Skip to main content
Cha Karl Rahner S.J., (T) và Đức Giám Mục Patrick Ahern (P) nhân dịp ghé thăm America Magazine những năm 1970 (America)

Sống Trong Mầu Nhiệm: Những Suy Tư Của Thần Học Gia Karl Rahner Nhân Dịp Sinh Nhật Thứ 75 Của Ngài

Bài phỏng vấn này được đăng chính thức trên America Magazine vào ngày 10/03/1979.

America: Thưa Cha Rahner, giờ đây Cha đã có 75 năm kinh nghiệm làm người. Cha có thể cho chúng con biết đâu là những bước ngoặt trong đời của Cha không?

Cha Rahner: Tôi không biết liệu là tôi đã có những bước ngoặt lớn trong đời tôi hay không, hoặc liệu dòng suối hay con sông của đời tôi có đang luôn chảy ít nhiều theo cùng một hướng hay không, vì thế giờ đây là lúc để dòng sông thời gian này chảy vào biển của vĩnh cửu. Bạn biết đấy, tôi đã được lớn lên trong một gia đình Công Giáo. Đó là một gia đình có 7 người con, trung lưu, và ở bên cạnh mẹ tôi, cũng là ở cạnh cha tôi. Dĩ nhiên, Công Giáo là một vấn đề, mà không phải tất cả đều công chính cả. Sau thời gian “Abitur” diễn ra vào cuối kỳ đệ nhị trong nền giáo dục Đức, tôi đã vào Dòng Tên lúc 18 tuổi. Tôi đã học tập và làm cho cuộc sống của tôi hoạt động.

Vì thế chẳng thật sự có một dịp nào để kinh nghiệm những thay đổi lớn, mang tính quyết định hay những thăng trầm. Thực vậy, tôi có thể nói điều ngược lại. Điều đáng nhớ, bất thường nhưng rõ ràng về đời sống thiêng liêng của tôi là tất cả mọi hoàn cảnh mới một cách nào đó đã tỏ lộ và đưa về nhà cùng một lịch sử và tương lai đúng đắn – bằng việc hằng luôn và lặp đi lặp lại hướng về Thiên Chúa và sự sống của Ngài. Một cách tự nhiên, thì có một giai đoạn bên ngoài trong đời sống của tôi: tuổi trẻ và tuổi già, nghiên cứu và giảng dạy, viết lách và thuyết giảng và giảng Lễ, gặp gỡ hết mọi kiểu người. Nghĩ về Cộng Hòa Weimar, giai đoạn Quốc Xã, 30 năm sau Đệ Nhị Thế Chiến và tương tự. Nhưng tất cả những thời điểm khác nhau này, mà bạn một cách tự nhiên kinh nghiệm được một cách chắc chắn là mạnh mẽ và tỉnh thức, thì vẫn không tạo ra bất cứ một thăng trầm nào trong đời sống của riêng tôi, ngay cả khi tất cả những điều này đều quá khác nhau. Một cách nền tảng, thì chúng ta làm rõ liên lỉ cùng một tham chiếu đến mầu nhiệm không thể hiểu thấu mà chúng ta gọi là Thiên Chúa.

Giờ đây, tôi công nhận rằng người khác, những người Kitô Hữu chính hiệu, cũng thế, có thể kinh nghiệm được đời sống một cách rất khác. Nói cách khác, đời của một người có thể bao gồm những bước ngoặt mang tính lịch sử, những đòi hỏi, những mạo hiểm và niềm hy vọng cho tương lai, những thất vọng và tương tự. Và, theo sự quan phòng của Thiên Chúa, thì họ có thể và đã từng kinh qua tất cả những điều này một cách mạnh mẽ và quyết liệt hơn cả tôi. Nhưng đời sống của riêng tôi, ngay cả với tất cả sự thông phần tự nhiên vào đời sống văn hóa của 60 hay 70 năm qua, đã chảy theo một cách nào đó là đơn điệu. Tôi không có ý nói điều đó theo nghĩa là mọi cuộc đời cần phải là theo hướng đó. Nhưng đó là đường hướng đối với tôi. Ngay cả với những thay đổi của thời gian, thì những hoàn cảnh bên ngoài của đời tôi theo một cách nào đó là khá bình thường.

