Skip to main content
Cha Cantalamessa - vị giảng thuyết cho giáo triều.

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ IV Mùa Vọng 2016

Bài giảng tĩnh tâm tuần thứ IV Mùa Vọng cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô và Giáo Triều Rôma, 23/12/2016 tại Nhà Nguyện Redemptoris Mater, Vatican. 

"Bởi Phép Đức Chúa Thánh Thần, Người Đã Nhập Thể Trong Lòng Trinh Nữ Maria"

1. Giáng Sinh, một Mầu Nhiệm “đối với Chúng Ta”

Trong sự tiếp nối với những suy tư về Chúa Thánh Thần, và trước Lễ Giáng Sinh, chúng ta hãy cùng nhau suy niệm về đoạn trong kinh tin kính nói về công việc của Chúa Thánh Thần trong Sự Nhập Thể. Trong Kinh Tin Kính, chúng ta nói, “Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế, bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria, và đã làm người”.

Thánh Agustine đã phân biệt hai cách vui mừng với biến cố trong lịch sử cứu độ: như là một mầu nhiệm (in sacramento) hoặc như là một dịp kỷ niệm đơn thuần. Trong việc tổ chức mừng một dịp kỷ niệm, Ngài nói, chúng ta chỉ cần “chỉ ra với một dịp trọng thể mang tính tôn giáo ngày này của năm mà trong đó việc tưởng nhớ về chính sự kiện diễn ra”. Tuy nhiên, trong việc cử hành một mầu nhiệm, “không chỉ biến cố được tưởng nhớ, mà chúng ta còn phải làm thế theo một cách mà ý nghĩa của biến cố ấy đối với chúng ta được hiểu và đón nhận bằng lòng nhiệt thành”.[1]

Giáng Sinh không phải là một dịp vui mừng theo kiểu một dịp kỷ niệm. (Như chúng ta biết, chọn lựa ngày 25/12 như là ngày đã được chọn mang tính biểu tượng nhiều hơn là những mùa mang tính lịch sử). Đó là một dịp cử hành theo kiểu của một mầu nhiệm vốn cần phải được hiểu theo nghĩa về tầm quan trọng của biến cố ấy đối với chúng ta. Thánh Lê-ô Cả đã nhấn mạnh ý nghĩa mầu nhiệm của “bí tích về Cảnh Giáng Sinh của Đức Kitô” nói rằng, “Giống như chúng ta đã bị đóng đinh với Ngài trong cuộc khổ nạn, đã được phục sinh với Ngài trong sự phục sinh của Ngài,...thì cũng thế chúng ta sẽ được sinh ra cùng với Ngài trong Cảnh Giáng Sinh của Ngài”.[2]

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ I Mùa Vọng 2016

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ II Mùa Vọng 2016

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ III Mùa Vọng 2016

Ngay tại nền tảng của mầu nhiệm này tất cả là biến cố kinh thánh được thành toàn một lần và mãi mãi ở nơi Mẹ Maria: Đức Trinh Nữ trở thành Mẹ của Chúa Giêsu qua hành động của Chúa Thánh Thần. Mầu nhiệm mang tính lịch sử này, giống như tất cả mọi biến cố cứu độ, được mở ra tới một tầm mức mang tính bí tích mà trong đó Giáo Hội và ở tầm mức luân lý trong đời sống của cá nhân người tin. Mẹ Maria, là Mẹ Đồng Trinh sinh ra Đức Kitô bởi Chúa Thánh Thần, xuất hiện như một “kiểu mẫu” hay một gương mẫu hoàn hảo, của Giáo Hội và của người tin. Chúng ta hãy nghe một tác giả trong Thời Trung Cổ, Chân Phúc Isaac Stella, tóm lược lại tư tưởng của các Giáo Phụ khi nói đến điều này:

Mẹ Maria và Giáo Hội là một bà mẹ, nhưng hơn cả một bà mẹ; một trinh nữ, thậm chí còn hơn cả một trinh nữ. Cả hai đều là những bà mẹ, cả hai đều là những trinh nữ... Trong sự gợi hứng của Kinh Thánh, điều đã được nói đến theo nghĩa phổ quát của Mẹ Đồng Trinh, Giáo Hội, được hiểu theo một nghĩa đơn nhất về Đức Maria Đồng Trinh.... Theo một cách mà mọi người Kitô Hữu cũng được tin là hiền thê của Lời Chúa, một người mẹ của Đức Kitô, là con gái và chị gái của Ngài, một trật đồng trinh và sinh hoa trái.[3]

Tầm nhìn mang tính giáo phụ đã được đưa ra ánh sáng bởi Công Đồng Vatican II trong các chương của hiến chế Lumen gentium dành nói về Mẹ Maria. Thực ra trong ba chương tách biệt, văn kiện nói về Mẹ Đồng Trinh Maria là gương mẫu và khuôn mẫu của Giáo Hội (số 63), cũng được gọi là một đức đồng trinh và một người mẹ trong đức tin (số 64), và của người tin là những người, khi noi gương nhân đức của Mẹ Maria, thì hạ sinh và để cho Chúa Giêsu được lớn lên trong tâm hồn mình và trong tâm hồn của những người anh chị em của mình (số 65).

