Đức Giáo Hoàng Phanxicô - Bài giảng Lễ Ngày Thế Giới Người Nghèo 2020

Dụ ngôn mà chúng ta vừa nghe (Mt 25:14-30) có một khởi đầu, một đoạn giữa, và một sự kết thúc vốn chiếu ánh sáng trên khởi đầu, đoạn giữa, và đoạn cuối cuộc đời của chúng ta.

Khởi đầu. Mọi sự đều bắt đầu bằng một sự tốt lành lớn lao. Người chủ không giữ sự giàu có cho riêng mình, mà trao nó cho các tôi tớ; năm nén cho người này, hai nén cho người kia, và một nén cho người thứ ba, “mỗi người theo khả năng của mình” (Mt 25:15). Người ta tính toán được là một nén thì tương đương với thu nhập của khoảng 20 năm làm việc: đó là một giá trị lớn lao và đủ cho cả một đời. Đây là khởi đầu. Đối với chúng ta cũng vậy, mọi thứ khởi đầu với ân sủng của Thiên Chúa – mọi sự luôn khởi đầu bằng ân sủng, không phải bằng các nỗ lực của chúng ta – bằng ân sủng của Thiên Chúa, Đấng là Cha và trao cho chúng ta quá nhiều thứ tốt lành, khi trao những nén bạc khác nhau cho mỗi người chúng ta. Chúng ta sở hữu một tài sản lớn lao vốn không lệ thuộc vào điều chúng ta sở hữu mà là vào điều chúng ta là: sự sống nhận lãnh được, điều tốt lành nơi chúng ta, và vẻ đẹp không thể xoá nhoà mà Thiên Chúa ban cho chúng ta bằng việc tạo nên chúng ta theo hình ảnh của Ngài…Tất cả những thứ này làm cho chúng ta trở nên quý giá trước mắt Ngài, mỗi người chúng ta đều vô giá và độc nhất trong lịch sử! Đây là cách mà Thiên Chúa nhìn vào chúng ta, cách Thiên Chúa cảm đối với chúng ta.

Chúng ta cần nhớ điều này. Quá thường là, khi chúng ta nhìn vào đời mình, chúng ta chỉ thấy những thứ chúng ta thiếu, và chúng ta phàn nàn về điều chúng ta thiếu. Do đó chúng ta dễ rơi vào cơn cám dỗ để nói: “Giá mà…!” Giá mà tôi có được công việc ấy, giá mà tôi có ngôi nhà ấy, giá mà tôi có tiền và sự thành công, giá mà tôi đừng có vấn đề này hay vấn đề kia, giá mà tôi có những người tốt ở quanh tôi…! Nhưng đây là những từ ảo tưởng – giá mà! – sẽ làm cho chúng ta không thấy được điều tốt quanh mình. Chúng làm cho chúng ta lãng quên những tài năng mình có. Bạn có thể không có điều đó, nhưng bạn thực sự có điều này, và “giá mà” sẽ làm cho chúng ta lãng quên điều này. Nhưng Thiên Chúa đã ban cho chúng ta những khả năng này vì Ngài biết từng người chúng ta và Ngài biết khả năng của chúng ta. Ngài tin tưởng chúng ta, bất chấp những yếu đuối của chúng ta. Thậm chí Thiên Chúa còn ban cho người tôi tớ là người sẽ chôn giấu nén bạc của mình, hy vọng rằng ngoài sự sợ hãi của mình, thì anh ta cũng dùng tốt điều mà anh ta đã lãnh nhận. Tắt một lời, Chúa mời gọi chúng ta hãy dùng trọn vẹn những phút giây hiện tại, không luyến tiếc quá khứ mà đợi chờ cách thức tỉnh sự trở lại của Ngài. Thật tồi tệ biết bao là sự hoài niệm ấy, vốn giống như một thứ tâm trạng tăm tối đang đầu độc linh hồn chúng ta và luôn làm cho chúng ta ngoái nhìn lại, luôn nhìn vào người khác, nhưng không bao giờ nhìn vào tay mình hoặc vào các cơ hội cho công việc mà Chúa ban cho chúng ta, không bao giờ nhìn vào tình hình của mình…thậm chí không nhìn vào sự nghèo nàn của bản thân.

