Skip to main content
Cha Cantalamessa - vị giảng thuyết cho giáo triều (ANSA)

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ III Mùa Vọng 2016

Bài giảng tĩnh tâm tuần thứ III Mùa Vọng cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô và Giáo Triều Rôma, 16/12/2016 tại Nhà Nguyện Redemptoris Mater, Vatican. 

SAY SƯA THẦN KHÍ CÁCH ĐIỀU ĐỘ 

1. Hai Kiểu Say Sưa

Vào Thứ Hai sau Lễ Hiện Xuống năm 1975 khi kết thúc Hội Nghị Thế Giới Lần Thứ Nhất Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng Công Giáo, Chân Phúc Phaolô VI đã thực hiện một bài diễn văn trước 10,000 người qui tụ tại Đền Thờ Thánh Phêrô mà trong đó Ngài xác định canh tân đặc sủng như là “một cơ hội đối với Giáo Hội”. Khi Ngài kết thúc việc đọc bài diễn văn chính thức của mình, Đức Giáo Hoàng thêm những lời sau đây một cách ứng khẩu:

Vào thế kỷ thứ 4 bài ca được soạn bởi Thánh Ambrose mà chúng ta đọc sáng nay trong Giờ Kinh Phụng Vụ, có một cụm từ thật khó để chuyển ngữ: Laeti, có nghĩa là “với niềm vui”, bibamus, có nghĩa là “chúng ta hãy uống”, sobriam, có nghĩa là “tỉnh táo” hoặc “chừng mực”, profusionem Spiritus, có nghĩa là “tuôn đổ Thần Khí”. Laeti bibamus sobriam profusionem Spiritus. Đây có thể là một châm ngôn cho phong trào của các bạn: kế hoạch của phong trào cũng như sự mô tả về chính phong trào.[1]

Điều quan trọng cần phải lưu ý ngay là việc những lời từ bài ca của Thánh Ambrose dĩ nhiên là không được viết cho phong trào canh tân đặc sủng. Chúng luôn là một phần của Giờ Kinh Phụng Vụ của Giáo Hội hoàn vũ. Do đó, đây là một giáo huấn đầy vui tươi được nói cho hết mọi người Kitô Hữu. Vì vậy mà tôi muốn trình bày những lời ấy trong bài suy tư lần này, cũng như lời chúc mừng khiêm tốn của tôi dành cho Đức Thánh Cha nhân dịp Sinh Nhật 80 của Ngài.

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ I Mùa Vọng 2016

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ II Mùa Vọng 2016

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ IV Mùa Vọng 2016

Chính xác hơn, trong bản văn gốc của Thánh Ambrose, thay vì là “profusionem Spiritus”, “sự tuôn đổ Thần Khí”, chúng ta thấy “ebrietatem Spiritus’, có nghĩa là, “sự say sưa Thần Khí”.[2] Truyền thống sau đó đã coi lối diễn tả gốc của Ngài là quá mạnh bạo và nên đã sửa lại câu ấy bằng một từ mềm mại hơn và dễ chấp nhận hơn. Tuy nhiên, khi làm thế, thì ý nghĩa của một lối ẩn dụ xa xưa như chính nền Kitô Giáo lại bị mất. Trong bản dịch Tiếng Ý của Giờ Kinh Phụng Vụ, bản văn gốc của kinh cầu do Thánh Ambrose soạn đã được khôi phục một cách chính xác. Một đoạn của bài cả trong phần Tán Tụng của Tuần Thứ Tư của Giờ Kinh Phụng Vụ viết,

Và xin Đức Kitô là lương thực cho chúng con,

và niềm tin trở thành của uống cho chúng con,

và xin cho chúng con hân hoan nếm lấy

sự say sưa tỉnh táo Thần Khí.[3]

Điều dẫn các Giáo Phụ chọn chủ đề “say sưa tỉnh táo”, đã được Philo thành Alexandria phát triển,[4] là bản văn mà trong đó Tông Đồ giáo huấn các Kitô Hữu tại Êphêxô nói rằng,

Chớ say sưa rượu chè, vì rượu chè đưa tới trụy lạc, nhưng hãy thấm nhuần Thần Khí, hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa (Ep 5:18-19).

