Skip to main content
Cha Cantalamessa - vị giảng thuyết cho giáo triều (OSS_ROM)

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ II Mùa Vọng 2016

Bài giảng tĩnh tâm tuần thứ II Mùa Vọng cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô và Giáo Triều Rôma, 09/12/2016 tại Nhà Nguyện Redemptoris Mater, Vatican. 

CHÚA THÁNH THẦN và ĐẶC SỦNG BIỆN PHÂN

Chúng ta hãy tiếp tục những suy tư của chúng ta về công việc của Chúa Thánh Thần trong đời sống của một người Kitô Hữu. Thánh Phaolô đề cập đến một đặc sủng cụ thể được gọi là “biện phân thần khí) (x. 1 Cr 12:10). Về nguồn gốc thì cụm từ này có một ý nghĩa rất đặc biệt: nó cho thấy một ơn ban được làm cho trở nên khả thể để phân biệt những thông điệp được gợi hứng hay mang tính ngôn sứ được đưa ra trong một cộng đồng là những thông điệp xuất phát từ Thần Khí của Đức Kitô và những thông điệp xuất phát từ những thần khí khác, như thần khí con người, hay một thần khí ma quỷ, hay tinh thần thế tục.

Đối với Thánh Gioan thì đây cũng là ý nghĩa nền tảng. Sự biện phân hệ tại ở việc kiểm tra “các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không” (1 Ga 4:1). Đối với Phaolô thì tiêu chí nền tảng cho sự biện phân là tuyên xưng Đức Kitô là “Chúa” (1 Cr 12:3); đối với Gioan, thì đó là việc tuyên xưng rằng Chúa Giêsu “đã trở nên người phàm” (1 Ga 4:2), có nghĩa là, Sự Nhập Thể. Ở nơi Gioan, sự biện phân đã bắt đầu mặc lấy chức năng thần học như là một tiêu chí mà qua đó để biện phân những giáo lý thật với những giáo lý giá, chính thống với dị giáo, điều mà sau này trở thành một trục.

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ I Mùa Vọng 2016

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ III Mùa Vọng 2016

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ IV Mùa Vọng 2016

1. Biện phân trong đời sống giáo hội

Có hai lãnh vực mà trong đó ơn biện phân tiếng nói của Thần Khí cần phải được thi hành: giáo hội và cá nhân. Trong lãnh vực giáo hội, sự biện phân thần khí được thực hiện bởi thẩm quyền của giáo hội, điều mà tuy phải suy xét “cảm thức của người tín hữu”, cùng với tiêu chuẩn khác.

Nhưng tôi muốn tập trung vào một điểm một cách đặc biệt vốn sẽ có ích trong việc trao đổi diễn ra ngày nay về những vấn đề luân lý nhất định: sự biện phân các dấu chỉ của thời đại. Công Đồng Vatican II tuyên bố, “Trong mọi thời đại Giáo Hội thực thi trách nhiệm đọc các dấu chỉ của thời đại và giải thích chúng dưới ánh sáng của Tin Mừng, nếu cần phải thực thi nhiệm vụ của mình. Theo ngôn ngữ phù hợp với mọi thế hệ, cần phải trả lời những vấn đề lặp đi lặp lại mà người ta hỏi về ý nghĩa của đời sống hiện tại của họ và đời sống sau đó, và cách mà đời sống này có liên hệ với đời sống kia”[1]

Rõ ràng là nếu Giáo Hội phải biện phân các dấu chỉ của thời đại dưới ánh sáng của Tin Mừng, thì Giáo Hội làm thế bằng việc áp dụng các biện pháp và những quy định lâu năm trước “thời đại”, đó là, những vấn đề và hoàn cảnh xuất hiện trong xã hội, nhưng thay vào đó bằng cách đưa ra những câu trả lời mới, “phù hợp cho mọi thời đại” khởi đi theo thời gian từ Tin Mừng. Sự khó khăn vốn được gặp gỡ trên con đường này – và điều cần phải nhìn nhận cách nghiêm túc – là nỗi sợ lấn loát thẩm quyền của giáo hội bằng việc chấp nhận những thay đổi trong những các quyết định của mình.

