Skip to main content
Cha Cantalamessa - vị giảng thuyết cho giáo triều (OSS_ROM)

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ I Mùa Vọng 2016

Bài giảng tĩnh tâm tuần thứ I Mùa Vọng cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô và Giáo Triều Rôma, 02/12/2016 tại Nhà Nguyện Redemptoris Mater, Vatican. 

TÔI TIN CHÚA THÁNH THẦN

1. Sự Sáng Tạo sau Công Đồng

Với việc cử hành 50 năm kết thúc Công Đồng Vatican II, thì giai đoạn đầu tiên “hậu công đồng” đang đi đến hồi kết và một giai đoạn mới mở ra. Trong giai đoạn đầu tiên được phân loại bởi những vấn đề có liên hệ đến “việc tiếp nhận” Công Đồng, thì giai đoạn mới này sẽ mang nét đặc trưng, tôi tin thế, bởi sự hoàn tất và hội nhập của Công Đồng – nói theo cách khác, bởi việc đọc lại Công Đồng dưới một ánh sáng hoa trái mà công đồng tạo ra trong khi cũng nhấn mạnh điều gì còn thiếu ở trong đó hoặc chỉ hiện diện trong một giai đoạn phát triển.

Sáng tạo chính về thần học và trong đời sống của Giáo Hội sau Công Đồng có một tên gọi cụ thể: Chúa Thánh Thần. Công Đồng chắc chắn không phớt lờ hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội, nhưng Công Đồng đã nói về điều ấy gần như luôn luôn “trong sự chuyển động”, thường đề cập đến Ngài mà không nhấn mạnh vai trò trung tâm của Ngài, thậm chí ngay trong Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh. Trong cuộc trao đổi trong thời gian mà chúng tôi có với nhau tại Uỷ Ban Thần Học Quốc Tế, tôi nhớ là Cha Yves Congar đã sử dụng một hình ảnh rất ấn tượng khi nói đến điều này: Ngài nói về một Chúa Thánh Thần là Đấng được rải rác ở đó đây trong khắp các văn kiện giống như đường được rải trên các loại bánh ngọt dù là một phần của chính chiếc bánh.

Tuy nhiên, tình trạng tan rã đã bắt đầu. Chúng ta có thể nói rằng trực giác của Thánh Gioan XXIII về Công Đồng là “một Lễ Hiện Xuống mới đối với Giáo Hội” có được sự hiện thực hoá của nó chỉ sau khi kết thúc Công Đồng, như đã quá thường xảy ra trong lịch sử của các Công Đồng.

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ II Mùa Vọng 2016

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ III Mùa Vọng 2016

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ IV Mùa Vọng 2016

Trong năm tới, dịp kỷ niệm 50 năm về sự bắt đầu của Canh Tân Đặc Sủng trong Giáo Hội Công Giáo sẽ diễn ra. Đó là một trong nhiều dấu chỉ - dấu chỉ đáng chú ý nhất vì tính qui mô của hiện tượng – một sự thức tỉnh trước Chúa Thánh Thần và các đặc sủng trong Giáo Hội. Công Đồng đã mở lối cho sự đón nhận này, nói theo ngôn ngữ của Lumen gentium về chiều kích đặc sủng của Giáo Hội cùng với các chiều kích hiến chế và phẩm trật và khẳng định về tầm quan trọng của các đặc sủng.[1] Trong bài giảng Lễ Truyền Dầu vào Thứ Năm Tuần Thánh năm 2012, Đức Benedict XVI khẳng định,

Bất cứ ai nhìn đến lịch sử kỷ nguyên hậu công đồng đều có thể nhận ra quá trình của một sự canh tân thực sự, vốn thường mang lấy những hình thức ngoài mong đợi trong những thời khắc sống và làm cho tính sống động thiết yếu không thể cạn vơi của Giáo Hội được trở nên hữu hình, sự hiện diện và hiệu năng của Chúa Thánh Thần.