Bắt đầu với Origen, có vô số các bản văn từ các Giáo Phụ nói đến chủ đề này, nêu lên phép so sánh và sự tương phản về sự say xưa thể lý và say sưa tinh thần. Sự giống nhau hệ tại ở sự thật là cả hai sự say sưa này đều bao hàm niềm vui; chúng làm cho chúng ta quên đi những vấn đề của chúng ta và làm cho chúng ta thoát ly khỏi chính mình. Sự tương phản hệ tại ở sự thật là trong khi sự say xưa thể lý (từ rượu, thuốc gây nghiện, tình dục, thành công) làm cho người ta lung lạc và không vững vàng, thì sự say sưa tinh thần làm cho người ta đi ra khỏi chính bản thân họ để sống dưới mức độ của lý luận; điều thứ hai làm cho người ta đi ra khỏi chính bản thân họ và sống trên mức độ lý luận. Cả hai đều dùng từ “say sưa” )danh từ gần đây được sử dụng cho các loại thuốc gây nghiện chết người!), nhưng một bên là say sưa đi xuống và một bên là say sửa đi lên.

Thánh Cyril thành Giêrusalem viết rằng những người nghĩ rằng các môn đệ đã bứ rượu trong Lễ Hiện Xuống là đúng; họ chỉ sai lầm trong việc gán cho sự say xỉn ấy với rượu bình thường, trong khi đó là “thứ rượu mới” được ép từ “cây nho thật”, là Đức Kitô. Các tông đồ đã bứ rượu, đúng, nhưng với sự bứ rượu tỉnh táo chết đi cho tội lỗi và mang lại sự sống cho linh hồn.[5]

Kín múc từ cảnh nước vọt ra từ tảng đá trong sa mạc (x. Xh 17:1-7) và từ nhận định của Thánh Phaolô về biến cố này trong Thư Thứ I Gửi Tín Hữu Côrintô (tất cả cùng uống một thức uống linh thiêng,... vì họ cùng uống nước chảy ra từ tảng đá linh thiêng” [1 Cr 10:4; 12:13]), Thánh Ambrose viết,

Chúa Giêsu đã tuôn đổ nước từ tảng đá và tất cả mọi người đều đã uống từ nguồn ấy. Những người uống nước này chỉ được no thoả về mặt biểu tượng; những người uống nước này theo một sự thật rất nền tảng này thì bị say xỉn. Sự say xỉn kiểu này là tốt lành và lấp đầy tâm hồn vốn không làm cho chân bị lung lay. Đúng, đó là một sự say xỉn tốt lành. Sự say xỉn này làm vững các bước chân và làm cho tư tưởng nên tỉnh táo...Uống Đức Kitô, vì Ngài là cây nho; hãy uống Đức Kitô, vì Ngài là đá tảng mà từ đó dòng nước phọt ra... Hãy uống Đức Kitô, để bạn có thể uống những lời của Ngài....Kinh Thánh thẩm thấu, kinh thánh được ăn khi nước uống của lời hằng hữu sẽ chảy suốt trong các mạch chủ của tư tưởng và đi vào các phần thiết yếu của linh hồn”.[6]

2. Từ Sự Say Sưa Đến Sự Tiết Độ

Làm cách nào chúng ta trân trọng lý tưởng về sự say sưa tỉnh táo này và tháp nhập điều này vào trong hoàn cảnh lịch sử hiện tại và giáo hội của chúng ta? Thực vậy, điều đó đã được viết ở đâu mà một cách thế kinh nghiệm Thần Khí mạnh mẽ đến thế vốn là đặc quyền của các Giáo Phụ và những thời đầu của Giáo Hội, nhưng rồi điều đó giờ không còn dành cho chúng ta nữa? Ơn ban của Đức Kitô không bị giới hạn chỉ cho một kỷ nguyên đặc biệt mà là dành cho hết mọi kỷ nguyên. Luôn có đủ cho hết mọi người trong kho tàng ơn cứu chuộc của Người. Rõ ràng là vai trò của Thần Khí là làm cho ơn cứu chuộc của Đức Kitô mang tính hoàn vũ, sẵn sàng cho hết mọi người ở mọi thời đại và mọi không gian.