Tôi tin có một sự suy xét có thể giúp vượt thắng khó khăn này trong tinh thần hiệp thông. Tính bất khả ngộ mà Giáo Hội và Đức Giáo Hoàng công bố thì chắc chắn không ở một mức độ cao hơn là tính bất khả ngộ do mạc khải Kinh Thánh mang lại. Sự không sai lầm của Kinh Thánh đảm bảo rằng tác giả Kinh Thánh diễn tả sự thật theo một cách và đến mức mà sự thật ấy có thể diễn tả và hiểu vào thời điểm mà tác giả viết Kinh Thánh. Chúng ta thấy rằng nhiều sự thật được thể hiện từ từ và tiệm tiến, giống như sự thật về sự sống sau khi chết và sự sống vĩnh cửu. Trong lãnh vực luân lý cũng thế, nhiều tập tục và luật lệ trước đó đã bị cấm thì sau này lại mở lối cho các luật lệ và tiêu chuẩn vốn phù hợp hơn với tinh thần của Giao Ước. Một điển hình trong nhiều trường hợp: Sách Xuất Hành khẳng định rằng Thiên Chúa sẽ phạt con cái vì những sai phạm của người cha (x. Xh 34:7), nhưng Giê-rê-mia và Ê-dê-ki-en thì nói ngược lại, rằng Thiên Chúa sẽ không phạt con cái vì tội lỗi của người cha nhưng mỗi người sẽ phải chịu trách nhiệm về những việc mình làm (x. Gr 31:29-30; Ed 18:1tt).

Trong Cựu Ước thì tiêu chí mà qua đó người dân vượt ra khỏi những qui định trước đó là một sự hiểu biết tốt hơn về tinh thần của Giao Ước và của Kinh Torah. Trong Giáo Hội thì tiêu chí là một sự đọc đi đọc lại Tin Mừng cách liên lỉ dưới ánh sáng của những vấn đề mới được đặt ra cho Tin Mừng. Thánh Gregory Cả nói: “Kinh Thánh phát triển cùng với những người đọc”, “Scriptura cum legentibus crescit”. [2]

Chúng ta biết rằng qui luật bất di bất dịch đối với những việc làm của Chúa Giêsu trong Tin Mừng, theo những vấn đề luân lý thông thường, có thể tóm lại thành bảy từ: “Không với tội lỗi, có với tội nhân”. Không ai nghiêm trọng hơn người đang kết án cách bất công mà lại đòi sự giàu có, mà Ngài mời gọi chính Ngài đi vào trong nhà của Gia-kêu, và chỉ đơn giản là tới đó để gặp gỡ ông thì Ngài mang lại sự biến đổi. Ngài lên án tội ngoại tình, thậm chí là tội của ấy của tâm hồn, nhưng Ngài lại tha thứ cho người phụ nữ ngoại tình và mang lại cho cô niềm hy vọng; Ngài khẳng định lại tính bất khả phân ly của hôn nhân, nhưng Ngài lại tham gia trò chuyện cùng người phụ nữ Samari là người đã có 5 đời chồng, và Ngài tỏ cho cô biết bí mật mà Ngài đã không nói với ai khác theo một cách rõ ràng như thế: "Ðấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây" (Ga 4:26).

Nếu chúng ta tự hỏi chính bản thân chúng ta cách để biện phân về mặt thần học một sự khác biệt rõ ràng đến thế giữa tội nhân và tội lỗi, thì câu trả lời là rất đơn giản: tội nhân là những thọ tạo của Thiên Chúa, được Ngài tạo nên và tạo nên theo hình ảnh Ngài, và họ vẫn có phẩm giá của Ngài bất chấp hết mọi sai lầm của họ; tội lỗi không phải là công việc của Thiên Chúa: nó không xuất phát từ Ngài và từ kẻ thù. Đó là cùng một lý do vì sao mà Con Thiên Chúa trở nên mọi sự giống như con người, “trừ tội lỗi” (x. Dt 4:15).