Tôi là một người Dòng Tên kể từ năm 1922. Vì thế tôi đã là một tu sĩ Dòng Tên được 56 năm. Từ phong cách và hoàn cảnh bên ngoài của phong cách sống ấy diễn ra cho đến nay, thì cuộc đời của một tu sĩ Dòng Tên, ít nhất là đối với bản thân tôi, thật sự khá là đơn điệu. Công việc của một thần học gia có lẽ có sự phát triển tự nhiên của nó, có những nhận biết mới, v.v. Nhưng tôi có thể nói là đời tôi mang đậm nét đặc trưng bởi sự đơn điệu, một sự thường lệ, một sự đồng nhất xuất phát từ sự hướng lòng của một người đến chủ đề sau cùng của thần học, của đời sống tu cũng như của đời người nói chung – một điều xuất phát từ một thực tại âm thầm, tuyệt đối nhưng luôn hiện diện của Thiên Chúa.

America: Trong đời của Cha, Cha đã gặp gỡ cả những người bên trong lẫn bên ngoài giáo hội. Thế thì ai, chẳng hạn, đã ảnh hưởng hoặc gây ấn tượng cho Cha cách đặc biệt? Cha đã đề cập đến gia đình của Cha.

Cha Rahner: Đó lại là một câu hỏi khó khác. Nếu bạn hỏi tôi chỉ về mà tôi đã gặp bên ngoài Giáo Hội, thì trước hết tôi sẽ phải khất lại  – mà tôi không thể kích hoạt bộ nhớ của tôi cách nhanh chóng cho câu hỏi như thế.

Cách tự nhiên, có những người thú vị bên ngoài dòng tu của tôi và giáo hội là những người tôi đã gặp gỡ và thực ra là những người đã gây ấn tượng đối với tôi. Dĩ nhiên, Martin Heidegger cần phải được nhắc tới đầu tiên. Và rồi cách tự nhiên có những người tôi đã gặp và những người khá nổi tiếng. Tôi biết Heinrich Boll cách cá nhân, và Golo Mann và Ernst Fromm. Tôi biết Ernst Bloch và ít nhất đã từng đồng hành cùng Karl Barth. Trong số những thần học gia, tôi cũng biết Friedrich Gogarten. Nếu tôi có thể kiểm tra bộ nhớ của tôi cách sát sao và gần gũi hơn nữa, thì chắc chắn tôi muốn nêu tên vài vị khác. Và nếu tôi thật sự suy xét kĩ hơn nữa, thì tôi không muốn là người vô ơn và coi thường tầm ảnh hưởng và tầm quan trọng của những người này, cũng như tầm ảnh hưởng của các nhà thơ và triết gia mà tôi chỉ biết qua sách vở.

Nhưng trên thực tế, chẳng hạn nếu tôi tự hỏi mình liệu là Heidegger có thực sự có một tầm ảnh hưởng lên trên tôi hay không, thì tôi có thể nói là tôi không chắc chắn cách chính xác. Theo tự nhiên, tôi biết ơn là tôi có thể ngồi trong buổi hội thảo của ông ấy với một vài người khác trong vòng hai năm. Dĩ nhiên, tôi đã học nhiều điều từ ông, ngay cả khi tôi phải nói là tôi mắc nợ phần định hướng triết học nền tảng nhất, mang tính quyết định nhất, mà thực ra như thể là nó xuất phát từ một ai đó khác đến tận triết gia người Bỉ và là tu sĩ Dòng Tên, Joseph Maréchal. Nền triết học của Ngài đã thật sự vượt ra khỏi phong trào tân học thuật. Tôi đã mang lấy định hướng đó từ Marécha vào trong các nghiên cứu của tôi với Heidegger chứ không bị ông ấy bủa vây tôi.