Trong quá khứ trật tự mà trong đó sự năng động này được dạy một cách phổ quát là việc đi từ sự tỉnh táo đến sự say sưa. Nói cách khác, cách để đạt tới sự say sưa thiêng liêng, hay lòng nhiệt thành, là sự tiết độ, đó là sự thoát ly khỏi những sự thuộc về xác thịt, ăn chay với thế giới này và với những lòng muốn riêng của bản thân – tắt một lời, sự chết đi. Sự hiểu này về khái niệm tiết độ được đào sâu một cách đặc biệt bởi linh đạo tu viện của Chính Thống và có gắn liền với điều gọi là “Lời Cầu Nguyện Của Chúa Giêsu”. Theo con đường tiết độ này có nghĩa là “một phương pháp thiêng liêng” bao gồm “sự chú ý tỉnh thức” để giải thoát bản thân khỏi những đam mê và lời nói tội lỗi, thoát khỏi và bỏ lại phía sau những thoả mãn xác thịt, và chỉ có một hoạt động duy nhất là sám hối tội lỗi và cầu nguyện. [7]

Dưới những tên gọi khác nhau – thoát ly, thanh luyện, chết đi – đây là cùng một giáo lý về khổ hạnh được thấy ở nơi các vị thánh và Tiến Sĩ Hội Thánh La Tinh. Thánh Gioan Thánh Giá nói về sự cần thiết của linh hồn phải “tách ra và lột bỏ chính nó khỏi mọi sự không thuộc về Thiên Chúa vì danh Thiên Chúa”.[8] Những giai đoạn này của đời sống thiêng liêng được gọi là thanh tẩy tội lỗi và minh sáng. Ở đây linh hồn một cách đau đớn giải thoát chính nó khỏi những thói quen tự nhiên của nó để chuẩn bị cho sự hiệp nhất với Thiên Chúa và cho sự ban xuống ân sủng của Ngài. Những điều này tạo nên giai đoạn thứ ba, “con đường hiệp nhất” mà các tác giả Hy Lạp gọi là “thánh hoá”.

Chúng ta là những người thừa hưởng nền linh đạo đã mang lấy con đường đi đến sự hoàn hào theo hướng này: Trước hết chúng ta cần phải ở trong giai đoạn thanh luyện một thời gian dài trước khi đi vào trong giai đoạn hiệp nhất; thật cần thiết để một người thực hành sự tiết độ trong một thời gian tập trung trước khi có thể kinh nghiệm được sự say sưa. Mọi sự diễn tả về lòng nhiệt thành thể hiện chính nó trước thời gian được coi là cần thiết. Sự say sưa thiêng liêng, với tất cả mọi điều mà từ này chuyển tải, do đó đi đến một cùng đích và được dành cho sự “hoàn hảo”. Những người khác, được gọi là “những người tiến bộ”, cần đặc biệt dự phần vào phần chết đi, mà không tuyên bố một kinh nghiệm mạnh mẽ và trực tiếp về Thiên Chúa và Thần Khí của Ngài trong khi họ vẫn đang phải vật lộn với những yếu đuối của họ.