Một yếu tố quan trọng trong việc chu toàn nhiệm vụ này là cộng đồng các giám mục, điều mà Hội Đồng nhấn mạnh chính nó. Tính cộng đồng giúp cho các giám mục “đạt tới được sự đồng thuận về những vấn đề quan trọng lớn lao, một quyết định quân bình được làm cho khả thể nhờ vào số người cố vấn”.[3] Việc thi hành hiệu quả tính cộng đồng sẽ mang lại sự biện phân và giải pháp cho vấn đề trước sự đa dạng của các hoàn cảnh địa phương, quan điểm, sự hiểu biết và những ơn ban khác, vố hiện diện ở trong mọi giáo hội và với mọi giám mục.

Chúng ta có một trường hợp thật cảm động về điều này trong “hội đồng” đầu tiên của Giáo Hội, Công Đồng Giêrusalem. Cuộc họp giúp làm cho phong phú hơn cơ hội cho cả các quan điểm đối nghịch, những quan điểm của những người Do Thái và những người yêu thích sự mở ra cho dân ngoại. Có “nhiều tranh cãi” nhưng cuối cùng thì các vị đều đồng ý với nhau để công bố quyết định với công thức ngoại thường này: “Thật là tốt cho Thánh Thần và chúng tôi...” (Cv 15:28; x. Cv 15:6tt).

Chúng ta có thể thấy từ đây cách mà Thần Khí hướng dẫn Giáo Hội theo hai cách khác nhau: đôi khi là trực tiếp, một cách đặc sủng qua những mạc khải và những thúc đẩy mang tính ngôn sứ, và cách khác theo cách hội đồng, qua việc đối đầu khó khăn và khó nhọc, và thậm chí cả lấn loát, giữa các bên khác nhau và quan điểm khác nhau. Huấn từ của Thánh Phêrô vào ngày Lễ Hiện Xuống và tại nhà ông Cornlius là rất khác với huấn từ mà sau đó Ngài thực hiện để biện minh cho quyết định của Ngài trước những bậc kỳ lão (x. Cv 11:4-18; 15:14).

Do đó, chúng ta cần có niềm tin vào khả năng của Thần Khí để đạt được sự thoả thuận cuối cùng, ngay cả đôi khi điều đó có thể dường như là toàn bộ quá trình đã vượt ra khỏi tầm với. Bất cứ khi nào các mục tử của các giáo hội Kitô Giáo qui tụ lại với nhau ở cấp độ địa phương hay quốc tế để biện phân hoặc đưa ra những quyết định quan trọng, thì mỗi vị cần có một sự chắc chắn trong tâm hồn và niềm tin về điều mà Kinh Chúa Thánh Thần tóm lại trong hai câu “Và chính Cha là hướng đạo đời con/Dẫn con xa con tránh mọi hiểm nguy”.

2. Biện phân trong đời sống của chúng ta

Chúng ta hãy đi đến sự biện phân trong đời sống của chúng ta. Khi một đặc sủng được áp dụng vào các cá nhân, thì sự biện phân thần khí trải qua một sự phát triển quan trọng qua nhiều thế kỷ. Lúc đầu, như chúng ta đã thấy, ơn ban có chức năng giúp biện phân động lực của người khác, của những người đã nói hoặc tiên tri trong một cộng đồng. Sau này, nó đóng vai trò chủ yếu là để biện phân động lực của chính mình.

Đây không phải là một sự phát triển tuỳ tiện của ơn ban: thực ra cũng là một ơn ban ngay cả khi nó được sử dụng cho những mục đích khác nhau. Phần lớn điều các tác giả về linh đạo đã viết có liên quan đến “ơn an ủi” cũng áp dụng cho đặc sủng biện phân. Qua ơn này, hay đặc sủng này, về sự an ủi, Chúa Thánh Thần giúp chúng ta đánh giá các hoàn cảnh và định hướng những chọn lựa của chúng ta không phải dựa trên sự khôn ngoan và cẩn trọng của con người mà dưới ánh sáng của những nguyên tắc siêu nhiên của niềm tin.