Có lẽ điều đó tùy thuộc vào tính đơn điệu của đời tôi hoặc vào một điều gì đó tự giải thích mang tính đơn điệu khi tôi nói rằng tôi không thật sự gặp những nhân vật tầm cỡ làm thay đổi đời tôi hoặc thay đổi đời tôi cách triệt để. Tôi không coi điều này là một mối lợi, nhưng chỉ nhìn nhận nó như một sự thật, và có lẽ là một điều gì đó đáng tiếc. Ngay cả những vị thầy mà tôi đã gặp trong dòng của mình, chẳng hạn, những vị thầy thật sự tài ba, đáng học tập, đọc nhiều và được đào tạo, thì dường như đối với tôi ít nhất là những vị ở hạng hai mà tôi không quá nhiệt thành như một người môn đệ có đối với thầy mình. Tôi không thể nói rằng trong năm triết và thần của tôi tại dòng tôi đã gặp một vị thầy là người, có thể nói, đã làm cho tôi choáng ngợp hoặc khuấy động và thúc đẩy tôi cách sâu sắc. Điều đó có thể là sai lỗi của tôi, và có lẽ là không may. Nhưng, lại ở đó, tôi có thể nói: Đó là cách mà nó là.

Một cách tự nhiên, tôi biết rằng những vị như Heidegger hay Ernst Bloch, hoặc một Người Nhận Giải Nobel nào khác như Heinrich Boll, thay thậm chí một Ernst Fromm, đều là những người có khả năng lớn lao hơn, những vị thầy vĩ đại hơn và những nhà tư tưởng sáng tạo hơn là các vị thầy của tôi trong dòng. Nhưng ngay cả giữa những vị như thế, tôi cũng không thật sự nói rằng tôi đã gặp một vị đại sư phụ mà tôi chỉ có thể gắn chặt trong một tình môn đệ hoàn toàn, bằng cách này hay cách khác. Vì thế, nếu bạn muốn nói theo cách khác, thì tôi giống như mọi người khác, là sản phẩm của môi trường của tôi, nhưng thật sự hơn cả một sản phẩm của một môi trường đa dạng, có lẽ là đồng nhất và có tính hệ thống đã tác động lên tôi từ nhiều phía khác nhau.

America: Với sự tôn trọng đối với Dòng Tên, thì liệu Cha có thể nói rằng Thánh Ignatius Loyola đã hình thành nên kinh nghiệm tu của Cha không?

Cha Rahner: Một cách tự nhiên, tôi không muốn nói quá nhiều về điều đó, vì đó không thật sự là chuyện của một ai khác. Nhưng tôi thật sự nghĩ rằng trong sự so sánh với các nền triết học và thần học đã ảnh hưởng tôi, thì linh đạo Ignatius thật ra quan trọng và ý nghĩa hơn. Chân thành mà nói, thì tôi không thể nói rằng các cá nhân anh em tu sĩ Dòng Tên, các cha linh hướng, các bậc thầy về linh thao và tương tự đã có một ấn tượng choáng ngợp đối với tôi. Thực vậy, tôi chân thành công nhận, nếu người ta được phép thố lộ như thế, thì chẳng hạn, tôi đã thực hiện những cuộc linh thao 8 ngày với Cha quá cố Agustin Bea, sau này Ngài trở thành một hồng y, và với Cha Franz Hürth, là một thần học gia về luân lý quan trọng tại Rôma, nhưng tôi thấy cả hai vị này, những vị thật sự quan trọng trong giáo hội, lại theo truyền thống một cách đáng thất vọng. Nhưng tôi nghĩ rằng linh đạo của chính Thánh Ignatius, một nền linh đạo mà người ta học qua việc thực hành cầu nguyện và đào luyện tu, thì quan trọng hơn đối với tôi so với mọi nền triết học và thần học mà tôi đã được học bên trong và bên ngoài dòng tu.

Dĩ nhiên, cũng có một số vị trong thế hệ Dòng Tên trước tôi là những người mà người ta phải đề cập và những vị mà trong thực tế, đã là những người tiên phong hoặc khai phá của một sự đột phá khỏi triết học và thần học thuộc phong trào tân học thuật. Hiện giờ tôi đang nghĩ về những người như Peter Lippert, hoặc thậm chí nhiều hơn là về Erich Przywara, và có lẽ cũng nghĩ về Dunin Borkowsky. Trong sự kết nối này, có lẽ tôi cũng nên nói việc chưa từng bao giờ có ý định trở thành một nhà nghiên cứu trong lãnh vực thần học linh đạo và lịch sử của nó, tôi đã đọc khá nhiều về các áng văn linh đạo lớn. Rồi sau đó, chỉ trước khi Thế Chiến Thứ II, tôi đã biên tập phiên bản mở rộng bản dịch cuốn sách của Marcel Viller, Asceticism and Mysticism in the Time of the Fathers; đây là một bản dịch của Viller, nhưng chính tôi đã viết một nửa cuốn ấy. Ngoài ra, bạn cũng biết, tôi cũng viết một bài về nền thần bí của Bonaventure. Cũng thế, tôi đặt bản thân tôi cách khá vững trong các nguồn nguyên gốc của linh đạo Dòng Tên. Cũng thế, vì vấn đề này, vào Teresa Avila và Gioan Thánh Giá và tương tự.