2. “Bởi Phép Đức Chúa Thánh Thần”

Kế đến chúng ta hãy suy tư về vai trò của mỗi một trong hai nhân vật chính, Chúa Thánh Thần và Mẹ Maria, để tìm cách cuốn hút động lực cho Lễ Giáng Sinh của riêng chúng ta. Thánh Ambrose viết,

Sự hạ sinh từ Đức Đồng Trinh là công việc của Thần Khí... Chúng ta không thể hoài nghi rằng Thần Khí là Đấng Tác Thành mà chúng ta biết là Tác Giả của Sự Nhập Thể của Chúa.... Nếu Đức Đồng Trinh đã cưu mang như là hoạt động của Ngài và quyền năng của Chúa Thánh Thần, thì ai sẽ khước từ Thần Khí là Đấng Tác Thành?”[4]

Trong bản văn này Thánh Ambrose đã giải thích cách hoàn hảo vai trò mà Tin Mừng dành cho Chúa Thánh Thần trong Sự Nhập Thể, vốn gọi Ngài liên tục là “Thần Khí” và “quyền năng của Đấng Tối Cao” (Lc 1:35). Ngài là “Thần Khí Tác Tạo” Đấng hoạt động để đưa con người đi vào sự hiện hữu (như trong St 1:2), để tạo ra một hình thức sống mới cao hơn. Chính Thần Khí Đấng chính là “Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống”, khi chúng ta tuyên tín trong cùng một kinh tin kính.

Ở đây cũng thế, ngay từ khởi đầu, Thần Khí, sáng tạo “từ hư vô”, đó là, từ một sự bắng bóng hoàn toàn các khả năng của con người, không có bất cứ một sự cần thiết nào đối với sự hỗ trợ hay trợ giúp. Và tình trạng “hư không” này, sự trống rỗng này, sự thiếu vắng những giải thích và căn nguyên tự nhiên này, được gọi là, trong trường hợp này, sự đồng trinh của Mẹ Maria. ‘Việc ấy xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?’ Và sứ thần đã trả lời Mẹ, ‘Thần Khí sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng của Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà; do đó con trẻ được sinh ra sẽ được gọi là đấng thánh, Con Thiên Chúa’” (Lc 1:34-35). Sự đồng trinh của Mẹ ở đây là dấu chỉ tuyệt vời vốn không thể bị loại bỏ hoặc làm cho lu mờ mà không xé nát toàn bộ nền tảng của đoạn Tin Mừng và ý nghĩa của đoạn này.

Thần Khí ngự xuống trên Mẹ Maria, do đó, là Thần Khí Tác Tạo Đấng đã hình thành một cách mầu nhiệm nên thần mình của Đức Kitô từ Đức Đồng Trinh. Nhưng thậm chí còn hơn thế nữa. Ngoài việc là “Thần Khí Tác Tạo” Ngài còn là “suối nguồn sự sống và ngọn lửa tình yêu, và dầu ngọt ngào từ trời cao” của Mẹ Maria, “fons vivus, ignis, carita, et spiritalis unctio”.[5] Mầu nhiệm sẽ trở nên khánh kiệt cách trọn vẹn nếu nó bị giảm xuống thuần tuý là chiều kích mang tính khách quan của nó, hàm ý mang tính giáo điều của nó (nhị nguyên về bản thể, hiệp nhất ngôi vị), trong khi lại coi thường các khía cạnh chủ quan và hiện sinh của mầu nhiệm này.

Thánh Phaolô nói về “bức thư của Ðức Kitô được giao cho chúng tôi chăm sóc, không phải viết bằng mực đen, nhưng bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống, không phải ghi trên "những tấm bia bằng đá", nhưng trên "những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người" (2 Cr 3:3). Thần Khí đã viết lên bức thư tuyệt vời này chính là Đức Kitô trên hết là ở trong tâm hồn của Mẹ Maria để, như Thánh Augustine nói, Đức Kitô “được giữ trong tư tưởng của Mẹ Maria theo nghĩa Ngài là chân lý, Ngài đã được cưu mang trong lòng Mẹ theo nghĩa Ngài là con người”.[6] Câu nói nổi tiếng, cũng bởi Thánh Augustine, là “Đức Maria cưu mang Đức Kitô trước hết là ở trong lòng Mẹ và rồi ở nơi thân xác Mẹ” (“prius concepit mente quam corpore”)[7] có nghĩa là Chúa Thánh Thần hoạt động ở nơi tâm hồn của Mẹ Maria, soi sáng tâm hồn và đốt cháy tâm hồn với Đức Kitô thậm chí cả trước khi lấp đầy cung lòng của Mẹ bằng Đức Kitô.