Sự biện phân thần khí chính yếu và nền tảng là một việc giúp chúng ta phân biệt “Thần Khí của Thiên Chúa” với “tinh thần của thế gian” (1 Cr 2:12). Thánh Phaolô đưa ra một tiêu chí khách quan về sự biện phân vốn cùng một nguyên tắc mà Chúa Giêsu đưa ra: hoa trái. “Những công việc của xác thịt” cho thấy một lòng khao khát xuất phát từ bản chất tội lỗi cũ, trong khi “hoa trái của Thần Khí” thì cho thấy một lòng muốn xuất phát từ Thần Khí (x. Gl 5:19-22). “Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt” (Gl 5:17).

Tuy nhiên, đôi khi tiêu chí khách quan này lại chưa đủ vì sự chọn lựa không phải là giữa tốt và xấu mà là giữa một điều tốt và điều tốt khác, và vấn đề là biện phân điều Thiên Chúa muốn trong một hoàn cảnh cụ thể. Rõ ràng là trong sự đáp trả trước nhu cầu này mà Thánh I-nha-xi-ô Loyola đã phát triển giáo huấn của Ngài về sự biện phân. Ngài mời gọi chúng ta suy xét một điều trên hết: những khuynh hướng nội tại của chúng ta, những ý muốn (“tinh thần”) nằm phía sau một chọn lựa. Trong khi thực hiện thế, người ta sẽ điều chỉnh bản thân với một truyền thống đã được thiết lập. Một tác giả trung cổ đã từng viết,

“Không một ai có thể kiểm tra các thần khí để xem liệu là chúng đến từ Thiên Chúa hay không trừ khi Thiên Chúa đã ban cho người ấy ơn biện phân thần khí để giúp người ấy kiểm tra những tư tưởng, những khuynh hướng và ý định thiêng liêng với sự phán quyết trung thực và đúng đắn. Sự biện phân là mẹ của tất cả các nhân đức khác; mọi người cần sự biện phân để hoặc biện phân đời sống của người khác hoặc để hướng dẫn và cải tổ cuộc đời của riêng mình....Do đó đây là một sự biện phân thật sự, một sự kết hợp của tư duy đúng và ý định đúng”.[4]

Thánh I-nha-xi-ô đã đưa ra những cách thực tế để áp dụng những tiêu chuẩn này.[5] Chẳng hạn, khi bạn có hai khả năng chọn lựa ở trước mặt, thì thật là tốt lành để chọn một trong số đó như thể là bạn sẽ đi theo quyết định ấy, và vẫn duy trì lập trường trong một ngày hoặc hơn. Do đó bạn sẽ đánh giá phản ứng nội tâm của bạn trước chọn lựa ấy để xem nó có mang lại sự bình an, nếu nó có hoà hợp với những chọn lựa khác mà bạn đã thực hiện không, nếu có điều gì đó bên trong bạn khích lệ bạn theo hướng đó, hoặc, trái lại, nếu nó để lại ở nơi bạn một đám mây của sự không dễ chịu gì. Sau đó bạn sẽ lặp lại quy trình ấy với một khả năng chọn lựa khác.

Cội rễ cảu giáo huấn của Thánh I-nha-xi-ô về sự biện phân là học thuyết về “sự thờ ơ thánh” của Ngài.[6] Học thuyết này hệ tại ở việc đặt bản thân vào trong một tình trạng hoàn toàn sẵn lòng để chấp nhận ý muốn của Thiên Chúa, đầu hàng hết mọi tham chiếu cá nhân, giống như cán cân sẵn sàng để nảy sang hướng khác khi có trọng lượng lớn nhất. Kinh nghiệm về sự bình an nội tâm do đó trở thành tiêu chuẩn chính trong tất cả mọi sự biện phân. Sau một thời gian dài suy xét và cầu nguyện, thì sự chọn lựa đi theo bởi sự bình an lớn lao của tâm hồn phải là điều còn lại.

