôi sẽ nói, “Đức Thánh Cha, xin Thiên Chúa chúc lành cho Ngài, Ad multos annos!” Và đối với toàn bộ thờ igian thì dường như là chúng tôi đồng hành với Ngài.

Chúng con thấy sự quan ngại ngày càng gia tăng tại Hoa Kỳ và trong giáo hội với cách tiếp cận của bộ máy Trump đối với người di dân và người lao động không giấy tờ, trước việc bổ nhiệm một người chối bỏ biến đổi khí hậu làm người đứng đầu bộ môi trường, và nhiều thứ khác. Đức Hồng Y sống ở Thủ Đô Washington: Ngài hiểu về điều này thế nào?

Tôi nghĩ hiện nay thật khó để có được một sự hiểu biết về việc bộ máy này sẽ đi về đâu vì nhiều thứ đang được nói và nhiều bổ nhiệm đang được thực hiện mà vấn chưa bắt đầu được thể hiện. Tôi nghĩ vẫn còn quá sớm để nói.

Trong một số lãnh vực, tôi nghĩ chúng tôi có hy vọng là sẽ có một sự tập trung tốt hơn, nhưng tôi nghĩ vẫn còn quá sớm để nói tất cả điều này sẽ đi tới đâu vì ông tổng thống và bộ máy này đang thanh lọc và thay đổi thất cả mọi điều mà họ đã nói.

Nhưng đó vẫn chưa là trường hợp về vấn đề di dân.

Về vấn đề đó, tôi nghĩ giáo hội tại Hoa Kỳ phải có lập trường mạnh mẽ và cùng nhau. Hội đồng giám mục của chúng tôi đã công bố những thông cáo, đa số chúng tôi đã đưa ra thông cáo, nói rằng về toàn quyền biên giới là một lẽ và điều đó cần phải được nói rõ – tuy điều này cần được thực hiện theo nghĩa hợp lý – nhưng đối với người dân đã ở đây, đó là một vấn đề khác và chúng tôi phải nói về điều này một cách nhân bản. Chúng ta không chỉ gây chia cách các gia đình. Tôi nghĩ hai vấn đề này có liên hệ, nhưng cách biệt, và giáo hội đã mạnh mẽ cổ võ việc chăm sóc người di dân đã đang ở Hoa Kỳ.

Đức Hồng Y có cảm thấy có một sự hiệp nhất lớn lao trong giáo hội về vấn đề này không?

Tôi thấy. Đa phần tiếng nói đại diện cho giáo hội đều hiệp nhất về vấn đề này.

Có nhiều người nói rằng Tổng Thống Donald J. Trump có thể gặp Đức Giáo Hoàng Phanxicô vào Tháng 5. Đức Hồng Y thấy điều này diễn ra thế nào?

Nhìn về tương lai, điều duy nhất tôi có thể tiếp tục là việc vị giáo hoàng này đã thực hiện một ấn tượng lớn lao và một tác động mạnh mẽ trên Tổng Thống Obama. Tổng Thống Obama đã nói điều này. Tôi mong đợi cùng một điều nếu Tổng Thống Trump và Đức Giáo Hoàng Phanxicô gặp nhau.

Tôi nghĩ Đức Giáo Hoàng Phanxicô sẽ có cùng một tác động trên ông ấy vì Đức Giáo Hoàng xuất phát từ cách nhìn luân lý, tinh thần và tôn giáo, và điều đó nhất định sẽ tác động trên những người mà nhiệm vụ của họ lại là chính trị. Và giờ đây chúng ta chỉ cần nhìn vào trái banh bằng pha lê...

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ America Magazine)