Chỉ có các thánh và những nhà thần bí là những người có kinh nghiệm cá nhân về sự dâng trào của Thiên Chúa trong đời sống của họ mói có thể giúp chúng ta hiểu được điều mà Đức Maria đã kinh qua trong giây phúc Nhập Thể Ngôi Lời vào trong lòng Mẹ. Một trong số đó, Thánh Bonaventure, viết rằng,

Khi Mẹ trao phó sự bằng lòng của Mẹ cho Ngài, thì Chúa Thánh Thần đến trên Mẹ giống như một ngọn lửa thánh đốt cháy linh hồn Mẹ và thánh hoá thân xác của Mẹ trong sự trong sạch hoàn hảo. Nhưng Thần Khí của Đấng Tôi Cao rợp bóng trên Mẹ (Lc 1:35) để Mẹ có thể chịu được một ngọn lửa như thế...Ôi, nếu bạn có thể cảm nhận được một cách nào đó phẩm chất và cường độ của ngọn lửa từ trời ấy, sự mát trong đi kèm với ngọn lửa ấy, sự an ủi mà ngọn lửa ấy mang lại; nếu bạn có thể nhận ra được lời tán tụng tuyệt vời ấy của Mẹ Đồng Trinh, sự làm cao quý nhân loại, sự tích tụ của quyền năng thánh,...thì tôi chắc là bạn sẽ hát bằng giọng hát ngọt ngào cùng với Đức Trinh Nữ Diễm Phúc bài ca thánh ấy: Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa.[8]

Sự Nhập Thể được Mẹ Maria kinh nghiệm như là một biến cố đặc sủng ở mức cao nhất làm cho Mẹ trở thành một khuôn mẫu của một linh hồn đang “chiếu toả bằng Thần Khí” (Rm 12:11). Đó là Lễ Hiện Xuống của Mẹ. Nhiều trong số hành động và lời nói của Mẹ Maria, đặc biệt là trong đoạn nói về chuyến thăm bà Ê-li-sa-bét của Mẹ, không thể hiểu được nếu chúng ta không nhìn những lời ấy dưới ánh sáng của kinh nghiệm thần bí vốn vượt quá sự so sánh. Mọi thứ mà chúng ta thấy đang hoạt động cách hữu hình ở nơi một người vốn được ân sủng thăm viếng (tình yêu, niềm vui, bình an, ánh sáng) chúng ta phải nhận biết trong cách thế duy nhất ở nơi Mẹ Maria trong Biến Cố Truyền Tin. Mẹ Maria là người đầu tiên kinh nghiệm được “sự say sưa điều độ về Thần Khí” mà tôi đã nói đến vào lần trước, và lời “Magnificat” của Mẹ là chứng cứ rõ ràng nhất về điều đó.

Tuy nhiên, đó chính là sự say sưa “điều độ”, một sự say sưa khiêm nhường. Sự khiêm nhường của Mẹ Maria sau biến cố Nhập Thể dường như đối với chúng ta giống như một trong những mầu nhiệm cao cả nhất của ân sủng thánh. Làm thế nào mà Mẹ Maria có thể mang lấy sức nặng của tư tưởng này: “Bà là Mẹ của Thiên Chúa! Bà cao cả nhất trong mọi loài thọ tạo!”? Lucifer đã không thể xử lý sự căng thẳng này cách đúng đắn và, bị quật ngã bởi sự say sưa của tình trạng tuyệt trác của nó, đã bị quẳng ra ngoài. Với Mẹ Maria thì không thế. Mẹ vẫn khiêm nhường, điều độ, như thể chẳng có gì xảy ra trong đời Mẹ mà Mẹ có thể đưa ra bất cứ một tuyên bố nào về điều đó. Trong một dịp Tin Mừng cho chúng ta thấy Mẹ trong hành động xin người khác thậm chí một cơ hội để thấy Con Mẹ: “Mẹ và anh em của Thầy”, họ nói với Chúa Giêsu, “đang đứng bên ngoài, muốn gặp Thầy” (Lc 8:20).