Đây đặc biệt là một vấn đề của việc đưa vào thực thi lời khuyên xưa mà bố vợ ông Mô-sê đã dành cho ông: “hãy trình bày các vấn đề cho Thiên Chúa” và hãy đợi chờ câu trả lời của Ngài trong sự cầu nguyện (Xh 18:19). Một khuynh hướng theo thói quen đã bén rễ sâu để thực thi ý muốn của Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh là đặt bản thân vào trong vị thế thuận tiện nhất cho sự biện phân tốt. Chúa Giêsu nói, “phán quyết của tôi thật công minh, vì tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Ðấng đã sai tôi” (Ga 5:30).

Mối nguy ở nơi một số cách tiếp cận hiện đại đối với việc hiểu và thực hành sự biện phân là một sự nhấn mạnh đến các khía cạnh tâm lý đến mức quên đi tác nhân chính trong mỗi sự biện phân, Thần Khí. Thánh Gioan đấy được yếu tố quyết định trong sự biện phân ở việc “được Thấn khí xức dầu” (1 Ga 2:20). Thánh I-nha-xi-ô cũng đề cập rằng trong những trường hợp nhất định chỉ có sự xức dầu của Thần Khí mới giúp chúng ta biện phân điều gì chúng ta nên thực hiện.[7] Có một lý do thần học sâu xa cho điều này. Chúa Thánh Thần chính Ngài là “ý muốn của Thiên Chúa”, vì thế khi Ngài đi vào trong một linh hồn, thì “Ý Chúa này....sẽ tự làm cho chính Ngài được người mà Ngài đi vào biết”.[8]

Sự biện phân, về bản chất, kh6ong phải là một nghệ thuật hay một kĩ thuật mà là một đặc sủng, một ơn ban của Chúa Thánh Thần! Các yếu tố tâm lý của nó có tầm quan trọng lớn lao, nhưng chúng luôn ở hàng thứ yếu. Một trong các Giáo Phụ đã viết,

“Chỉ có Thần Khí mới có thể thanh luyện tư tưởng....Để bằng mọi cách, nhưng đặc biệt là qua sự bình an tâm hồn, chúng ta phải nỗ lực để dành cho Thần Khí một nơi cư ngụ. Do đó chúng ta sẽ có một ánh sáng của sự hiểu biết chiếu sáng ở trong chúng ta trong mọi thời điểm, và ánh sáng ấy sẽ cho thấy vì tất cả mọi cơn cám dỗ tăm tối và đáng ghét đều xuất phát từ ma quỷ, bằng không nó sẽ thể hiện ra: sự phơi bày ra cho ánh sáng thánh thiện và vinh hiển này sẽ làm biến mất sức mạnh của nó. Đó là lý do vì sao mà Thánh Tông Đồ nói: “Đừng bóp nghẹt Thần Khí [1 Tx 5:19)]”.[9]

Chúa Thánh Thần bình thường sẽ không chiếu ánh sáng của Ngài trong tâm hồn chúng ta theo một cách ngoại thường hay lạ lùng nhưng rất đơn giản qua những lời của Thánh Kinh. Những trường hợp điển hình quan trọng nhất về sự biện phân trong lịch sử của Giáo Hội đều diễn ra theo cách này. Chính là trong việc nghe điều Tin Mừng nói, “Nếu anh em muốn nên hoàn thiện....”, mà Thánh Giáo Phụ Sa Mạc An-tôn hiểu điều mà Ngài cần phải thực hiện, và Ngài thiết lập nên đường lối tu kín.

