Skip to main content
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Đức Hồng Y Bergolio (ĐGH Phanxicô)

Tài Liệu Cho Rằng Đức Giáo Hoàng Phanxicô Đang Tuyền Truyền "Những Điều Dị Giáo": Nó Cũng Đã Xảy Ra Với Đức Wojtyla

Tốc độ của web và các mạng lưới xã hội đang lan truyền thông điệp giúp làm phóng đại điều đang xảy ra – chẳng hạn như trong trường hợp gọi là “sự chỉnh sửa con thảo” dành cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô – sẽ chẳng có gì ngoài việc giống với những gì đã từng xảy ra trước đó. Một cái nhìn cận cảnh vào lịch sử gần đây của Giáo Hội cho thấy rằng đây không phải là trường hợp duy nhất, và sẽ giúp đặt tài liệu đã được ký tên bởi 79 học giả, nhà nghiên cứu, phóng viên và những người viết blog vào vị trí đúng của nó, một tài liệu mà trong đó đã tuyên bố Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tuyên truyền 7 “luận điểm dị giáo”. Các tác giả của tài liệu, cũng được ký bởi cựu chủ tịch của Ettore Gotti Tedeschi, đưa ra 7 “điểm dị giáo” mà Đức Giáo Hoàng đã thực sự chưa bao giờ viết hay nói ra, nhưng là những điều đã được “suy ra” từ huấn quyền và những bài diễn văn của Ngài. Rất có thể đây là bước đầu tiên tiến đến “việc chỉnh sửa chính thức” của điều mà Đức Hồng Y người Mỹ Raymond Leo Burke, một trong bốn chữ ký của lá thư “dubia” về Amoris Laetitia, thường xuyên nói đến.

Một cái nhìn ngược dòng sẽ giúp hiểu được phạm vi thật sự của tài liệu này. Đức Gioan Phaolô II đã liên tục bị tấn công khi Ngài còn sống, vì những lời nói của Ngài phù hợp với Công Đồng Đại Kết Vatican II (vấn đề thật sự đối với nhiều người phê bình) có liên quan đến đại kết, tự do tôn giáo và đối thoại với tôn giáo khác. Sau khi Ngài qua đời, thì một số người từ phía truyền thống nhẹ hơn, như phong trào Sedevacan (Những người tin rằng toà đã bị trống kể từ cái chết của Đức Pius XII), những người đã đến để quở trách Ngài về 101 “điều dị giáo” thách đố huấn quyền của Ngài với những trích dẫn từ các văn kiện Giáo Hoàng trong quá khứ.

Họ phê bình những lời nói của Đức Giáo Hoàng Wojtyla về đại kết, đó là, về “những anh em ly khai”, và sự thật là rõ ràng họ được gọi là những anh em chứ không còn là “con cái của ma quỷ” nữa, về khả năng xác định là “Kitô Hữu” ngay cả khi không phải là Công Giáo, về ơn cứu độ khả thể bên ngoài những ranh giới rõ ràng của Giáo Hội, về ơn cứu độ trẻ em chết khi chưa chịu phép rửa, về khả năng có tử đạo Kitô Giáo bên ngoài Giáo Hội Công Giáo, hoặc việc người Do Thái được xác định là “anh chị em của chúng ta”. Tất cả điều này đều được đi cùng với những ghi chú vốn cho thấy nơi và khi nào Đức Gioan Phaolô II đưa ra những khẳng định này, và nơi và khi nào các Đức Giáo Hoàng trong quá khứ đã khẳng định điều ngược lại.

Nhưng cần phải không được quên rằng trong trường hợp vừa đề cập, thì chúng ta đang nói về những phe cánh cực đoan và ở bên rìa, mà ngày này đang có được “tính đại chúng” nhờ vào sự gia tăng sức mạnh của Internet bất chấp việc thật sự thiếu bất cứ một sự ủng hộ thật nào nơi những người Kitô Hữu. Ở phía ít cực đoan hơn, những chỉ trích và những thỉnh nguyện nói với Thánh Gioan Phaolô II bởi các thần học gia chống lại cái gọi là “chủ nghĩa tập quyền Roma”, vốn rất khác về tính nghiêm túc, giọng điệu sử dụng, luận điểm và kích cỡ. Họ thách đố Vị Giáo Hoàng Balan cũng như người đứng đầu Bộ Giáo Lý Đức Tin của Ngài, Joseph Ratzinger. Chúng ta đang nói về Tuyên Bố Cologne nổi tiếng, mà cho đến tận vài năm trước vẫn được coi là một sự “tấn công vào Huấn Quyền” bởi những người ngày nay đang hành xử cùng một cách thế vì Huấn Quyền đang không nói chính xác điều mà họ nghĩ. Các bè phái có liên hệ vào bản tuyên bố chắc chắn không đánh giá giáo lý của Đức Giáo Hoàng, như trong trường hợp ngày nay, mà là phàn nàn về một xuất phát khỏi những yêu cầu mang tính giáo hội.

Vào năm 1989, các thần học gia từ Tübingen, Norbert Greinacher và Dietmar Mieth và một nhóm những người bất đồng chính kiến cổ võ một “lá thư mở” vốn được ký bởi 162 các bậc thầy dạy Thần Học Công Giáo nói tiếng Đức. Tại Netherlands, 17,000 người giáo dân và giáo sĩ đã nhanh chóng ký vào đó và đã được đi theo bởi 16,000 linh mục coi xứ và người giáo dân, cùng với hàng trăm hoặc các nhóm Công Giáo ở đất nước thời đó là Cộng Hoà Liên Bang Đức. Những tuyên bố tương tự đã xuất hiện tại Bỉ, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Brazil và Hoa Kỳ. Lý do cho việc tuyên bố là việc bổ nhiệm người kế vị giám mục Cologne của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô “mà không tôn trọng những đề nghị của các giáo hội địa phương và phớt lờ đi các quyền đã được định sẵn của họ”.