3. “Về Mẹ Maria Đồng Trinh”

Giờ đây chúng ta đến gần hơn nữa phần của Mẹ Maria trong biến cố Nhập Thể, sự đáp trả của Mẹ trước hành động của Chúa Thánh Thần. Một cách khách quan, phần của Mẹ Maria hệ tại ở việc đã trao ban máu và thịt cho Ngôi Lời của Thiên Chúa trong tình mẫu tử thánh của Mẹ. Chúng ta hãy nhanh chóng lần trở về con đường lịch sử mà qua đó Giáo Hội đạt tới việc chiêm ngắm trong ánh sáng trọn vẹn sự thật chưa được nghe biết này: Mẹ Thiên Chúa! Một tạo vật, Mẹ của Đấng Tạo Hoá! Trong tác phẩm Thần Khúc của Dante Alighieri, Thánh Bernard chào Mẹ là “Đức Mẹ Đồng Trinh, con gái của Con Mẹ,/ khiêm nhường nhưng đáng được ca tụng hơn bất cứ một tạo vật nào khác”.[9]

Ngay từ đầu và trong toàn bộ giai đoạn được thống lĩnh bởi cuộc đấu tranh chống lại thuyết dị giáo ngộ đạo và hiện hình, vai trò làm mẹ của Mẹ Maria hầu như được coi chỉ là vai trò làm mẹ về thể lý. Những thứ dị giáo này đã khước từ rằng Đức Kitô có một thân xác thật, hoặc, nếu thật sự thân xác ấy được sinh ra bởi một người phụ nữ, thì họ từ chối rằng thân xác ấy thật sự được lấy từ máu và thịt của Mẹ. Sự thật cần phải được khẳng định một cách mạnh mẽ chống lại họ rằng Chúa Giêsu là con của Mẹ Maria và “hoa trái của lòng Mẹ” (x. Lc 1:42) và rằng Mẹ Maria là Mẹ thật và tự nhiên của Chúa Giêsu.

Trong thời gian xưa này mà trong đó vai trò làm mẹ thật hoặc tự nhiên của Mẹ Maria đã được xác định trước những người theo Phái Ngộ Đạo và theo Phái Hiện Hình, việc sử dụng tước hiệu Theotokos, Mẹ Thiên Chúa, xuất hiện lần đầu tiên, có lẽ với Origenes vào thế kỷ thứ III. Từ thời điểm đó trở đi, người ta sử dụng tước hiệu ấy một cách đặc biệt dẫn Giáo Hội đến việc khám phá một tình mẹ sâu sắc hơn, một tình mẹ mà chúng ta có thể gọi là tình mẹ siêu hình, theo cách thế được gán cho con người của Lời.

Điều này xảy ra vào thế kỷ thứ 5 trong suốt giai đoạn những tranh cãi mang tính Kitô Học khi vấn đề trọng tâm có liên hệ đến Chúa Giêsu không còn là bản tính con người thật của Ngài nữa mà là sự hiệp nhất của ngôi vị của Ngài. Tình mẹ của Mẹ Maria không còn được nhìn chỉ trong mối quan hệ với bản tính con người của Đức Kitô nữa mà, một cách đúng đắn hơn, trong mối quan hệ với ngôi vị độc nhất của Ngôi Lời làm người. Và từ đó ngôi vị độc nhất này mà Mẹ Maria sinh ra theo như tính xác phàm không là gì hơn là Ngôi Vị thánh của Chúa Con, do đó Mẹ xuất hiện như là “Mẹ Thiên Chúa”thật sự.

Sẽ không còn nữa một mối quan hệ chỉ ở mức độ thể lý giữa Mẹ Maria và Đức Kitô. Vẫn còn một mối quan hệ ở mức độ siêu hình, và điều đó đặt mẹ ở một chiều cao đáng kinh ngạc, tạo nên một mối quan hệ độc nhất giữa Mẹ và Chúa Cha. Thánh I-nha-xi-ô An-ti-ô-khô gọi Chúa Giêsu là con của cả “Mẹ Maria và của Thiên Chúa”,[10] hầu như theo cách thế mà chúng ta nói rằng người này là con của người đàn ông này và người phụ nữ này. Với Công Đồng Ê-phê-sô thì vấn đề trở nên một vấn đề được thiết lập mãi mãi cho Giáo Hội. Một trong những văn bản chứng minh bởi toàn bộ công đồng nói, “Nếu ai đó không tuyên xưng rằng Đấng Emmanuel là Thiên Chúa thật và vì lý do này Đức Trinh Nữ thánh thiện là Mẹ Thiên Chúa [Theotokos] (Bởi vì Mẹ sinh ra, theo tính xác thịt, Ngôi Lời của Thiên Chúa thành xác phàm), thì người đó bị chúc dữ”.[11]

Nhưng ngay cả sự kết luận này cũng không phải là lời cuối cùng. Có một cấp độ khác để khám phá ra tình mẹ thánh của Mẹ Maria vượt ra khỏi các cấp độ thể lý và siêu hình. Trong những tranh cãi mang tính Kitô Học, thì tước hiệu Theotokos có giá trị nhiều hơn theo nghĩa là con người của Đức Kitô hơn là con người của Đức Maria, mặc dù đó là một tước hiệu của Mẹ Maria. Người ta vẫn chưa đưa ra được những kết luận mang tính logic từ tước hiệu ấy khi nói đến con người của Mẹ Maria và đặc biệt là sự thánh thiện độc nhất của Mẹ.