Đây cũng là cách mà Thánh Phanxicô Assisi nhận được động lực để trước hết hướng sự chú ý của Ngài về Tin Mừng. Ngài viết trong bộ Testament của Ngài: “Sau khi Thiên Chúa ban cho tôi một số anh em, không ai cho tôi biết tôi phải làm gì, nhưng chính Đấng Tối Cao đã tỏ cho tôi biết tôi phải sống theo khuôn mẫu của Thánh Kinh”.[10] Điều đó được mạc khải cho Ngài trong Thánh Lễ sau khi nghe đoạn Tin Mừng mà trong đó Chúa Giêsu nói các môn đệ hãy ra đi vào trong thế giới và “đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo” (Lc 9:3).[11]

Chính bản thân tôi còn nhớ một trường hợp nhỏ về cùng một điều này. Một người đến với tôi trong một nhiệm vụ và chia sẻ vấn đề của người ấy với tôi. Anh ta có một cậu con trai 11 tuổi chưa chịu phép rửa. Anh ấy nói, “Nếu con cho cháu rửa tội, thì sẽ có vấn đề ở nhà vì vợ của con đã trở thành một Chứng Nhân Giê-hô-va. Nếu con không rửa tội cho cháu, thì lương tâm con lại bị cắn rứt vì khi chúng con cưới nhau, thì cả hai chúng con đều là Công Giáo và hứa sẽ nuôi dạy con cái trong Giáo Hội”. Tôi nói với anh ta hãy trở lại vào ngày hôm sau vì tôi cần thời gian để cầu nguyện và suy tư. Ngay hôm sau anh ấy đến rất tươi và nói với tôi, “Con đã tìm được giải pháp, thưa Cha. Con đọc Kinh Thánh về Abraham, và con thấy rằng khi ông đưa con trai ông là Isaac đi sát tế, thì ông không đề cập điều gì với vợ ông cả!” Lời Chúa đã soi sáng cho anh ta hơn bất cứ một lời khuyên con người nào có thể có. Chính tôi đã rửa tội cho cậu bé, và đó là một niềm vui lớn lao cho hết mọi người.

Cùng với việc lắng nghe Lời, thì việc thực hành phổ biến nhất để thi hành sự biện phân ở cấp độ cá nhân là sự xét lại lương tâm. Tuy nhiên, việc thực hành này không bị giới hạn chỉ cho việc chuẩn bị xưng tội mà phải trở thành việc thực thi liên lỉ trong việc đặt bản thân chúng ta trước ánh sáng của Thiên Chúa để để cho Ngài “tìm kiếm” hữu thể thẳm sâu nhất của chúng ta. Nếu một sự xét lương tâm không được thực hiện hoặc không được thực hiện tốt, thì ngay cả ân sủng của việc xưng tội cũng trở thành có vấn đề: hoặc là chúng ta sẽ không biết phải xưng thú điều gì hoặc là chúng ta quá nhiều những nỗ lực mang tính tâm lý hoặc tự nguyện, đó là chúng ta chỉ nhắm vào việc cải thiện chính mình. Một sự xét mình bị giới hạn cho việc chuẩn bị xưng tội thì sẽ xác định một số tội, nhưng nó không dẫn đến một mối quan hệ một – một với Đức Kitô. Thật dễ dàng để chỉ liệt kê ra một mớ những bất toàn mà chúng ta xưng thú để chúng ta có thể cảm thấy tốt hơn mà không có một thái độ ăn năn thật sự vốn làm cho chúng ta có được kinh nghiệm niềm vui của của việc “có được một Đấng Cứu Chuộc quá tuyệt vời” ở nơi Chúa Giêsu.

3. “Được Thần Khí dẫn dắt”

Hoa trái cụ thể của bài suy tư này cần phải là một quyết định được canh tân để tín thác trọn vẹn bản thân chúng ta và mọi điều cho sự hướng hướng dẫn nội tâm của Chúa Thánh Thần như một kiểu “định hướng thiêng liêng”. Như đã có lời chép rằng “Ở mỗi chặng đường của họ, khi nào đám mây bay lên khỏi Nhà Tạm, thì con cái Ít-ra-en nhổ trại. Nếu mây không bay lên, thì họ không nhổ trại cho đến ngày mây lại bay lên” (Xh 40:36-37). Chúng ta không cần thực hiện bất cứ điều gì trừ khi Chúa Thánh Thần thúc đẩy chúng ta (theo các Giáo Phụ, đám mây là một hình ảnh về Ngài [12]) và trừ phi chúng ta đã xin Ngài hướng dẫn trước mọi hành động.