Kinh nghiệm được canh tân đương đại của Chúa Thánh Thần tạo nên sự suy tư về thần học.[2] Ngay sau Công Đồng, những suy tư về Chúa Thánh Thần gia tăng: giữa những người Công Giáo, có suy tư của Yves Congar[3], của Karl Rhaner[4], của Heribert Mühlen[5], của Hans Urs von Balthasar[6]; trong số những anh em Tin Lành Luther, có Jürgen Moltmann[7], Michael Welker[8], và nhiều người khác nữa. Về phía giáo quyền thì có tông thư Doninum et vivificantem (Về Chúa Thánh Thần trong Đời Sống của Giáo Hội và Thế Giới) bởi Thánh Gioan Phaolô II. Vào năm 1982 nhân dịp 600 năm Công Đồng Constantinople Đầu Tiên vào năm 381, thì Đức Giáo Hoàng tài trợ cho Hội Nghị Quốc Tế về Thánh Linh Học tại Vatican, và những thành quả đầu tiên của hội nghị này đã được xuất bản thành hai tập sách lớn được gọi là Credo in Spiritum Sanctum[9].

Trong những năm gần đây chúng ta đã chứng kiến một bước tiến mang tính quyết định theo hướng này. Hướng đến sự kết thúc sự nghiệp của mình Karl Barth đã đưa ra một tuyên bố mang tính gọi mời vốn là một phần của một sự tự phê bình. Ông đã nói trong tương lai một nền thần học mới sẽ được phát triển, “thần học về ngôi thứ ba”[10]. Qua từ “ngôi thứ ba” dĩ nhiên là ông muốn nói đến điều trong kinh tin kính về Chúa Thánh Thần. Lời đề nghị của ông đã không trở nên vô ích (không rơi vào những lỗ tai điếc). Điều đó đã mang lại sự phát triển cho dòng chảy thần học hiện tại cụ thể có tên gọi là “Nền Thần Học về Ngôi Thứ Ba”.

Tôi không nghĩ rằng một dòng chảy như thế lại nhắm vào việc tự bổ sung vào trong nền thần học truyền thống (và đó sẽ là một sai lầm nếu xảy ra); hơn là nó mang ý nghĩa là đi cùng với nền thần học truyền thống và làm sống lại nền thần học ấy. Nền thần học mớ này là để làm cho Chúa Thánh Thần không chỉ là đối tượng của một trong bài giảng, thánh linh học, mà còn là bầu khí, có thể nói, trong đó toàn thể đời sống của Giáo Hội và tất cả mọi nghiên cứu thần học trổ sinh – vì Chúa Thánh Thần là “ánh sáng của giáo lý”, nhưng Giáo Phụ xưa đã mô tả về Ngài.

Bài luận hoàn chỉnh nhất về dòng chảy thần học này là một tuyển tập được viết bởi các học giả bằng Tiếng Anh trong Tháng 9 vừa qua có tên gọi là Nền Thần Học Ngôi Ba [11]. Bắt đầu bằng truyền thống lớn lao về giáo lý ba ngôi, các thần học gia của nhiều Giáo Hội Kitô Giáo đưa ra những đóng góp của mình đối với tuyển tập này như là một sự giới thiệu cho nền thần học hệ thống vốn mở ra nhiều hơn cho Chúa Thánh Thần và cho sự đáp trả trước những nhu cầu hiện tại. Là một người Công Giáo, tôi cũng được mời gọi để đóng góp cho tuyển tập này với một bài luận về “Kitô Học và Thánh Linh Học trong Những Thế Kỷ Đầu của Giáo Hội”.

2. Kinh Tin Kính Đọc Từ Dưới Lên

Những lý do đảm bảo cho định hướng thần học mới này không chỉ là về tính học thuyết mà còn mang tính lịch sử. Nói cách khác, chúng ta có thể hiểu điều mà nền thần học ngôi ba này là gì và nền thần học này nhắm đến điều gì nếu chúng ta giữ trong tư tưởng cách mà biểu tưởng của Công Đồng Nicene-Constantinople đã diễn ra. Lịch sử ấy đã rõ ràng chỉ đến tính hữu dụng của việc xem xét biểu tượng ấy “theo chiều ngược lại” ở một điểm nào đó, đó là, khởi đầu từ cuối thay vì từ đầu.