“Chủ nghĩa tập quyền Tân Rôma” và sự thất bại của Toà Thánh khi lắng nghe các yêu cầu và chỉ dẫn của các Giáo Hội địa phương đã bị chỉ trích. Sự chối bỏ của Vatican để ban hành giấy phép chính thức cho các thần học gia mà Toà Thánh không đồng ý đã được xác định là “sự can thiệp nguy hiểm vào sự tự do tìm kiếm và giảng dạy”. Khả năng giáo lý đúng đắn “vượt xa và mạnh mẽ theo một cách thế không thể chấp nhận được” của Đức Giáo Hoàng bị lên án. Những luận điệu tương tự được sử dụng trong tài liệu này cũng được sử dụng bởi những người đang thách đố Đức Giáo Hoàng Phanxicô, vốn mời gọi “ca1c giám mục hãy nhớ đến gương của Thánh Phaolô, một vị vẫn hiệp thông với Thánh Phêrô trong khi “công khai chống lại Ngài” về vấn đề sứ mạng của Phaolô với dân ngoại”.

Vào ngày 15/05/1989, chuyện đó cũng đã xảy ra tại Ý. Trong một đất nước được coi là đa số Công Giáo ở Châu Âu và nơi mà Đức Giáo Hoàng cư ngụ, 63 thần học gia đã cho đăng trên tạp chí “Il Regno” một tài liệu bất đồng chính kiến có tựa đề “Lá Thư Gửi Người Kitô Hữu – Ngày Nay Trong Giáo Hội”, ở đó họ thể hiện “sự khó chịu của mình vì những thái độ nào đó của việc tập quyền của Giáo Hội trong lãnh vực giảng dạy và kỷ luật”. Văn kiện cũng đã được ký bởi nhiều bậc thầy quan trọng trong các phân khoa và đại học về thần học của Ý.

Thật quan trọng để đề cập rằng chúng ta đang nhắc lại Tuyên Bố Cologne chứ không phải đưa ra những so sánh với điều đã xảy ra trong thời nay, nhưng là để cho thấy những thỉnh nguyện và bất đồng thì không mới mẻ chút nào ra sao.

Trở lại với những phê bình xuất phát từ phía “truyền thống” hơn hay bảo thủ, thì người ta phải không được quên nhưng cuộc tấn công, đôi khi dữ tợn, đối với Đức Giáo Hoàng Benedict XVI vì một vài sự can thiệp của Ngài về chủ đề đại kết hay vì quyết định không tham gia vào cuộc gặp gỡ liên tôn tại Assisi. Cũng không được quên rằng ngay cả Đức Hồng Y Gerhard Ludwig Müller, lúc đó chưa là hồng y, cũng đã bị chỉ trích trong nhiều tuần trước việc Ngài được bổ nhiệm vào Bộ Giáo Lý Đức Tin vào năm 2012. Một hoạt động được thực hiện ở phía chống cấp độ cao từ bên trong Giáo Triều Rôma – chỉ đưa ra một vài những lời nói của Ngài khi phán quyết “dị tính”: một nỗ lực để nỗ lực và ngăn chặn lại việc bổ nhiệm của Ngài.

Việc dịch thành nhiều thứ tiếng về những thông điệp “đầy hoài nghi” của các tác phẩm của Ngài đã đồng loạt được gửi đến vài nhà báo với hy vọng là họ sẽ quay ngòi bút của họ chống lại Đức Muller. Ngày nay, những bản văn đã được phân tán trên mạng internet và blog gần gũi với cái gọi là thế giới người theo truyền thống và lefebrian. Vào lúc đó, Vị bộ trưởng tương lai đã viết rằng “Giáo lý về Đức Trinh Khiết của Đức Trinh Nữ Maria không quá liên quan đến những định đề mang tính sinh lý cụ thể trong tiến trình sinh tự nhiên”, mà “Trong thực tế, thân thể và máu của Đức Kitô không có nghĩa là những thành tố vật chất của con người nhân loại của Chúa Giêsu trong suốt thời gian trần thế của Ngài hay trong thân thể biến hình của Ngài” và rằng nhờ phép rửa “chúng ta là những người Công Giáo và những người Kitô Hữu tin lành đã thực sự hiệp nhất với điều mà chúng ta gọi là Giáo Hội hữu hình”.

Vào thời đó, để bảo vệ Muller, Don Nicola Bux, một người là cố vấn cho Bộ Giáo Lý Đức Tin, đã tham gia vào một cuộc phỏng vấn với Vatican Insider và nói, “sự phát triển mang tính giáo lý hưởng lợi từ sự tranh cãi: ai có nhiều luận điểm hơn, sẽ thuyết phục. Trong những cáo buộc chống lại Đức Giám Mục Muller, có một phép ngoại suy từ bối cảnh: thật dễ dàng để lên án bất cứ ai như thế này. Một người Công Giáo thật sự thì phải tin vào thẩm quyền của Đức Giáo Hoàng, luôn luôn”.

Andrea Tornielli

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Vatican Insider)