Chúng ta đã có mẫu gương rõ ràng nhất về điều này ở nơi chính đời sống của Chúa Giêsu. Ngài không bao giờ thực hiện điều gì mà không có Thần Khí. Ngài đi vào trong hoang địa với Thần Khí; Ngài trở lại trong sức mạnh của Thần Khí và bắt đầu việc rao giảng của Ngài; Ngài chọn các tông đồ của Ngài “qua Thần Khí” (Cv 1:2); Ngài cầu nguyện và dâng chính bản thân Ngài cho Chúa Cha “qua Thần Khí hằng hữu” (Dt 9:14).

Chúng ta cần cảnh giác trước một kiểu cám dỗ nhất định, kiểu cám dỗ muốn dành cho Chúa Thánh Thần lời khuyên thay vì lãnh nhận lời khuyên. “Thần khí Ðức Chúa, ai đo cho nổi? Ai làm quân sư chỉ vẽ cho Người?” (Is 40:13). Thần Khí hướng dẫn mọi người và chính Ngài không để ai hướng dẫn; Ngài hướng dẫn chứ không phải bị hướng dẫn. Có một cách tinh tế để đề nghị cho Thần Khí điều mà Ngài cần thực hiện với chúng ta và cách mà Ngài sẽ hướng dẫn chúng ta. Thậm chí chúng ta tự đưa ra quyết định cho mình nhiều khi và rồi đưa hết các quyết định ấy cho Thần Khí.

Thánh Tôma Aquinas nói về sự dẫn dắt nội tâm của Thần Khí này như là một kiểu “bản năng của người công chính”: “Như trong đời sống thể xác thân xác không thể dịch chuyển mà không bởi linh hồn, bởi điều có sự sống, thì cũng vậy trong đời sống thiêng liêng thì tất cả mọi sự chuyển động của chúng ta cần phải ngang qua Thần Khí”.[13] Đây là cách mà “luật của Thần Khí” hoạt động; đây là điều mà Thánh Tông Đồ gọi là “được dẫn dắt bởi Thần Khí” (Gl 5:18).

Chúng ta cần phó mặc bản thân chúng ta hoàn toàn cho Thần Khí, giống như những sợi dây đàn harp phó mặc cho các ngón tay khảy chúng. Giống như nhưng diễn viên tốt, chúng ta cần phải lắng nghe cách chú tâm trước tiếng nói của Đấng thôi thúc bên trong, để chúng ta có thể thực thi cách trung tính trong giai đoạn của đời sống. Điều này thì dễ hơn là một số người nghĩ vì Đấng thúc đẩy của chúng ta nói bên trong chúng ta, dạy cho chúng ta mọi điều, và hướng dẫn chúng ta mọi điều. Đôi khi chúng ta chỉ cần liếc nhìn vào bên trong, một sự chuyển động của tâm hồn, của một lời cầu nguyện. Chúng ta đọc bài điếu tuyệt vời này về một vị giám mục thánh thiện là vị sống ở trong thế kỷ thứ 2, Milto Sardis, mà chúng ta có thể hy vọng sẽ được nói về mỗi người chúng ta sau khi chúng ta qua đời: Ngài “đã sống hoàn toàn trogn Thần Khí”.[14]

Chúng ta hãy xin Đấng Bảo Trợ hướng dẫn tư tưởng chúng ta và toàn bộ đời sống của chúng ta bằng những lời của một lời cầu nguyện đọc trong Lễ Chúa Thánh Thần theo Nghi Lễ Syria:

“Lạy Chúa Thánh Thần, Đấng phân phát mọi ân sủng cho mọi người;

Thần Khí khôn ngoan và thông hiểu, Đấng quá yêu thương tất cả chúng con,

Chúa làm các tiên tri hoàn thành, làm cho các tông đồ nên hoàn hảo,

Củng cố các vị tử đạo, khích lệ các thầy dạy bằng giáo huấn!

Chúng con xin dâng lên Chúa ý muốn của chúng con cùng với hương thơm này,

Lạy Chúa, Thiên Chúa Đấng Bảo Trợ Con.