Tước hiệu Theotokos có nguy cơ trở thành một vũ khí của chiến tranh giữa việc chống lại các trào lưu thần học thay vì là một sự diễn tả của niềm tin của Giáo Hội và lòng đạo đức đối với Mẹ Maria. Một biến cố đáng tiếc lẽ ra không cần phải im tiếng để nói lên điều này. Cyril thành Alexander, mà chính bản thân Ngài đã đấu tranh như một con hổ cho tước hiệu Theotokos, là một người đại diện cho nhiều Giáo Phụ một dấn ấn sai lầm có liên hệ đến sự thánh thiện của Mẹ Maira. Ngài là một trong số ít người nói cách cởi mở rằng có những điểm yếu và khiếm khuyết trong đời sống của Mẹ Maria, chủ yếu là ở dưới chân thập giá. Ở đây, theo Cyril, Mẹ Thiên Chúa đã chao đảo trong niềm tin của Mẹ: Ngài viết rằng Thiên Chúa ở ngay điểm giao đó “đã trao một sự dự liệu trước cho Mẹ của Ngài” Đấng “đã không hiểu về mầu nhiệm”, và “vì Ngài biết tư tưởng của Mẹ...nên Ngài đã trao phó Mẹ cho người môn đệ của Ngài [Gioan]...một người có thể giải thích các chiều sâu của mầu nhiệm một cách trọn vẹn và đầy đủ”.[12]

Cyril có thể không chấp nhận rằng một người phụ nữ, kể cả khi người ấy là Mẹ của Chúa Giêsu, lại có thể có niềm tin lớn lao hơn các tông đồ là những người, trong tư cách là người, đã chao đảo vào thời điểm cuộc khổ nạn! Những lời của Ngài phản chiếu một sự thiếu tôn trọng phổ quát dành cho phụ nữ trong thế giới xưa và thể hiện việc có ít lợi ích thế nào trước việc nhận ra tình mẹ về mặt thể lý và siêu hình của Mẹ Maria trong mối quan hệ với Chúa Giêsu nếu người ta không nhận ra một tình mẹ thiêng liêng ở nơi Mẹ, một điều thuộc về tâm hồn vượt ra khỏi điều thuộc về thể xác.

Ở đây có sự đóng góp lớn lao của các tác giả La Tinh, và đặc biệt là sự đóng góp của Thánh Augustine, trước sự phát triển của Thánh Mẫu Học. Tình mẹ của Mẹ Maria được các vị ấy nhìn như là một tình mẹ trong niềm tin. Nhận định về điều Chúa Giêsu nói rằng "Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành" (Lc 8:21), Thánh Augustine viết,

Chẳng lẽ Mẹ Maria Đồng Trinh, Đấng đã tin bởi niềm tin và cưu mang bởi niềm tin, Đấng đã được tuyển chọn để Đấng Cứu Độ chúng ta được sinh ra từ đó ở giữa con người, Đấng đã được Đức Kitô tạo thành trước khi Đức Kitô được tạo thành ở nơi Ngài – chả lẽ Ngài lại không thực thi ý muốn của Chúa Cha? Thực ra Mẹ Maria diễm phúc chắc chắn thi hành ý muốn của Chúa Cha, và vì thể chính là cho Mẹ để trở thành một điều cao cả hơn khi làm môn đệ của Đức Kitô so với việc là mẹ của Ngài”.[13]

Tình mẫu tử về mặt thể lý và siêu hình của Mẹ Maria giờ đây được trao vương miện bằng việc nhận ra tình mẹ thiêng liêng của Mẹ, hoặc thuộc về niềm tin, điều làm cho Mẹ Maria trở thành người môn đệ đầu tiên và ngoan ngoãn nhất của Đức Kitô. Hoa trái tuyệt vời nhất của cách nhìn này về Đức Đồng Trinh là tầm quan trọng mà chủ đề về “sự thánh thiện” của Mẹ Maria đang được đề cập đây. Một lần nữa, Thánh Augustine, khi thảo luận về tình trạng tội lỗi của con người, viết rằng, “Tôi thực hiện một sự loại trừ Đức Trinh Nữ Maria, mà trong trường hợp của Mẹ, vì sự tôn kính dành cho Thiên Chúa, tôi mong muốn không đưa ra một vấn đề nào cả khi nói đến vấn đề có liên quan đến tội lỗi”.[14] Giáo Hội La Tinh sẽ diễn tả đặc quyền này bằng tước hiệu “Vô Nhiễm”, và Giáo Hội Hy Lạp sẽ diễn tả điều này là “Toàn Thánh” (Panhagia).