Tắt một lời, ngay cả khi tôi vẫn là một tội nhân tội nghiệp, thì tôi nghĩ rằng nền linh đạo tuyệt vời của Giáo Hội nói chung và đặc biệt là của Dòng Tên có một tầm ảnh hưởng rộng và lớn trên đời tôi hơn là tôi noi theo các vị thầy đương thời cả trong và ngoài nhà dòng.

America: Thế Cha có nghĩ rằng sự quan tâm về mục vụ của Cha về mặt thần học cũng sẽ đi ra khỏi việc đọc và nghiên cứu này không?

Cha Rhaner: Tôi đã nói khá thường, và tôi nghĩ là điều đó đúng, là dù là thần học của tôi có trừu tượng và học thuật đến mấy, thì nó vẫn cứ phải có cái kết trong động lực về mục vụ và thừa tác. Ý tôi muốn nói là tôi không bao giờ hoặc ít nhất là rất hiếm khi nghiên cứu thần học vì thần học, giống như “nghệ thuật vị nghệ thuật”.

Điều đó không nhiều lắm vì tôi có thể là rất năng động về mặt mục vụ. Theo lẽ tự nhiên, đặc biệt khi tôi còn trẻ, tôi đã giảng khá thường xuyên. Tại Innsbruck, chẳng hạn, tôi đã giảng mỗi Chúa Nhật trong vòng 10 năm. Khi tôi còn trẻ hơn, tôi đã thực hiện các buổi linh thao thường xuyên – không phải cho mọi người, chẳng hạn, cũng không phải cho các học sinh ở trường cấp 2, mà thực ra, cho nhiều người khác nhau thuộc mọi kiểu: linh mục, thành viên dòng tu, các nữ tu, các nhóm học thức...

Tôi cũng làm công việc mục vụ, mặc dù tôi không nói nhiều về nó. Tại Vùng Hạ Bavaria trong thời chiến, tôi đã giúp mục vụ giáo xứ. Từ năm 1939-1944, trong thời chiến, tôi là một thành viên của Viện Mục Vụ tại Vienna, nơi mà Đức Karl Rudolf, một vị đã qua đời từ lâu, đã phát triển và thiết lập một kiểu viện mục vụ giáo phận vốn hiếm khi nào được nghe đến trước đó, tôi nghĩ, ít nhất tại Trung Âu. Trong thời kỳ trước đó, các trung tâm tuyên úy thường thật sự là ít nhiều là những trung tâm quản trị mang tính quan liêu hơn. Bằng việc thiết lập và phát triển và tổ chức Học Viện Mục Vụ, Đức Rudolf đã làm thay đổi trung tâm quyền lực của bộ máy quản lý giáo phận từ quan liêu sang những tổ chức đặt trọng tâm vào việc sống sự chăm sóc mục vụ. Và trong năm đó, tôi cũng là một trong những cộng sự trung tín nhất của Ngài.