Có một sự khôn ngoan và kinh nghiệm lớn lao tàng ẩn ở dưới tất cả những điều này, và thật sai lầm khi coi những điều này là lỗi thời. Tuy nhiên, cần phải nói là một kế hoạch cứng ngắc như thế cũng đánh dấu một sự chuyển dịch chậm chạp, tiệm tiến từ một sự tập trung vào ân sủng đến một sự tập trung vào nỗ lực con người, một sự chuyển đổi từ niềm tin đến hoạt động, đôi khi là đi vào chủ thuyết Pelagius. Theo Kinh Thánh Tân Ước, có một sự luân chuyển và một sự tự nhiên giữa hai điều: sự tiết độ cần thiết để đạt được sự say sưa của Thần Khí, và sự say sưa Thần Khí cần thiết để đạt được việc thực hành sự tiết độ.

Con đường khổ hạnh, được thực hiện mà không có động lực mạnh mẽ đầu tiên của Thần Khí, sẽ là một việc làm chết và sẽ chẳng sản sinh ra được điều gì “ngoài việc khoác lác trong xác thịt”. Theo Thánh Phaolô, thì chính “bởi Thần Khí” mà chúng ta phải “chết đi những hành vi thuộc về thân xác” (Rm 8:13). Thần Khí được ban cho chúng ta để chúng ta có thể chết đi chính bản thân mình hơn là được trao như một phần thưởng vì đã chết đi chính bản thân mình.

Theo một Giáo Phụ xưa, một đời sống Kitô Hữu đầy những nỗ lực khổ hạnh và chết đi nhưng nếu không có một cái chạm trao ban sự sống của Thần Khí thì sẽ giống như là một Thánh Lễ mà trong đó có nhiều bài đọc, nhiều nghi lễ được thực hiện, và nhiều lễ dâng được dâng tiến, nhưng lại không có sự thánh hiến các yếu tố bởi vị linh mục. Mọi thứ vẫn thế như trước. Vị Giáo Phụ ấy kết luận,

Người ta phải nhìn vào đời sống của một người Kitô Hữu theo cùng một cách. Người ấy có thể đã ăn chay, canh thức, hát các thánh vịnh, thực thi việc khổ chế và đạt được mọi nhân đức; nhưng nếu công việc thần bí của Thần Khí không được làm cho thành tựu bởi ân sủng với đầy ý thức và sự bình an tinh thần ở nơi bàn thờ của tâm hồn người ấy, thì tất cả mọi việc thực hành khổ chế của người ấy là không có hiệu quả và kết quả là không sinh hoa trái, vì niềm vui của Thần Khí không hoạt động cách bí nhiệm trong tâm hồn người ấy.[9]

Con đường thứ hai này – từ sự say sưa đến sự tiết độ - là con đường mà Chúa Giêsu dẫn các tông đồ của Ngài theo. Mặc dù các vị ấy có Chúa Giêsu là thầy của các vị và vị thầy tinh thần, các vị vẫn không ở trong một vị thế mà trước Ngày Lễ Hiện Xuống để thực hành cách tích cực bất cứ một giới luật nào của Tin Mừng cả. Nhưng khi các ngài được chịu phép rửa trong Thần Khí vào Lễ Hiện Xuống, thì chúng ta thấy các ngài được biến đổi và có khả năng chịu đựng tất cả mọi kiểu khó khăn vì Đức Kitô, ngay cả việc tử đạo. Chúa Thánh Thần là cội nguồn của lòng nhiệt thành của các ngài hơn là hiệu năng của lòng nhiệt thành ấy.

Có một lý do khác thúc đẩy chúng ta tái khám phá lại con đường từ sự say sưa đến sự tiết độ này. Đời sống Kitô Hữu không chỉ là vấn đề lớn lên trong sự thánh thiện cá nhân, mà đó còn là sứ vụ, sự phục vụ, và loan báo. Để đạt được những nhiệm vụ này thì chúng ta cần “sức mạnh từ trời cao”, những đặc sủng hay, tắt một lời, một kinh nghiệm Lễ Hiện Xuống sâu sắc của Chúa Thánh Thần.