Tôi sẽ giải thích ý tôi muốn nói gì. Biểu tượng của Công Đồng Nicene-Constantinople phản ánh niềm tin Kitô Giáo vào giai đoạn cuối cùng sau tất cả mọi sự làm rõ và định nghĩa của mình đã được hoàn tất vào thế kỷ thứ năm. Nó phản ánh một trật tự đạt được vào cuối của quá trình hình thành nên học thuyết, nhưng rồi nó cũng không phản ánh chính bản thân quá trình, niềm tin vào việc tạo thành. Nói cách khác, biểu tượng này không đáp ứng quá trình mà qua đó niềm tin của Giáo Hội thật sự được hình thành theo dòng lịch sử, cũng không đáp ứng quá trình mà qua đó một số người đạt tới niềm tin ngày nay, được hiểu như là một niềm tin sống động vào một Thiên Chúa hằng sống.

Trong kinh tin kính ngày nay người ta bắt đầu bằng Thiên Chúa là Cha và là Đấng Tạo Thành và tiếp tục đi từ Ngài đến Chúa Con và công trình cứu chuộc của Ngài, và cuối cùng là Chúa Thánh Thần hoạt động trong Giáo Hội. Trong thực tế, niềm tin đi theo con đường ngược lại. Chính là kinh nghiệm Hiện Xuống của Chúa Thánh Thần dẫn Giáo Hội đến việc khám phá Chúa Giêsu là ai và giáo huấn của Ngài là gì. Với Phaolô và trên hết là với Gioan thì chúng ta đạt tới điểm đi lên từ Chúa Giêsu tới Chúa Cha. Chính Đấng Bảo Trợ là Đấng, theo lời hứa của Chúa Giêsu (x. Ga 16:13), dẫn các môn đệ đi đến “sự thật toàn vẹn” về chính Ngài và Chúa Cha.

Thánh Basil Caesarea tóm lược sự phát triển của mạc khải và lịch sử cứu độ thế này:

Cách hiểu về Thiên Chúa hệ xuất phát từ Thần Khí Duy Nhất qua Con Một đến Một Cha, và ngược lại Đấng Nhân Lành về bản tính và Đấng Thánh Thiện thuộc hữu và Phẩm Giá trung tín mở rộng từ Chúa Cha qua Chúa Con và đến Chúa Thánh Thần[12].

Nói cách khác, ở mức độ về việc tạo dựng và hiện hữu, thì mọi sự đều xuất phát từ Chúa Cha, đi qua Chúa Con, và đến với chúng ta qua Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, theo trận tự cứu chuộc và nhận biết có ý thức, thì mọi sự khởi đầu từ Chúa Thánh Thần, đi qua Chúa Con là Đức Giêsu Kitô, và trở về với Chúa Cha. Chúng ta có thể nói rằng Thánh Basil là một nhà khai sáng ra Nền Thần Học Ngôi Ba! Theo truyền thống Tây Phương thì điều này được diễn tả một cách cụ thể ở trong đoạn cuối của bài ca “Veni creator”. Thưa lên Chúa Thánh Thần, Giáo Hội cầu nguyện,

Nhờ có Cha con biết Thiên Chúa Cha
Cha chỉ ra cho con Thiên Chúa Con
Và Thánh Linh Người con nguyện xin đây.
Đến muôn đời con mến yêu cậy tin.