Điều này dẫn chúng ta đến đoạn giữa của dụ ngôn: công việc của các tôi tớ, chính là sự phục vụ. Phục vụ cũng là công việc của chúng ta; nó làm cho các nén bạc của chúng ta sinh hoa trái và nó mang lại ý nghĩa cho cuộc đời chúng ta. Những người không sống để phục vụ, thì đang phục vụ cho sự nhỏ nhen trong đời này. Chúng ta phải lặp lại điều này, và lặp lại thường xuyên: những người không sống đề phục vụ, thì đang phục vụ cho điều nhỏ nhen trong đời này. Và chúng ta phải suy tư về điều này: những người đang không sống đề phục vụ, thì đang phục vụ cho điều nhỏ nhen trong đời này. Nhưng chúng ta đang nói về kiểu phục vụ nào? Trong Tin Mừng, những người tôi trung tốt lành là những người chịu rủi ro. Họ không sợ hãi và không quá cẩn trọng, họ không dính bén vào điều họ sở hữu, nhưng sử dụng chúng cho điều tốt. Vì nếu sự tốt lành mà không được đầu tư, thì nó sẽ bị mất, và vẻ huy hoàng của cuộc đời chúng ta không được đo lường bởi việc chúng ta tiết kiệm được bao nhiêu mà là bởi hoa trái mà chúng ta sinh ra. Biết bao nhiêu người đang dùng đời họ chỉ để tích luỹ tài sản, chỉ quan tâm về cuộc sống tốt lành chứ không phải điều tốt mà họ có thể làm. Nhưng rồi thật trống rỗng biết bao là một cuộc đời chỉ đặt trọng tâm vào những nhu cầu của chúng ta và lại bịt mắt trước những nhu cầu của người khác! Lý do mà chúng ta nhận được các quà tặng là để chúng ta trở thành quà tặng cho người khác. Và ở đây, anh chị em thân mến, chúng ta phải tự hỏi bản thân mình câu hỏi này: tôi có đang chỉ đi theo những nhu cầu riêng tôi, hay tôi đang nhìn đến nhu cầu của người khác, theo nhu cầu của bất cứ ai đang cần giúp đỡ? Và đôi bàn tay tôi có đang mở ra, hay nó đang khép lại?

Thật ý nghĩa là những người tôi tớ đã đầu tư các nén bạc của họ tăng gấp 4 lần, là những người chịu rủi ro, lại được gọi là “trung tín” (cc. 21, 23). Đối với Tin Mừng, sự trung tín thì không bao giờ có nghĩa là không chịu rủi ro. “Nhưng, thưa cha, liệu việc là một người Kitô Hữu có nghĩa là chịu rủi ro không?” – “Đúng rồi, con yêu, chịu rủi ro. Nếu con không chịu rủi ro, thì con sẽ mang lấy kết cục đời mình như người tôi tớ thứ ba: chôn giấu đi những khả năng của con, những sự phong phú về tinh thần và vật chất của con, mọi sự”. Chấp nhận rủi ro: sẽ không có sự trung tín nếu không có sự rủi ro. Lòng trung thành với Thiên Chúa có nghĩa là giao nộp chính sự sống của chúng ta, hãy để cho những kế hoạch đã được hoạch định cách kĩ càng bị sụp đổ bởi nhu cầu cần phục vụ của chúng ta. “Nhưng con có kế hoạch của con, và nếu con phải phục vụ…” Hãy để cho những kế hoạch của bạn bị đổ bể, và hãy phục vụ. Người ta nói khi người Kitô Hữu chơi một trò chơi mang tính bảo vệ, thì nội dung chỉ là tuân thủ luật và tuân thủ mệnh lệnh. Những người Kitô Hữu “điều độ” này là những người không bao giờ đi ra khỏi những ranh giới, không bao giờ, vì họ sợ rủi ro. Và những người này, cho phép tôi dùng hình ảnh này, là những người tự quan tâm bản thân để tránh sự rủi ro bắt đầu ngay trong đời họ một tiến trình tẩm ướp cho linh hồn họ, và họ kết thúc đời mình như những chiếc xác ướp. Tuân thủ luật thôi chưa đủ; trung thành với Chúa Giêsu thì không chỉ là về việc đừng phạm những sai phạm, điều này khá sai. Đó là điều mà người tôi tớ lười biếng trong dụ ngôn tưởng: vì thiếu sáng kiến và sự sáng tạo, nên anh ta tự rơi vào một sự sợ hãi không cần thiết và chôn vùi nén bạc mà anh nhận được. Người chủ thật sự gọi anh là “kẻ hèn” (c. 26). Và rồi anh ta không làm gì sai trái cả! Mà anh cũng chẳng làm điều tốt nào. Anh ta thích phạm tội bằng việc loại bỏ hơn là chịu rủi ro phạm một sai phạm. Anh ta không trung thành với Thiên Chúa, là Đấng đã cho đi nhưng không, và anh ta làm cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa nên tồi tệ hơn bằng việc trả lại nén bạc anh nhận được. “Chúa trao cho con nén bạc này, và con trả lại cho Ngài”, không gì hơn nữa. Thiên Chúa, về phần Ngài, mời gọi chúng ta hãy đại lượng, hãy chiến thắng sự sợ hãi bằng sự can đảm của tình yêu, vượt thắng sự bị động vốn trở nên sự thoả hiệp. Ngày nay, trong thời điểm không chắc chắn này, trong thời gian bất ổn này, chúng ta đừng lãng phí đời mình khi chỉ nghĩ về bản thân mình, thờ ơ với người khác, hoặc tự lừa phỉnh bản thân bằng việc nghĩ: “bình an và sự an toàn” (1. Tx 5:3). Thánh Phaolô mời gọi chúng ta hãy nhìn vào thực tại khi đối diện và tránh sự tiêm nhiễm sự thờ ơ.