4. Sự Hạ Sinh Chúa Giêsu

Giờ đây chúng ta hãy nỗ lực xem “mầu nhiệm” của sự hạ sinh Chúa Giêsu bởi Đức Maria qua Chúa Thánh Thần có ý nghĩa gì “với chúng ta”. Có một tư tưởng mạnh mẽ về Giáng Sinh trở lại từ thời này đến thời kia trên môi của các Tiến Sĩ vĩ đại và các bậc thầy thiêng liêng trong Giáo Hội: Origen, Thánh Augustine, Thánh Benard, và nhiều vị khác nữa. Tư tưởng ấy thế này, “Việc Đức Kitô được sinh ra bởi Mẹ Maria một lần tại Bêlem mang lại điều tốt lành gì cho tôi nếu Ngài không được sinh ra bởi niềm tin trong tâm hồn tôi?”[15] Thánh Ambrose đặt vấn đề, “Nhưng Đức Kitô sinh ra ở đâu, theo nghĩa sâu sắc nhất, nếu không phải trong tâm hồn bạn và linh hồn bạn?”[16]

Thánh Tôma Aquinas lóm lại toàn bộ truyền thống của Giáo Hội khi Ngài giải thích ba Thánh Lễ được cử hành trong Mùa Giáng Sinh khi nói đến sự hạ sinh chấp ba của Ngôi Lời: sự sinh ra trong vĩnh cửu của Ngài bởi Chúa Cha, sự hạ sinh trong lịch sử bởi Mẹ Đồng Trinh, và sự hạ sinh về thiêng liêng bởi người tin.[17] Lặp lại truyền thống rất quan trọng này, Thành Gioan XXIII, trong thông điệp Giáng Sinh năm 1962 của Ngài, đã đưa ra lời cầu nguyện đầy tâm tình này: “Ôi lạy Ngôi Lời hằng hữu của Chúa Cha, Con Thiên Chúa và Con của Mẹ Maria, xin canh tân một lần nữa ngày nay trong những tầng sâu của tâm hồn của chúng con kỳ quan tuyệt vời của sự hạ sinh của Ngài”.

Vậy thì tư tưởng mạnh mẽ là Chúa Giêsu không chỉ sinh ra “cho” chúng ta mà còn “ở nơi” chúng ta xuất phát từ đâu? Thánh Phaolô nói về Đức Kitô là Đấng phải “được tạo thành” ở nơi chúng ta (Gl 4:19). Ngài cũng nói rằng trong phép rửa người Kitô Hữu “mặc lấy Đức Giêsu Kitô” (Rm 13:14) và rằng Đức Kitô phải ngự “vào trong tâm hồn chúng ta qua đức tin” (x. Ep 3:17). Khái niệm về sự hạ sinh của Đức Kitô trong một linh hồn chủ yếu được đặt trên nền tảng của giáo lý về thân thể mầu nhiệm. Theo giáo lý ấy, Đức Kitô lặp lại một cách nhiệm mầu “ở nơi chúng ta” điều mà Ngài đã thực thi “cho chúng ta” trong lịch sử. Điều này áp dụng cho Mầu Nhiệm Vượt Qua nhưng cũng còn áp dụng cho mầu nhiệm Nhập Thể nữa. Thánh Maximus Đệ Confessor viết rằng Lời của Thiên Chúa mong muốn lặp lại trong tất cả mọi người mầu nhiệm Nhập Thể.[18]

Do đó, Chúa Thánh Thần mời gọi chúng ta, “trở lại với tâm hồn mình”[19] để vui mừng trong đó một Lễ Giáng Sinh thân mật và thực hơn, một Lễ Giáng Sinh làm cho “thật” Lễ Giáng Sinh mà chúng ta cử hành bên ngoài theo nghi thức và truyền thống. Chúa Cha muốn sinh ra Ngôi Lời của Ngài ở nơi chúng ta để Ngài có thể luôn loan báo một cách mới mẻ lời ngọt ngào này nói với cả Chúa Giêsu và với chúng ta: “Con là Con Ta, ngày hôm nay Ta đã sinh ra con” (Dt 1:5). Chính Chúa Giêsu mong muốn được sinh ra ở trong tâm hồn chúng ta. Và đây là cách mà chúng ta cần phải nghĩ về Giáng Sinh trong niềm tin? Như thể là, trong những ngày cuối của Mùa Vọng này, Ngài đang bước đi cùng chúng ta và đang đi gõ từng cánh cửa một, giống như đêm hôm ấy tại Bêlem, tìm kiếm một tâm hồn mà Ngài có thể được sinh ra về mặt thiêng liêng.