Ít nhất thì điều này không có nghĩa là kinh tin kính của Giáo Hội là bất toàn hay có nghĩa là kinh này cần phải tái kết cấu lại. Kinh này không thể khác được so với điều đang là. Tuy nhiên, đôi khi điều thật hữu ích là việc thay đổi cách tiếp cận của chúng ta khi đọc Kinh này để tìm lại dấu vết của con đường mà qua đó Kinh này được tạo nên. Có cùng một sự tương phản giữa hai cách tiếp cận Kinh Tin Kính – như là một thành phẩm và trong quá trình tạo thành – mặt khác giống như sự khác biệt giữa việc rời khỏi Tu Viện của Thánh Catherine vào sáng sớm và cá nhân leo Núi Sinai và, mặt khác, việc đọc lại đoạn mô tả có ai đó đã lên lên núi này trước khi chúng ta đã thực hiện.

3. Một Nhận Định về “Thần Học Ngôi Ba”

Trong quan điểm này, tôi muốn mang lại những suy tư về một số khía cạnh của hoạt động của Chúa Thánh Thần trong ba bài suy niệm của Mùa Vọng, khởi đầu cách cụ thể bằng đoạn thứ ba của kinh tin kính nói về Ngài. Đoạn này bao gồm 3 khẳng định tuyệt vời. Chúng ta hãy bắt đầu bằng khẳng định đầu tiên thế này,

a) “Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống”.

Kinh tin kính không nói rằng Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa “thể xác định” (như ở trên trong kinh tin kính chúng ta tuyên xưng, “Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô”!). “Chúa” (trong bản văn gốc, to kyrion, trung dung) cho thấy ở đây bản tính, không phải con người; mà nói về Chúa Thánh Thần là gì chứng không phải Ngài là ai. “Chúa” có nghĩa là Chúa Thánh Thần thông phần vào quyền làm chúa của Thiên Chúa, rằng Ngài ở torng nhóm Đấng Tạo Thành, chứ không phải trong nhóm thọ tạo. Nói cách khác, Ngài có bản chất thần thánh.

Giáo Hội đạt tới sự chắc chắn này không chỉ dựa trên Kinh Thánh, mà còn dựa trên kinh nghiệm về ơn cứu độ của mình. Thần Khí, Thánh Athanasius viết, không thể là một thọ tạo vì khi chúng ta được Ngài chạm đến (trong các bí tích, qua lời, qua việc cầu nguyện), thì chúng ta kinh nghiệm được việc đị vào trong mối liên hệ với Thiên Chúa theo nhân vị chứ không phải với sự trung gian của Người. Nếu Chúa Thánh Thần thánh hoá chúng ta, thì có nghĩa là Ngài chính là Thiên Chúa[13].

Chúng ta có thể được nói cùng một điều theo biểu tượng của đức tin một cách cụ thể hơn, xác định Chúa Thánh Thần thuần tuý và đơn giản là “Thiên Chúa và đồng bản thể với Đức Chúa Cha” như đã thực hiện với Chúa Con không? Dĩ nhiên, và đây là sự phê bình về định nghĩa đã nhanh chóng được đưa ra bởi một số giám mục, gồm cả Gregory Nazianzus. Tuy nhiên, vì một số lý do về sự thuận tiện và bình an, nên nói cùng một điều với những lối diễn tả tương xứng dành cho Chúa Thánh Thần, được chuẩn nhận, ngoài tước hiệu “Chúa”, isotimia, đó là, phẩm chất với Chúa Cha và Chúa Con được Giáo Hội tôn thờ và tôn vinh.

Việc mô tả Chúa Thánh Thần là “Đấng ban sự sống” được lấy từ nhiều đoạn khác nhau trong Kinh Thánh Tân Ước: “Thần khí mới làm cho sống” (Ga 6:63); “luật của Thần Khí ban sự sống trong Ðức Kitô Giêsu” (Rm 8:2); “Ađam cuối cùng là thần khí ban sự sống” (1 Cr 15:45); “chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới ban sự sống” (2 Cr 3:6). 