Tóm lại, cả từ mối quan tâm cá nhân, hiện sinh, cũng như từ một sự hiểu biết về những nhu cầu mục vụ, tôi hy vọng và tôi nghĩ rằng thần học của tôi không bao giờ thật sự là “nghệ thuật vị nghệ thuật” theo nghĩa là bình thường trong nền thần học học thuật, ít nhất là trong thần học tín lý, trước thời của tôi. Bạn thấy, chắc chắn là tôi không muốn lấy đi bất cứ điều gì từ Martin Grabmann. Ngài là một linh mục đạo đức cũng hoàn toàn hiểu về các nhiệm vụ mang tính mục vụ và đã làm việc để đáp ứng những nhiệm vụ ấy tốt nhất Ngài có thể. Nhưng một Martin Grabmann, một Artur Landgraf và tương tự thế thì, thật ra, là những học giả thần học đã sống ít nhiều trong niềm xác tín là nền thần học hệ thống theo nghĩa đúng của nó chẳng thể tạo ra được bất cứ một tiến bộ lớn lao nào hơn. Landgraf đã nói điều này cách trực tiếp, rằng tất cả mọi học thuật, nói cho đúng, ít nhất là trong thần học tín lý, đang tập trung vào lịch sử trước đó của nó, để việc nghiên cứu vào lịch sử này là quan trọng, hấp dẫn và thú vị, nhưng thực ra chẳng có nhiều ý nghĩa quan trọng cho việc rao giảng Tin Mừng thời nay, hoặc cho đời sống thiêng liêng thời nay và tương tự.

Nói cách khác, trong những ngày này, ít nhất là trong nền thần học hệ thống – giờ tôi không nói về thần học luân lý hay thần học mục vụ hay giáo lý và tương tự - theo đúng nghĩa là thần học tín lý, thì người ta thật ra đang theo đuổi một nền thần học mang tính hồi tưởng vì sự tò mò mang tính lịch sử. Dĩ nhiên, tôi không muốn nói rằng chính bản thân tôi không bao giờ làm bất cứ một điều gì như thế. Cuốn thứ 11 về Theological Investigations của tôi, với những bài viết của tôi về lịch sử của sự sám hối, chắc chắn chỉ ra điều đó. Nhưng kiểu thần học hồi tưởng này về phần nó thì luôn thật sự xa lạ đối với tôi. Và là kết quả của một nền linh đạo nhất định, của điều thôi thúc tôi theo cách hiện tại và hiện sinh, về công việc mục vụ và thừa tác, tôi đã thật sự thấy, tôi tin, những nhiệm vụ mới quan trọng vốn cũng đã được đặt ra cho nền thần học hệ thống, mang tính lý thuyết.

America: Cha cũng đã nói về chủ đề niềm hy vọng và tương lai khá mạnh và đã tự thể hiện chính Cha một cách lạc quan về điểm cốt lõi đó hơn. Cha có thể nói lên nét đặc thù của toàn bộ nền thần học của cha là mang tính lạc quan, hay có lẽ đúng hơn là thực tế không?

Cha Rahner: Dưới những hoàn cảnh nhất định, bạn có thể một cách tự nhiên tìm thấy những khuynh hướng hay cấp độ trong nền thần học thật sự của tôi vốn có một khuynh hướng mang tính triết học, hay đúng hơn, mang tính lạc quan. Chẳng hạn, khi tôi đã nói trước đó về sự nhân bản hóa thế giới và tương tự, hoặc khi tôi nói rằng bản chất theo nghĩa riêng của nó không còn thuần túy là môi trường cho con người nữa mà là một điểm xây dựng cho một thế giới mà nhân loại tự mình xây dựng nên. Trong những lời nói kiểu thế này, thì có lẽ thật tự nhiên xảy ra là các quan điểm khác sẽ thuộc về kiểu bi quan hơn, nếu bạn muốn, thì sẽ không được chú ý đủ. Nhưng tôi có thể nói là việc bị chi phối hoàn cảnh bởi thời gian theo cách đó, hoặc cũng có lẽ bởi tính tạm bợ và tương tự, thì không quá quan trọng. Thật không quá quan trọng đối với lý do này: Trái lại với nền triết học về tương lai hiện đại, trung lập, Marxist, tôi luôn luôn nhấn mạnh, trước hết, rằng tương lai sau cùng và tuyệt đối là Thiên Chúa như chính Thiên Chúa, và thứ hai, rằng tương lai tuyệt đối này chỉ có thể đạt được qua phương thế là sự chết. Và vì thế, ngược lại với chủ thuyết lạc quan mang tính trung lập, tương lai học thuộc về thời ánh sáng, thì vẫn luôn có khái niệm Kitô Giáo về một thế giới lạc quan mà theo một nghĩa nhất định được dành cho sự chết và mãi mãi bị mắc kẹt trong tình trạng tội lỗi.