Thánh Bonaventure viết một cuốn sách nhỏ có tựa là “The Five Feast of The Child Jesus”. Trong đó Ngài giải thích một cách cụ thể việc có Chúa Giêsu sinh ra trong tâm hồn chúng ta có nghĩa là gì. Ngài viết rằng một linh hồn nhiệt thành có thể cưu mang cách thiêng liêng Ngôi Lời của Thiên Chúa như Mẹ Maria đã thực hiện trong biến cố Truyền Tin, hạ sinh Ngài như Mẹ Maria đã thực hiện trong Lễ Giáng Sinh, đặt tên cho Ngài như đã được thực hiện tại lễ cắt bì, tìm kiếm Ngài và tôn thờ Ngài cùng với các Đạo Sĩ khi họ thực hiện tại Lễ Thần Hiện, và, sau cùng, dâng Ngài lên cho Chúa Cha như đã thực hiện trong lễ dâng mình trong Đền Thờ.[20]

Linh hồn có thể cưu mang Chúa Giêsu, Ngài giải thích, khi – không thoả mãn với đời sống mà linh hồn đang sống và chỉ chịu khuấy động bởi những sự khích lệ thánh, đốt lên một ngọn lửa với lòng nhiệt thành thánh, và sau cùng là quyết tâm đặt sang một bên những thói quen và những sai lỗi cũ – thì linh hồn sẽ trở nên có khả năng sinh sản bởi ân sủng của Chúa Thánh Thần và cưu mang ý muốn sống theo đường lối mới. Việc cưu mang Đức Kitô đã diễn ra!

Tuy nhiên, kế hoạch có một đời sống mới này, cần phải được biến đổi một cách không trì hoãn thành một điều gì đó cụ thể, một sự biến đổi, có khả năng ngay cả với bên ngoài và hữu hình, về đời sống và những thói quen của chúng ta. Nếu kế hoạch không được đưa vào hành động, thì Chúa Giêsu được cưu mang, nhưng Ngài không “được hạ sinh”. “Lễ thứ hai” của Hài Nhi Chúa Giêsu, Lễ Giáng Sinh, không được cử hành! Đó là một sự phá thai tinh thần, một trong những vô số những trì hoãn mà qua đó cuộc sống này kết thúc, và một trong những lý do chính mà quá ít người nên thánh.

Nếu bạn quyết định thay đổi lối sống của mình, Thánh Bonaventure nói, bạn sẽ đối diện với hai kiểu cám dỗ. Thứ nhất, những người thuộc về xác thịt trong nhóm sẽ đến và nói với bạn, “Điều mà bạn đang thực hiện thì quá khó; bạn sẽ không bao giờ có thể làm được, bạn sẽ không có sức mạnh, và bạn sẽ làm hại đến sức khoẻ của bạn. Những điều này không thêm vào tình trạng sống của bạn và sẽ lấn loát danh thơm của bạn và phẩm giá của địa vị của bạn”.

Một khi trở ngại đó đã được vượt thắng, thì những người khác sẽ đến là những người nóng lòng hơn nữa, và có lẽ thực sự thế, những người đạo đức, nhưng họ không thực sự tin vào sức mạnh của Thiên Chúa và của Thần Khí của Ngài. Họ sẽ nói cho bạn biết rằng nếu bạn bắt đầu sống theo cách này – dành quá nhiều giờ cầu nguyện, tránh những tán gẫu vô ích, làm việc bác ái – thì bạn sẽ sớm bị coi là thánh, một người tinh thần, nhưng bởi vì bạn biết rất rõ bạn chưa là một vị thánh, nên bạn sẽ mang lấy kết cục là sẽ cám dỗ người khác và là một kẻ giả hình, kéo về phía bạn một cơn giận của Thiên Chúa là Đấng dò thấu lòng người. Hãy quên đi; chỉ giống như bao nhiêu người khác mà thôi.

Đối với tất cả mọi kiểu cám dỗ thế này thì thật cần thiết để đáp trả lại bằng niềm tin: “Này, không phải Ðức Chúa ngắn tay không thể cứu, cũng chẳng phải Người nặng tai không nghe được” (Is 59:1). Và hầu như nếu chúng ta nổi giận với chính mình, thì chúng ta cần kêu lên, như Thánh Augustine đã thực hiện trước cuộc hoán cải của Ngài: “Chả lẽ ngươi lại không thể làm được điều mà những người nam nữ này đã thực hiện sao?”[21]

Chúng ta hãy kết thúc bằng việc cùng nhau đọc một lời cầu nguyện trong bản cuộn Hy Lạp mà theo một số người thì thuộc về thế kỷ thứ 3, mà trong đó Đức Trinh Nữ được khẩn xin bằng tước hiệu “Theotokos”, Dei genetrix, Mẹ Thiên Chúa:

Sub tuum praesidium confugimus,

Sancta Dei Genetrix.

Nostras deprecationes ne despicias in

necessitatibus,

sed a periculis cunctis libera nos semper,

Virgo gloriosa et benedicta.