Chúng ta hãy đặt ra đây 3 câu hỏi. Thứ nhất, loại sự sống nào mà Chúa Thánh Thần ban? Câu trả lời: sự sống thần linh, sự sống của Đức Kitô. Một sự sống siêu nhiên, chứ không phải là một siêu sự sống tự nhiên. Ngài tạo nên một con người mới, không phải siêu nhân của Nietzsche với “sự kiêu ngạo về sự sống của nó”. Thứ hai, Ngài ban cho chúng ta sự sống này ở đâu? Câu trả lời: trong phép rửa, thực ra là được tượng trưng cho một “sự tái sinh trong Thần Khí” (x. Ga 3:5), trong các bí tích, trong Lời Chúa, trong cầu nguyện, trong đức tin, và trong đau khổ được chấp nhận trong sự hiệp thông với Đức Kitô. Câu hỏi thứ ba, Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta sự sống bằng cách nào? Câu trả lời: qua việc làm cho các hoạt động của tính xác thịt chết đi! Ngài ban cho chúng ta sự sống qua sự chết. “Nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống”, Thánh Phaolô viết trong Rôma 8:13.

b)...Người bởi Đức Chúa Cha (và Đức Chúa Con) mà ra, Ngài cũng được phụng thờ và tôn vinh cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con”.

Giờ đây chúng ta đi đến điểm xác quyết lớn thứ hai của Kinh Tin Kính về Chúa Thánh Thần. Cho đến điểm này thì kinh tin kính đã nói cho chúng ta về bản tính của Chúa Thánh Thần nhưng chúng ta vẫn chưa biết về ngôi vị của Chúa Thánh Thần. Kinh tin kính nói về Ngài là gì chứ không nói Ngài là ai. Kinh tin kính cũng nói cho chúng ta về điểm chung mà Chúa Thánh Thần và Chúa Cha và Chúa Con cùng thông phần – sự thật về việc là Thiên Chúa và ban sự sống. Tuy nhiên, với sự xác quyết hiện tại này, chúng ta đi đến điều phân biệt Chúa Thánh Thần với Chúa Cha và Chúa Con. Điều phân biệt Ngài với Chúa Cha là việc Ngài bởi Chúa Cha mà ra. (Đấng sinh ra thì khác với Đấng từ đó mà được sinh ra!) Điều phân biệt Chúa Thánh Thần và Chúa Con là việc Ngài sinh ra từ Chúa Cha không phải bởi việc tạo sinh mà bởi spiration, một hơi thở sinh ra. Để diễn tả điều này theo nghĩa biểu tượng, thì Ngài không giống như một khái niệm (logos) sinh ra từ tư tưởng nhưng giống như hơi thở sinh ra từ miệng.

Đây là phần then chốt của đoạn thứ ba trong kinh tin kính vì nó có ý xác định vị thế mà Đấng Bảo Trợ có trong Ba Ngôi. Phần này của kinh tin kính nổi tiếng chủ yếu về vấn đề Filioque mà cả một thiên niên kỷ vẫn là điểm chính của sự bất đồng giữa Giáo Hội Phương Đông và Phương Tây. Tôi sẽ không dành thời gian về vấn đề này vì sẽ cần phải được thảo luận nhiều hơn nữa mới đủ và chính tôi cũng nói về điều đó trong bối cảnh này trong Mùa Vọng năm ngoái trong phần nói đến những điểm đồng thuận về niềm tin giữa Phương Đông và Phương Tây.

Tôi sẽ tự giới hạn bản thân tôi để nhấn mạnh điều chúng ta có thể rút ra được từ phần này về biểu tượng làm phong phú niềm tin chung của chúng ta, gác sang một bên những tranh cãi thần học. Phần ấy nói cho chúng ta biết rằng Chúa Thánh Thần không chỉ là “một quan hệ nghèo nàn”, có thể nói, trong Ba Ngôi. Ngài không phải là “một cách mà Thiên Chúa hành động”, một năng lượng hay một yếu tố làm chuyển động vũ trụ như người Stoics nghĩ. Ngài là một “mối liên hệ bổ trợ” và do đó là một ngôi vị.