Chúng con xin Chúa căn tân đổi mới chúng con bằng những ơn thánh của Chúa,

Xin ngự xuống trên chúng con như Chúa đã ngự xuống trên các Tông Đồ trong phòng tiệc ly.

Xin tuôn đổ đặc sủng của Chúa trên chúng con,

xin lấp đầy chúng con bằng sự hiểu biết về giáo huấn của Chúa;

xin làm cho chúng con trở thành đền thờ của vinh quang Chúa,

Xin cho chúng con được vượt thắng bởi rượu ân sủng của Chúa.

xin ban cho chúng con được sống cho Chúa, để trở nên một lòng một trí với Chúa, và thờ phượng Chúa,

Lạy Thiên Chúa là Thần Khí Bảo Trợ, Ngài thật tinh tuyền, Ngài thật thánh thiện”.[15]

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Vatican Radio)

[1] Gaudium et spes [Pastoral Constitution on the Church in the Modern World], n. 4, in The Documents of  Vatican Council II, ed. Austin Flannery (Northport, NY: Costello, 1995), p. 165.

[2] Gregory the Great, Homilies on Ezekiel 1.7, 8 (CCC 94).

[3] Lumen Gentium [Dogmatic Constitution on the Church], n. 22, p. 29.

[4] Baldwin of Canterbury, “Treatise 6,” Second Reading for Friday of the Ninth Week of Ordinary Time in The Office of Readings, pp. 334-335; see also PL 204, p. 466.

[5] See The Spiritual Exercises of Saint Ignatius, Fourth Week, trans. Anthony Mottola (New York: Doubleday, 1989), 101-128.

[6] Cf. G. Bottereau, “Indifference, ” in Dictionnaire de Spiritualité, vol. 7, coll. 1688 ff.

[7] Saint Ignatius Loyloa, The Constitutions of the Society of Jesus, 141, 414, trans. and comm. George E. Ganss (St. Louis, MO: The Institute of Jesuit Sources, 1969), p. 126, 204.

[8] See William of St. Thierry, The Mirror of Faith, 61, trans. Thomas X. Davis (Kalamazoo, MI: Cistercian Publications, 1979), p. 49; see also SCh 301, p. 128.

[9] Diadochus of Photice, On Spiritual Perfection, 28, Second Reading for Wednesday of the Fourth Week of Ordinary Time, in The Office of Readings, p. 227, italics original; see also SCh 5, p. 87 ff.

[10] Francis of Assisi, “Testament of Saint Francis,” in Francis of Assisi: Early Documents, vol. 1: The Saint, eds. Regis J. Armstrong et al. (New York: New City Press, 1999), p. 124. See also Fontes Franciscanas, p. 356.

[11] See Thomas of Celano, First Life, 22, trans. Christopher Stace (London: Society for Promoting Christian Knowledge, 2000), p. 24; see also ED, I, p. 201.

[12] See St. Ambrose On the Holy Spirit,  III, 4, 21 (N.p.: Veritatis Splendor Publications, 2014), p. 177; and  On the Sacraments, I, 6, 22, in “On the Sacraments” and “On the mysteries,” trans. Tom Thompson (London: S.P.C.K., 1950), p. 56.

[13] Thomas Aquinas, Commentary on the Letter to the Galatians, V, 5, n. 318, in Commentary on the Letters of Saint Paul to the Galatians and Ephesians, eds. John Mortensen and Enrique Alarcón, trans. Fabian R. Larcher and Matthew Lamb (Lander, WY: Aquinas Institute for the Study of Sacred Doctrine, 2011), p. 150; see also V, 7, n. 340, and Commentary on the Gospel of John, VI, 5, 3.

[14] Eusebius of Caesarea, The History of the Church, V, 24, 5, ed. Andrew Louth, trans. G. A. Williamson (New York: Penguin Books, 19650, p. 172.

[15] Pontificale Syrorum, in Emmanuel-Pataq Siman, L’expérience de l’Esprit par l’Église d’après la tradition syrienne d’Antioche (Paris: Beauchesne, 1971), p. 309.