Chúng ta cần sự say sưa tiết độ của Thần Khi thậm chí còn nhiều hơn cả các Giáo Phụ cần. Thế giới đang trở nên quá đối kháng với Tin Mừng, quá chắc về chính nó, đến nỗi chỉ “có làn gió mạnh” của Thần Khí mới có thể vượt thắng được sự không tin của thế giới và lôi kéo thế giới ra khỏi toàn bộ tình trạng tiết độ hoàn toàn mang tính con người và duy ý chí, điều nguỵ trang chính nó dưới dáng vẻ của “sự khách quan mang tính khoa học”. Chỉ có những vũ khí thiêng liêng, Thánh Tông Đồ nói, “nhờ Thiên Chúa, có sức đánh đổ các đồn lũy. Chúng tôi đánh đổ các kiểu lý luận và mọi thái độ kiêu căng chống lại sự hiểu biết Thiên Chúa. Chúng tôi bắt mọi tư tưởng phải đầu hàng để đi tới chỗ vâng phục Ðức Kitô” (2 Cr 10:4-5).

3. Cơn Mưa Xâm Nhập Của Thần Khí

Đâu là những “nơi” mà Thần Khí hoạt động theo cách Hiện Xuống này? Một lần nữa chúng ta hãy lắng nghe tiếng nói của Thánh Ambrose là người xuất chúng, trong số các Giáo Phụ La Tinh, về sự say sưa tỉnh thức của Thần Khí. Sau khi bàn về hai “nơi” mà trong đó người ta có thể lãnh nhận Thần Khí – Thánh Thể và Thánh Kinh – Ngài đưa ra thêm một khả năng thứ ba, nói rằng,

Cũng vậy, sẽ có một sự say sưa kéo theo khi có cơn mưa thâm nhập Thần Khí. Chúng ta đọc trong Công Vụ Tông Đồ...về những người nói theo những tiếng ngoại quốc và có vẻ như, đối với những người nghe họ, là say xỉn vì loại rượu mới.[10]

Sau khi nhấn mạnh những cách thế “thông thường” của việc được say sưa bởi Thần Khí, Thánh Ambrose thêm một cách khác với những lời, một cách “ngoại thường” (ngoại thường theo nghĩa là điều đó chưa có tiền lệ hoặc được thiết lập), hệ tại ở việnc làm sống lại kinh nghiệm mà các tông đồ có vào Ngày Lễ Hiện Xuống. Rõ ràng là Ngài không thêm khả năng thứ ba này để nói với người nghe của Ngài rằng điều đó gần gũi với họ và chỉ dành cho các tông đồ và thế hệ Kitô Hữu đầu tiên. Trái lại, Ngài có ý khích lệ người tín hữu hãy khao khát kinh nghiệm về “cơn mưa xâm nhậm Thần Khí” này đã xảy ra trong Lễ Hiện Xuống. Cũng như đối với Thánh Ambrose thì Lễ Hiện Xuống không phải là một biến cố gần gũi, mà là một khả năng luôn mở ra trong Giáo Hội.

Do đó khả năng cũng mở ra cho chúng ta để cuốn hút Thần Khí theo cách mới này vốn chỉ tuỳ thuộc vào quyền tối thượng của Thiên Chúa và sáng kiến tự do của Ngài. Chúng ta đừng để rơi vào sai lỗi của những người Pha-ri-sêu và kinh sư là những người nói với Chúa Giêsu, "Ðã có sáu ngày phải làm việc, thì đến mà xin chữa bệnh những ngày đó, đừng có đến vào ngày sabát!" (x. Lc 13:14). Chúng ta có thể bị cám dỗ để nói với Thiên Chúa hoặc nghĩ rằng “Có bảy bí tích để thánh hoá và trao ban Thần Khí, vậy thì tại sao phải vượt ra khỏi những bí tích này để đi vào những cách mới và không quen thuộc?”