Ngài không qúa thuộc về “ngôi thứ ba đơn độc” so với Ngài là “ngôi thứ nhất số nhiều”. Ngài là “Chúng Ta” của Chúa Cha và Chúa Con[15]. Để diễn tả điều này theo cách con người, khi Chúa Cha và Chúa Con nói về Chúa Thánh Thần các Ngài không nói “vị ấy”; thay vào đó các Ngài nói “chúng ta” vì Ngài trong sự hiệp nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con. Ở đây chúng ta có thể thấy khả năng sinh sản bất thường thuộc về sự hiểu biết của Thánh Augustine mà trong đó Chúa Cha là Đấng yêu thương, Chúa Con là Đấng được yêu, và Chúa Thánh Thần là tình yêu hiệp nhất các Ngài, một ơn ban hỗ tương[16]. Niềm tin của Giáo Hội Phương Tây là Chúa Thánh Thần sinh “bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con” là dựa trên điểm này.

Tuy nhiên, Chúa Thánh Thần sẽ luôn luôn là Thiên Chúa kín ẩn, ngay cả khi chúng ta có thể nhận biết Ngài qua những tác động của Ngài. Ngài giống như gió: không ai biết gió đến từ đâu và gió sẽ thổi đi đâu, nhưng chúng ta có thể thấy được tác động đi qua của gió. Ngài giống như ánh sáng chiếu soi mọi thứ xung quanh nhưng vẫn vô hình.

Đây là lý do vì sao mà Thiên Chúa được biết đến ít nhất và được yêu mến ít nhất trong Ba Ngôi, bất chấp sự thật là Ngài là Tình Yêu trong ngôi vị. Thật dễ dàng hơn để nghĩ về Chúa Cha và Chúa Con trong tư cách là “các ngôi vị”, nhưng còn khó hơn nữa cho chúng ta khi nghĩ về Chúa Thánh Thần. Không có một kiểu con người nào có thể giúp chúng ta hiểu được mầu nhiệm này. Nói về Chúa Cha, chúng ta có sự trợ giúp của triết học giải quyết vấn đề Nguyên Nhân Thứ Nhất (Thiên Chúa của các triết gia); nói về Chúa Con, chúng ta có phép so sánh về mối quan hệ cha con của con người, và chúng ta còn có cả một lịch sử Ngôi Lời trở thành xác phàm. Tuy nhiên, nói về Chúa Thánh Thần thì chúng ta chẳng có điều gì trừ mạc khải và kinh nghiệm. Chính bản thân Kinh Thánh nói về Ngài thì cũng luôn dùng các biểu tượng từ thiên nhiên: ánh sáng, lửa, gió, nước, mùi hương, bồ câu.

Chúng ta sẽ hoàn toàn hiểu Chúa Thánh Thần là chỉ khi ở trên Thiên Đàng. Ở đó chúng ta sẽ sống một đời sống không có tận cùng, trong một sự hiểu biết được đào sâu về Ngài vốn mang lại cho chúng ta niềm vui khôn tả. Ngài sẽ giống như ngọn lửa dịu dàng nung nấu linh hồn chúng ta và lấp đầy chúng ta bằng phúc lành, giống như khi tình yêu lấp đầy trái tim một con người và người ấy hạnh phúc vậy.

c) “....Người đã dùng các Tiên Tri mà phán dạy”

Giờ đây chúng ta đi đến lời xác quyết thứ ba và sau cùng về Chúa Thánh Thần. Sau khi chúng ta đã tuyên xưng niềm tin của chúng ta vào hành động ban sự sống và thánh hoá của Chúa Thánh Thần trong phần thứ nhất của phân đoạn (Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống), giờ đây hoạt động đặc sủng của Ngài cũng được đề cập. Nói đến hoạt động này, có một đặc sủng được đề cập, một đặc sủng mà Thánh Phaolô cho là quan trọng nhất, đó là, ngôn sứ (x. 1 Cr 14).

Khi nói đến đặc sủng ngôn sứ, đoạn này đề cập đến chỉ một trong những biểu hiện của đặc sủng này bởi Chúa Thánh Thần: Ngài ‘đã dùng các tiên tri mà phán dạy”, đó là, trong Cựu Ước. Lời khẳng định này được dựa trên nhiều bản văn Kinh Thánh nhưng đặc biệt là trong 2 Pr 1:21: “lời ngôn sứ không bao giờ lại do ý muốn người phàm, nhưng chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có những người đã nói theo lệnh của Thiên Chúa”.