Do đó chúng ta sẽ phục vụ thế nào, như Thiên Chúa muốn chúng ta phục vụ? Người chủ nói với người tôi tớ bất trung: “Đáng lý anh phải gởi số bạc của tôi vào ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu được cả vốn lẫn lời chứ!” (c. 27). Ai là những “ngân hàng” có thể mang lại cho chúng ta lãi suất dài hạn? Họ là những người nghèo. Đừng quên: người nghèo là trọng tâm của Tin Mừng; chúng ta không thể hiểu Tin Mừng mà không có người nghèo. Người nghèo giống như chính Chúa Giêsu, Đấng dù giàu có, nhưng tự huỷ chính mình, để làm cho Ngài trở nên nghèo khó, thậm chí mang lấy tội lỗi nơi Ngài: hình thức tồi tệ nhất của sự nghèo. Người nghèo đảm bảo cho chúng ta nguồn thu nhập vĩnh cửu. Thậm chí ngay bây giờ người nghèo sẽ giúp chúng ta trở nên giàu có về tình yêu. Vì kiểu nghèo tồi tệ nhất cần phải loại bỏ là tình trạng nghèo tình yêu của chúng ta. Nhưng Sách Châm Ngôn khen ngợi người phụ nữ giàu về tình yêu, mà giá trị của nó lớn hơn cả giá trị của những viên ngọc. Chúng ta được dạy hãy noi theo người phụ nữ ấy, là người “mở bàn tay bà cho người nghèo” (Cn 31:20): đó là sự giàu có lớn lao của người phụ nữ này. Hãy mở tay bạn ra cho người nghèo, thay vì đòi hỏi điều bạn thiếu. Bằng cách này, bạn sẽ nhân rộng các nén bạc mà bạn đã nhận lãnh được.

Mùa Giáng Sinh đang đến gần, mùa lễ hội. Biết bao lần chúng ta nghe người ta hỏi: “Tôi có thể mua cái gì? Tôi có thể mua thêm cái gì? Tôi phải đi mua sắm”. Chúng ta hãy dùng những từ ngữ khác: “Tôi có thể cho người ta cái gì?, để trở nên giống như Chúa Giêsu, Đấng đã tự trao ban chính mình và được sinh ra trong máng cỏ”.

Giờ đây chúng ta đi đến đoạn cuối của dụ ngôn. Một số người sẽ giàu có, trong khi những người khác, những người có nhiều và lãng phí đời mình, sẽ trở nên nghèo” (x. c. 29). Do đó, vào cuối đời mình, sự thật sẽ được tỏ lộ. Sự giả bộ của thế giới này sẽ qua đi, với những thứ của nó là sự thành công, quyền lực, đồng tiền mang lại ý nghĩa cho đời sống, trong khi tình yêu – tình yêu mà chúng ta đã trao ban – sẽ được tỏ lộ là những tài sản thật sự. Những điều này sẽ sụp đổ, nhưng tình yêu sẽ lớn mạnh. Một vị Đại Giáo Phụ đã viết: “Đối với đời này, khi sự chết xuất hiện và rạp trở nên hoang vắng, khi mọi sự sẽ gỡ hết mặt nạ về sự giàu có hay nghèo nàn của chúng ra và do đó ra đi, thì chỉ việc họ làm mới được xét đến, họ sẽ được thấy như họ là: một số sẽ thật sự giàu có, những người khác lại nghèo” (Thánh GIOAN CHRISOSTOM, Bài Giảng Về Người Nghèo Lazarus, II, 3). Nếu chúng ta không muốn sống cuộc đời nghèo nàn, chúng ta hãy xin ân sủng để nhìn Chúa Giêsu nơi người nghèo, để phục vụ Chúa Giêsu nơi người nghèo.

Tôi muốn cám ơn hết mọi người tôi tớ trung tín của Thiên Chúa là những người sống thầm lặng theo cách này, phục vụ người khác. Chẳng hạn, tôi nghĩ đến Cha Roberto Malgesini. Vị linh mục này không thích các thứ lý thuyết; Ngài chỉ đơn giản thấy Chúa Giêsu nơi người nghèo và tìm thấy ý nghĩa trong cuộc sống bằng việc phục vụ họ. Ngài đã lau khô những giọt lệ của họ bằng sự dịu dàng của Ngài, nhân danh Thiên Chúa là Đấng ủi an. Khởi đầu ngày sống của Ngài là cầu nguyện, nhận lãnh ơn huệ của Thiên Chúa; giữa ngày sống của Ngài là bác ái, làm cho tình yêu mà Ngài nhận lãnh được sinh hoa trái; cuối ngày sống cảu Ngài là chứng tá rõ ràng của Ngài cho Tin Mừng. Ngài đã nhận ra rằng Ngài cần phải giơ tay Ngài ra cho hết mọi người nghèo mà Ngài gặp gỡ mỗi ngày, vì Ngài thấy Chúa Giêsu nơi từng người trong số họ. Anh chị em thân mến, chúng ta hãy xin ân sủng để là các Kitô Hữu không phải theo ngôn từ, mà là nơi hành động. Để sinh hoa trái, như Chúa Giêsu mong muốn. Chớ gì điều này thật sự là thế.

Joseph C. Pham (ZENIT)