Một trong những cách mà trong đó Chúa Thánh Thần hoạt động ngày nay, bên ngoài những kênh theo thiết chế của ân sủng, là Canh Tân Đặc Sủng. Thần học gia Yves Congar, trong bài diễn văn của Ngài với Hội Nghị Thánh Linh Học Quốc Tế tại Vatican vào năm 1981 vào dịp kỷ niệm 1600 năm Công Đồng Đại Kết Constantinople, nói,

Làm sao chúng ta có thể tránh né việc xác định điều gọi là dòng suối đặc sủng, được biết rộng hơn là Canh Tân trong Thần Khí, ở đây với chúng ta? Dòng suối này lan rộng giống như một bụi gai bốc cháy. Nó xa hơn cả một đam mê...Theo một khía cạnh chính, thì dòng suối đặc sủng này giống như những phong trào sống lại trong quá khứ: tính cách công và chính đáng của hành động thiêng liêng làm thay đổi đời sống con người...Nó mang lại sức trẻ, sự tươi mới và những khả năng mới đi vào tận cung lòng của Giáo Hội cũ, mẹ chúng ta. Thực ra, trừ một vài trường hợp hiếm hoi, Phong Trào Canh Tân vẫn ở trong Giáo Hội và, thoát ra khỏi những thiết chế lâu dài, thì nó vẫn đang làm sống động lại những thiết chế ấy.[11]

Khí cụ thiết yếu mà qua đó việc Canh Tân trong Thần Khí “làm thay đổi đời sống con người” là phép rửa trong Thần Khí. Tôi đề cập đến điều này ở đây mà dĩ nhiên là không có bất cứ một ý cải đạo nào, nhưng vì tôi nghĩ rằng thật quan trọng là một thực tại chạm vào hàng triệu người công giáo trên khắp thế giới được biết đến như là trung tâm của Giáo Hội.

Sự thể hiện tự thân nó xuất phát trực tiếp từ Chúa Giêsu Đấng trước khi về trời, nói về Lễ Hiện Xuống tương lai, đã nói với các tông đồ của Ngài: “ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần” (Cv 1:5). Đây là một nghi thức vốn chẳng có gì là bí truyền về nó cả nhưng hơn thế xảy ra với những cử chỉ đơn giản, bình an và niềm vui lớn lao và được đi kèm bởi các thái độ khiêm nhường, sám hối, và sẵn sàng trở nên trẻ nhỏ để đi vào nước trời.

Đó là một sự canh tân và một sự hiện thực hoá không chỉ của bí tích rửa tội và thêm sức, mà còn của toàn bộ đời sống Kitô Hữu: đối với đôi bạn, một sự canh tân bí tích hôn nhân; đối với linh mục, một sự canh tân về sự thụ phong của họ; đối với người thánh hiến, một sự canh tân về lời tuyên khấn của họ. Người biết chuẩn bị bản thân cho điều này, ngoài việc thực hiện một sự tuyên tín tốt, bằng việc tham gia vò các buổi học giáo lý mà qua đó họ được đưa vào trong mối liên hệ thiết yếu và vui tươi với những sự thật và thực tại chính của niềm tin: tình yêu Thiên Chúa, tội lỗi, ơn cứu độ, sự sống mới, sự biến đổi trong Đức Kitô, các đặc sủng, và các hoa trái của Thần Khí. Hoa trái phổ biến và tuyệt vời nhất là sự khám phá ra việc có một “mối quan hệ cá nhân” với Chúa Giêsu có nghĩa là gì. Trong sự hiểu biết Công Giáo về Phép Rửa trong Thần Khí thì không phải là một điểm đến, mà là một khởi điểm hướng đến sự trưởng thành Kitô Giáo và phục vụ đối với Giáo Hội.