 

Chúng con chạy đến nơi sự chở che của Mẹ,

Lạy Mẹ Thánh của Thiên Chúa;

Xin đừng bỏ qua những lời chúng con khẩn nguyện,

trong những điều chúng con cần,

nhưng xin ban cho chúng con luôn

thoát khỏi mọi hiểm nguy

Lạy Đức Nữ Đồng Trinh Vinh Hiển và Diễm Phúc.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Vatican Radio)

[1]  St. Augustine, “Letter 55,” 1, 2, in Letters 1-99, trans. Roland Teske, Part II, vol. 1, The Works of Saint Augustine, ed. John E Rotelle (Hyde Park, NY: New City, 2001), p. 216; see also CSEL 34, 1, p. 170.

[2] Leo the Great, “On the Feast of the Incarnation,” 6, 2, in Leo the Great: Sermons, trans. Jane P. Freeland and Agnes J. Conway (Washington, DC: Catholic University of America Press, 1996), p. 105; see also  PL 54, p. 213.

[3]  Blessed Isaac of Stella, “Sermon 51,” in the Roman Catholic Office of Readings for the Saturday of the Second Week of Advent;  italics added. See also PL 194, pp. 1862-1863, 1865.

[4]  St. Ambrose, “On the Holy Spirit,” [De Spiritu Sancto], II, 38, 41, 43, in Saint Ambrose: Theological and Dogmatic Works, trans. Roy J. Deferrari (Washington,  DC: Catholic University of America Press, 1963), pp. 110-111.

[5]  Verses from the hymn “Veni, Creator Spiritus” (“Come, Holy Spirit, Creator  blest”) in the Roman Breviary.

[6]  St. Augustine, “Sermon 25,” 7 (Denis), in The Office of Readings for November 21 (Boston, MA: Daughters of St. Paul, 1983), p. 1640; see alsoPL 46, p. 938.

[7]  St. Augustine, “Sermon 215,” 4, in The Works of Saint Augustine, Part 3, vol. 6, trans. Edmund Hill, ed. John Rotelle (New Rochelle, NY: New City Press, 1993), p. 160. See also PL 38, p. 1074.

[8]  St. Bonaventure, Lignum vitae [The Tree of Life], 1, 3, inBonaventure, trans. and intro. Ewert Cousins (New York: Paulist Press, 1978), pp. 127-128; italics original.

[9]  Dante, Paradiso 33:1, in The Divine Comedy: “Vergine madre, figlia del tuo figlio, / umile e alta più che creatura.”

[10]  St. Ignatius, “Epistle to the Ephesians,” 7, 2, in Saint Ignatius of Antioch: The Epistles, ed. Paul A. Boer Sr. (N.p.: Veritatis Splendor, 2012), p. 59.

[11]  St. Cyril of Alexandria, “Anathemas against Nestorius,” in Denzinger #252, English version, p. 97.

[12]  St. Cyril of Alexander, Commentary on Joh , XII, 19: 25-27, trans. David R. Maxell, ed. Joel C. Elowsky, vol. 1, Ancient Christian Texts (Downers Grove, IL: InterVarsity Press Academic, 2015), pp. 347-349; see also PG 74, pp. 661-665.

[13] Augustine, “Sermon 25” (Denis), in the Office of Readings for November 21 (Boston, MA: Daughters of St. Paul 1983), p. 1640; see also “Sermon 72A” in Miscellanea Agostiniana, I, p. 162.

[14]  St. Augustine, On Nature and Grace, 36, 42, in Saint Augustine: Four Anti-Pelagian Writings, trans. John A. Mourant and William J. Collinge (Washington, DC: Catholic University of America Press, 1992), pp. 53-54; see also CSEL 60, p. 263ff.

[15]  See, for example, Origen, “Sermon 22,” 3, in Origen: Homilies on Luke, trans. Joseph T. Lienhard, vol. 94, The Fathers of the Church (Washington, DC: Catholic University of America Press, 1996), p. 93: “What profit is it to you if Christ  once came in the flesh, unless he also comes into your soul?”; see also SCh 87, p. 302.

[16]  See Ambrose of Milan, Exposition of the Holy Gospel according to Luke, II, 38, trans. Theodosia Tomkinson (Etna, CA: Center for Traditionalist Orthodox Studies, 2003), p. 59.

[17]  St. Thomas Aquinas , Summa theologica, III, q. 83, 2.

[18]  See St. Maximus the Confessor, “Ambigua to John,” 7.22, in On Difficulties in the Church Fathers, vol. 1, ed. and trans. Nicholas Constans (Cambridge, MA: Harvard University Press, 2014), p. 107: “The Logos of God (who is God) wills always and in all things to accomplish the mystery of his embodiment.”  See also PG 91, p. 1084.

[19]  See this recommendation in St. Augustine, Confessions 4, 19.

[20]  St. Bonaventure, “Bring Forth Christ: The Five Feasts of the Child Jesus,” trans. Eric Doyle (Oxford, SLG Press, 1984), pp. 1-16.

[21]  St. Augustine, Confessions, 8, 11, 27, trans. Henry Chadwick (Oxford: Oxford University Press, 1991), p. 151 (“Si isti et istae, cur non ego?”).