America: Tôi tự nghĩ rằng từ “thực tế” thì sẽ là một từ hay hơn – tốt hơn là từ lạc quan hay bi quan.

Cha Rahner: Nếu bạt đặt mỗi và mọi thứ, mọi sự hiểu biết và mọi thực tại, ít nhất về cơ bản và cách cố ý dưới dấu chỉ và dấu ấn của Thiên Chúa như là một mầu nhiệm không bao giờ bị gạt sang một bên, thì một cách tự nhiên, chủ nghĩa lạc quan, chủ nghĩa bi quan, chủ nghĩa thực tế tất cả đều là một tiêu chí rất không tức thời và không cụ thể. Vậy thì thực tế có nghĩa là gì? Thực tế có nghĩa là chỉ chấp nhận thực tại một cách vô điều kiện như nó là. Giờ đây, nếu trước hết nếu cùng một Thiên Chúa không thể hiểu thấu này thuộc về thực tại này như sức mạnh nền tảng và trổi vượt của nó, và thứ đến, nếu Thiên Chúa không thể hiểu thấu này được thật sự đón nhận trong đức tin, đức cậy và đức mến như là việc cho đi và nuôi dưỡng ý nghĩa của đời sống chúng ta, và nếu, thứ ba, sự chấp nhận về mầu nhiệm tuyệt đối này luôn diễn ra một cách nền tảng trong một tình trạng đầu phục vô điều kiện trước Thiên Chúa qua sự chết, và chỉ bằng cách đó, thì chúng ta thật sự có ý nói gì, do đó, qua chủ nghĩa thực tế, hoặc chủ nghĩa lạc quan hay chủ nghĩa bi quan? Tôi không bao giờ muốn là một người bi quan về sự tuyệt vọng. Tôi không bao giờ muốn trở thành một người lạc quan là người coi thường mầu nhiệm sự chết đối với cá nhân và đối với thế giới. Do đó, nếu có ai đó muốn gọi quan điểm khác này lả chủ nghĩa thực tế, cũng được. Nhưng chủ nghĩa thực tế này chắc chắn không phải là chủ nghĩa thực tế theo nghĩa tầm thường hẹp và một đời sống hời hợt. Mặt khác, một người là thực tế theo quan điểm của tôi chỉ khi người ấy tin vào Thiên Chúa và không để cho bản thân mình rơi vào cái vực thẳm khủng khiếp và không thể vãn hồi ấy. Nếu thế thì đó là điều chủ nghĩa thực tế thật sự mang ý nghĩa!

America: Có phải là có những chủ đề, hay có lẽ là một chủ đề, thưa Cha Rahner, vốn làm cho Cha quan tâm đặc biệt là ngày nay, một điều mà Cha vẫn đang muốn nghiên cứu?

Cha Rahner: Thật khó để nói. Một năm hoặc hai năm, có lẽ, tôi thật sự có ý định viết một điều gì đó về giáo huấn chính thống có thể về sự phục hồi (học thuyết rằng tất cả mọi hữu thể tự do sau cùng sẽ cùng chung phần vào ân sủng cứu chuộc). Chắc chắn, nền thần học trước đó đã suy xét đến sự hiện hữu của sự kết án muôn đời và hỏa ngục là một sự thật đã rõ ràng hoặc một điều chắc chắn tuyệt đối sẽ xảy ra, theo cùng một nghĩa là nền thần học ấy xem xét lại thiên đàng và ân phúc muôn đời. Ngày nay, tôi nghĩ, không chỉ chính bản thân tôi mà còn các nhà thần học khác nữa, sẽ nói khác, không muốn trình bày lại một giáo huấn dị giáo về sự khôi phục nữa. Trong thời gian lịch sử của riêng tôi, thực ra toi phải nhắc lại một cách tuyệt đối và vô điều kiện với khả năng của việc bị hư mất đời đời. Nhưng ngoài những bản văn nhất định trong Kinh Thánh Tân Ước, tôi không biết bằng sự chắc chắn tuyệt đối là tình trạng hư mất đời đời này đối với bất cứ một con người cụ thể nào. Và tôi có thể nói, tôi hy vọng, mà không thể biết điều này bây giờ cách chắc chắn, rằng thực ra Thiên Chúa đã tạo ra một thế giới mà trong đó tất cả mọi câu hỏi thực sự tìm được một giải pháp tích cực.