Một thập kỷ sau phong trào canh tân đặc sủng xuất hiện trong Giáo Hội Công Giáo, Karl Rahner viết,

Ngay cả một nền thần học khách quan và suy lý không nhất thiết phải khước từ tất cả những kinh nghiệm đầy nhiệt huyết [của ân sủng] này ra khỏi tầm tay... Ở đây chúng ta chắc chắn đối diện với những kinh nghiệm đặc biệt ấn tượng, hiệu năng về mặt con người, giải thoát của ân sủng vốn mang lại những chân trời hiện sinh hoàn toàn mới mẻ. Những kinh nghiệm này uốn nắn thái độ nội tâm thẳm sâu nhất của một người Kitô Hữu trong một thời gian dài và khá phù hợp...để được gọi là “phép rửa trong Thần Khí”.[12]

Nhưng có đúng khi mong đợi rằng mọi người cần trải qua kinh nghiệm này không? Có phải đây là cách có thể duy nhất để kinh nghiệm ân sủng của Lễ Hiện Xuống không? Nếu qua “phép rửa trong Thần Khí” chúng ta có ý nói một nghi thức nhất định trong một bối cảnh nhất định, thì chúng ta phải nói là không; đó không phải là cách duy nhất để có một kinh nghiệm thẳm sâu về Thần Khí. Đã từng và hiện có vô số các Kitô Hữu là người có cùng một kinh nghiệm mà không biết bất cứ điều gì về phép rửa trong Thần Khí, lãnh nhận một sự tuôn đổ tự nhiên của Thần Khí vào một dịp tĩnh tâm, một cuộc họp, một bài đọc, hay, theo Thánh Tôma Aquinô, khi một người được mời gọi đến một nhiệm vụ mới và nhiều đòi hỏi hơn trong Giáo Hội.[13]

Tuy nhiên, khi nói điều đó, thì cũng cần phải nói rằng điều thường được gọi là “phép rửa trong Thần Khí” hay “sự tuôn đổ Thần Khí” tự thể hiện chính nó là một cách đơn giản và mạnh mẽ để canh tân đời sống của hàng triệu người tín hữu ở hầu hết các giáo hội Kitô Giáo. Ngay cả một khoá học về linh thao có thể kết thúc rất tốt lành với một lời thỉnh nguyện Thần Khí, nếu người hướng dẫn buổi linh thao ấy đã kinh nghiệm được Thần Khí và người tham gia khao khát Thần Khí. Tôi đã có kinh nghiệm quý báu này vào năm ngoái. Một giám mục của một giáo phận miền nam London đã có sáng kiến tổ chức một cuộc tĩnh tâm đặc sủng vốn mở ra cho hàng giáo sĩ của các giáo phận khác nữa. Khoảng 100 linh mục và phó tế vĩnh viễn hiện diện, và cuối cùng tất cả đều xin và nhận được sự tuôn đổ Thần Khí, với sự hỗ trợ của một nhóm giáo dân thuộc Phong Trào Canh Tân là những người đã đến cho dịp này. Nếu hoa trái của Thần Khí là “bác ái, niềm vui và bình an” (Gl 5:22) thì cuối cùng mọi người đều hầu như đã chạm tới bằng những đôi bàn tay của những người hiện diện.

Đây không phải là vấn đề bám chặt vào một phong trào này hay các phong trào khác trong Giáo Hội. Đó cũng không phải là một vấn đề, nói đúng ra, của một “phong trào” mà là của “một dòng ân sủng” vốn mở ra cho hết tất cả mọi người và được định để đánh mất chính nó trong Giáo Hội giống như một sự phóng điện vốn được phân tán ra trong một loạt và rồi biến mất một khi nó đã hoàn tất nhiệm vụ của mình.