4. Một Đoạn Để Hoàn Tất

Thư Gửi Cho Tín Hữu Do Thái nói, “Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1:1). Do đó, Chúa Thánh Thần đã không ngừng nói qua trung gian là các ngôn sứ; Ngài đã làm thế qua Chúa Giêsu và ngày nay vẫn nói trong Giáo Hội. Điểm này và các chỗ hổng khác về biểu tượng dần dần được lấp đầy bởi việc thực hành của Giáo Hội mà không cần phải thay đổi bản văn kinh tin kính vì kinh này (một cách không may mắn đã xảy ra trong thế giới La Tinh với việc thêm vào Filioque). Chúng ta có một trường hợp điển hình về điều này trong lời cầu nguyện của phụng vụ Chính Thống được cho là của Thánh Gia-cô-bê cầu nguyện như sau:

Xin hãy sai đến...Thần Khí tối thượng của Ngài, Đấng ban sự sống, Đấng ngự cùng Cha, Thiên Chúa và là Chúa Cha, và cùng với Con yêu dấu của Ngài; Ngài đồng trị cùng Cha một cách đồng bản thể và đồng hằng hữu. Ngài nói qua Lề Luật, các Ngôn Sứ, và Tân Ước; Ngài đã ngự đến dưới hình chim bồ câu trên Chúa Giêsu Kitô ở Sông Gio-đan, ngự trên Ngài, và ngự xuống trên các Thánh Tông Đồ của Ngài...vào Ngày Lễ Hiện Xuống[17].

Bất cứ ai nỗ lực để tìm kiếm bất cứ điều gì trong đoạn nói về Chúa Thánh Thần, thì sẽ bị thất vọng. Sự thật này nói lên bản chất và giới hạn của mọi định nghĩa mang tính giáo lý. Mục đích của nó không phải để nói mọi sự về các cung bậc của niềm tin mà là để rút ra một phạm vi mà trong đó mọi sự khẳng định về giáo lý phải được đặt vào và rằng không có một sự khẳng định nào có thể gây mâu thuẫn. Trong trường hợp này, có những yếu tố phụ thêm là đoạn này được thiết lập vào một thời điểm khi mà sự suy tư này về Đấng Bảo Trợ mới chỉ là khởi đầu và, và như tôi đã nói ở trên, các hoàn cảnh lịch sử ngẫu nhiên (lòng khao khát hoà bình của hoàng đế) dẫn đến một sự thoả thuận giữa hai bên.

Tuy nhiên, chúng ta không bị bỏ mặc chỉ với ngôn từ trong kinh tin kính mà không có Đấng Bảo Trợ. Thần học, phụng vụ, và lòng đạo đức Kitô Giáo, cả ở Phương Đông và Phương Tây, đã mặc lấy trong “máu và thịt” những xác quyết xúc tích về biểu tượng của niềm tin. Trong sự tiếp nối của Lễ Hiện Xuống trong phụng vụ La Tinh, thì mối quan hệ gần gũi cá vị của Chúa Thánh Thần với cá nhân mọi linh hồn, vốn không được đề cập đến trong biểu tượng, được diễn tả bằng các tước hiệu như “cha của người nghèo”, “ánh sáng của tâm hồn”, “vị khách ngọt ngào cảu linh hồn”, và “đấng an ủi tuyệt vời nhất”. Cùng một sự tiếp nối nói đến hàng loạt các lời cầu nguyện lên Chúa Thánh Thần vốn rất đặc biệt là tuyệt vời và đáp ứng với nhu cầu của chúng ta. Chúng ta hãy kết thúc bằng việc loan báo chúng cùng nhau, hy vọng tìm kiếm để xác định giữa những lời nguyện ấy một điều mà chúng ta cảm thấy cần kíp nhất.