Vì thế tôi vẫn thật sự muốn viết một điều gì đó về một giáo huấn như thế về tình trạng phục hồi vốn mang tính chính thống và chấp nhận được. Nhưng đó là một vấn đề rất khó. Bạn có thể đã học và trả lời một lần nữa những câu hỏi mới trong lịch sử tín lý và đặc biệt trong chú giải; bạn cũng có thể đã suy xét các vấn đề về việc giải thích mang tính chú giải và triết học. Đối với tất cả điều đó, thời gian và sức khỏe của tôi không còn đủ nữa. Và vì thế, tôi không biết điều đó sẽ được thực hiện thế nào.

Trong bất cứ trường hợp nào, thì cuốn thứ 13 (tiếng Đức) về Khảo Cứu Thần Học của tôi đã xuất hiện vào mùa thù năm 1978, và vì thế một cuốn sách nhỏ được viết chung với (Cha Karl-Heinz) Weger. Năm nay cũng thế, bởi vì cuốn sách đã ít nhiều gì đã sẵn sàng, cuốn thứ 14 (Tiếng Đức) của tuyển tập Khảo Cứu Thần Học sẽ xuất hiện. Và vì thế, trong một thời gian dài, ngay cả không có vấn đề về sự khôi phục này, thì tôi đã làm đủ rồi.

America: Trong các tác phẩm của Cha, thì có một bản văn hay một công trình nào đặc biệt quan trọng đối với chính bản thân Cha không?

Cha Rahner: Trước hết, tôi nghĩ, người ta cần phải phân biệt câu hỏi này bằng sự tôn trọng của cái mà tôi gọi là những bài viết mang tính thờ kính, thiêng liêng và rồi thần học mang tính hệ thống hơn – mặc dù trong trường hợp của riêng tôi, thực ra, có lẽ nhiều hơn so với các nhà thần học khác, không có một ranh giới chính xác giữa hai điều.

Chúng ta hãy đơn cử một vấn đề khó của việc cầu nguyện lặp lại. Tôi nghĩ tôi rất có thể đã giải quyết điều đó trong trường hợp của tôi lần đầu tiên trong tập sách về tôn kính, On Prayer. Và ở đó, thực ra, rất có thể tôi đã đưa mọi thứ một cách thần học theo một cách không thật sự khác biệt so với các bản văn này vốn mang tính hệ thống hơn. Cuốn sách nhỏ này, On Prayer, do đó đối với tôi ít nhất là quan trọng ngang với những cuốn mang tính học thuật hơn – mặc dù nó “chỉ” là một cuốn sách về tôn kính.

Do đó bạn cũng có thể nói rằng, từ một quan điểm khác, thì đó không phải là một cuốn sách nhất định nhưng là những ý tưởng nhất định vốn rất quan trọng đối với tôi. Và ở đây tôi chắc chắn không chỉ nghĩ về điều mà người ta thường gọi “nền thần học trổi vượt” của Rahner, mà còn về những vấn đề khác mà về căn bản thật quan trọng đối với tôi. Chẳng hạn, điều tôi gọi là “luận lý của sự hiểu biết cá nhân về Ignatius Loyola” về điều mà (Cha Harvey) Egan tại Mỹ cũng đã viết, tôi nghĩ. Những vấn đề như thế là quan trọng, tôi tin thế; chúng mới mẻ đến một mức độ và thật sự vẫn có những tác động đối với những va61 đề và các nhóm vấn đề khác, ngay cả ở nơi mà người ta chưa thấy điều này cách quá rõ ràng.