Thánh Gioan XXIII đã nói về “một Lễ Hiện Xuống mới”; Chân Phúc Phaolô VI đi xa hơn, nói về “một Lễ Hiện Xuống vĩnh cửu”. Đây là điều mà Ngài đã nói trong buổi triều yết chung năm 1972:

Giáo Hội cần một Lễ Hiện Xuống vĩnh cửu; Giáo Hội cần lửa trong tâm hồn mình, lời trên môi mình, lời tiên tri trong chương trình của mình. [...] Giáo Hội cần phải tái khám phá sự nóng lòng, sự nếm trải và sự chắc chắn của sự thật vốn thuộc về Giáo Hội [...] Và do đó Giáo Hội cần phải cảm thấy được sự chảy tràn qua tất cả những phẩm chất con người của Giáo Hội một làn sóng của tình yêu, của tình yêu ấy vốn được mời gọi ra đi và đổ vào trong tâm hồn chúng ta ‘bởi Chúa Thánh Thần là Đấng đã được ban cho chúng ta’ (Rm 5:5)”[14]

Do đó chúng ta hãy kết thúc bằng những lời của bài ca phụng vụ được nhắc lại ngay từ lúc đầu:

Và xin Đức Kitô là lương thực cho chúng con,

và niềm tin trở thành của uống cho chúng con,

và xin cho chúng con hân hoan nếm lấy

sự say sưa tỉnh táo Thần Khí.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Vatican Radio)

[1] See “Pope Paul Addresses the Charismatic Renewal,” New Covenant, July 1975, p. 25.

[2] Sancti AmbrosiiOpera 22Hymni, Inscriptiones, Fragmenta (Rome: Città Nuova, 1994), p. 38. The Latin stanza:  “Christusque nobis sit cibus, / potusque noster sit fides; / laeti bibamus sobriam /ebrietatem Spiritus.”

[3] St. Ambrose’s hymn “Splendor paternae gloriae” [“O Splendor of the Father’s Glory”], in Brian P. Dunkle, Enchantment and Creed in the Hymns of Ambrose of Milan (Oxford, UK: Oxford University Press, 2016), p. 222.

[4] See, among many examples, On the Creation of the World in PhiloPhilosophical Writings, ed. Hans Lewy (Oxford: East and West Library 1946), p. 55.  See Legum allegoriae 1, 84, “methe nefalios.”

[5] See St. Cyril of Jerusalem, The Catechetical Letters of St. Cyril of Jerusalem, 17, 18-19, reprint of Nicene and Post- Nicene Fathers, Second Series, vol. 7 (N.p.: Veritatis Splendor, 2014), p. 592; see PG 33, p. 989.

[6] St. Ambrose, Commentary on Twelve Psalms, 1, 33, trans. ĺde M. NíRian (Dublin: Halcyon Press, 2000), p. 21; see also PL 14, pp. 939-940.

[7] See Hesychius, “On Watchfulness and Holiness: Written for Theodolus,” in The Philokalia, vol. 1 (London: Faber and Faber 1979), pp. 162-198.

[8] Saint John of the Cross, Ascent of Mount Carmel II, 5, 7, trans. E. Allison Peers (New York: Image Books, 1958), p. 96.

[9] Macarius of Egypt, “Love,” 113, in Philokalia, vol. 3, trans. and ed. G. E. Palmer et al. (London: Faber and Faber, 1984), pp. 334-335.

[10] See Saint Ambrose, Commentary on Twelve Psalms, 35, 19, p. 47.

[11] See Yves Congar, “Actualité de la pneumatologie,” in Credo in Spiritum Sanctum, ed. José Saraiva Martins, vol. 1 (Vatican City: Libreria Editrice Vaticana, 1983), p. 18, republished as “Pneumatology Today,” in American Ecclesiastical Review 167, no. 7 (1973): pp. 435-449.

[12] Karl Rahner, The Spirit in the Church, trans. John Griffiths (New York: Seabury Press, 1979), pp. 10-11.

[13] See St. Thomas Aquinas, S.Th. I,q.43,a.6 ad 2.

[14] Insegnamenti di Paolo VI, vol X, Tipografia Poliglotta Vaticana, p. 1210 s. (Discourse of 29 Nov.1972); translation in E. O’Connor, Pope Paul and the Spirit, Ave Maria Press, Notre Dame, Indiana 1978, p.183).