Xin thanh tẩy điều còn dơ bẩn
tưới gội nơi đang khô hạn,
chữa lành nơi đang bị thương tổn.

Xin làm cho linh động điều khô cứng,
sưởi ấm điều đang giá lạnh,
Thống trị điều đang loạn lạc.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ theo bản dịch tiếng Anh của Marsha Daigle Williamson, Vatican Radio)

 

[1] Lumen gentium (The Dogmatic Constitution on the Church), no. 12.

[2] See Klaus Heitmann and Heribert Mühlen, eds., Erfahrung und Theologie des Heiligen Geistes (Munich: Kösel, 1974).

[3]  Yves Congar, I Believe in the Holy Spirit, trans. Geoffrey Chapman (New York: Crossroad, 1983), p. 73ff; original, 1979-1980 in French.

[4] Karl Rahner, The Spirit in the Church, trans. J. G. Cumming (New York: Crossroad, 1985); original, 1977 in German.

[5] Heribert Mühlen, Der Heilige Geist als Person: Ich—Du—Wir [The Holy Spirit as a Person: I-You-We] (Munich: Aschendorf, 1963).

[6]  Hans Urs von Balthasar, Creator Spirit, vol. 3, Explorations in Theology, trans. Brian McNeil (San Francisco: Ignatius Press, 1993); original, 1967 in German.

[7]  Jürgen Moltmann, The Spirit of Life: A Universal Affirmation, trans. Margaret Kohl (Minneapolis: Fortress Press, 2001), pp. 180-197; original, 1991 in German.

[8]  Michael Welker, God the Spirit, trans. John F. Hoffmeyer (Minneapolis, MN: Fortress 1994), pp. 40-44; original, 1992 in German.

[9]  Jose Saraiva Martins, ed., Credo in Spiritum Sanctum, 2 vols. (Vatican City: Libreria Editrice Vaticana, 1983).

[10]  See Karl Barth, “Concluding Unscientific Postscript on Schleiermacher,” in The Theology of Schleiermacher, ed. Dietrich Ritschl, trans. Geoffrey Bromiley (Grand Rapids: Eerdmans, 1982), p. 278, and Karl Barth’s Table Talk, trans. John D. Godsey (Edinburgh: Oliver and Boyd, 1963), p. 28.

[11]  Myk Habets, ed., Third Article Theology: A Pneumatological Dogmatics (Minneapolis, MN: Fortress Press, 2016).

[12]  Basil of Caesarea, On the Holy Spirit, XVIII, 47, in Nicene and Post-Nicene Fathers, vol. 8, p. 29; see De Spiritu Sancto, XVIII, 47 (PG 32, 153).

[13]  See St. Athanasius, “First Epistle to Serapion,” in The Letters of St. Athanasius Concerning the Holy Spirit, 1, 24, trans. C. R. B. Shapland (London: Epworth Press, 1951), p. 61ff; see also PG 26, p. 585.

[14]  See Raniero Cantalamessa, Due polmoni, un solo respiro. Oriente e occidente di fronte ai grandi misteri della fede ( Rome: Libreria Editrice Vaticana 2016), pp. 51-66  (French trans.Deux poumons, une seule respiration: Vers une pleine communion de foi entre Orient et Occident [Nouan le Fuzelier, France: Editions des Béatitudes,  2016], pp. 49-64).

[15]  See Mühlen, Der Heilige Geist als Person: Ich—Du—Wir. The first person to describe the Holy Spirit as the “divine we” was Søren Kierkegaard, Diary, 2A 731, April 23, 1838.

[16]  See St. Augustine, “On the Trinity,” Basic Writings of St. Augustine, vol. 2, ed. Whitney J. Oates (Grand Rapids: Baker Books, 1992), p. 790.

[17]  For the “Anaphora of St. James,” see Anton Hänggi and Irmgard Pahl, Prex Eucharistica: Textus e variis liturgiis antiquioribus selecti (Fribourg: Éditions Universitaires, 1968), p. 250.