Vì, chẳng hạn, tôi đã viết một bài luận mà trong đó tôi đã nỗ lực để cho thấy cùng một luận lý này về sự hiểu biết cá nhân cụ thể là Dòng Tên một cách nền tảng và chính thức, nhưng rằng điều đó đã không có một chỗ trong bất cứ trường hợp nào trong kiểu truyền thống về nền thần học căn bản được anh em Dòng Tên viết ra. Nhưng nó có thể đóng một vai trò quan trọng ở đó. Và vì thế, những thần học gia theo trường phái học thuật của Dòng Tên đã không sử dụng những sự phong phú nhất và quan trọng nhất từ Các Bài Linh Thao để nuôi dưỡng cho nền thần học của các vị ấy. Thay vào đó, các vị ấy đã đề xuất một kiểu thần học thiết yếu và mang tính lý luận về sự hiểu biết như là một nền thần học khả thi duy nhất và không nhận ra rằng Thánh Ignatius đã dạy họ một điều gì đó hoàn toàn khác.

Và vì thế, có những vấn đề như thế trong tác phẩm của tôi. Nhưng nếu bạn hỏi tôi liệu tôi có một kiểu sách yêu thích không, thì tôi thật sự không. Bạn có thể nói, những sách xưa nhất là tốt nhất, bạn biết. Hoặc bạn có thể nói, không, điều đó không đúng, một tác phẩm sau này như Nền Tảng Của Niềm Tin Kitô Giáo là quan trọng nhất. Nhưng rồi, tôi không biết cả hai cuốn đó.

America: Có lẽ sẽ quá nhiều khi hỏi vào phút cuối. Thưa Cha Rahner, Ngài đồng hóa chính Ngài với trung tâm nền thần học của Ngài thế nào?

Cha Rahner: Thật khó nói. Trọng tâm nền thần học của tôi? Lạy Chúa, điều đó không thể là điều gì khác ngoài Thiên Chúa là mầu nhiệm và Chúa Giêsu Kitô, Đấng chịu nạn và Đấng phục sinh, như là một biến cố lịch sử mà trong đó Thiên Chúa này hướng về chúng ta không hề quay lại trong sự tự thông truyền. Vì thế, về nguyên tắc, bạn không thể đưa chỉ một trọng tâm.

Một cách tự nhiên, tất cả các phương thế thuộc về hình học để minh họa thì chưa đủ. Nhưng ngay cả khi tách ra khỏi điều đó, chúng ta phải nhớ rằng con người thì hướng về Thiên Chúa cách vô điều kiện, một Thiên Chúa mà bản thân chúng ta không phải. Và rồi, với Thiên Chúa này, Đấng trong mọi sự hoàn toàn vượt quá chúng ta, với chính Thiên Chúa này, chúng ta có điều gì đó để làm; thực vậy Thiên Chúa không chỉ là một Đấng hoàn toàn ở xa, mà còn là một Thiên Chúa hoàn toàn ở gần, hoàn toàn gần, cũng như trong lịch sử của Ngài. Rõ ràng là vì điều này mà Thiên Chúa là trung tâm đồng thời làm cho Đức Giêsu Kitô là trung tâm. Tôi không biết là bạn sẽ gọi điều đó là gì. Tại sao tôi cần quyết định, có thể nói, đối với một trung tâm mà tôi có thể nói lên nét đặc thù chỉ với một từ? Tôi không nghĩ bạn có thể làm điều đó.

America: Vậy thì thực ra khi Cha nhìn vào thần học, như là “hệ thống” như không phải là một hệ thống sau cùng?

Cha Rahner: Không, không, không! Người ta phải không bao giờ ngừng suy nghĩ quá sớm. Hệ thống thực sự của tư tưởng thật sự là sự hiểu biết mà nhân loại sau cùng một cách cụ thể không hướng đến điều mà nó có thể kiểm soát trong sự hiểu biết mà hướng đến mầu nhiệm tuyệt đối; mầu nhiệm ấy không chỉ là phần còn lại không may của điều vẫn chưa biết mà thay vào đó là một mục tiêu tri thức được chúc phúc vốn đến với chính nó khi nó hòa cùng với Đấng không thể hiểu thấu, chứ không phải theo cách khác. Với những lời khác, do đó, hệ thống là hệ thống của điều không thể được hệ thống hóa.

Và bây giờ, chúng ta hãy dừng ở đó.

America: Xin cám ơn Cha Rahner.

Leo J. O'Donovan, S.J. – Cựu Hiệu Trưởng Đại Học Georgetown, Washington, vào thời điểm bài phỏng vấn này Ngài là giáo sư thỉnh giảng về thần học hệ thống tại Trường Thần Học Weston.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ America Magazine)