Skip to main content
ĐGH Phanxicô phủ phục trước bàn thờ trong nghi thức tưởng niệm Cuộc Khổ Nạn Chúa Giêsu (AP)

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ Sáu Tuần Thánh 2016

“HÃY HOÀ GIẢI VỚI THIÊN CHÚA”

Thiên Chúa là Đng đã nhờ Đc Ki-tô mà cho chúng ta được hoà giải với Người, và trao cho chúng tôi chức vụ hoà giải. Vậy, nhân danh Đức Ki-tô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hoà với Thiên Chúa. Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, đ làm cho chúng ta nên công chính trong Người. Vì được cộng tác với Thiên Chúa, chúng tôi khuyên nhủ anh em: anh em đã lãnh nhận ân huệ của Thiên Chúa, thì đng để trở nên vô hiệu. Vì Ngài nói, “Vào thời Ta thi ân, phù trợ ngươi trong ngày Ta cu độ. Vậy, đây là thi Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cu độ” Hãy nhớ, đây là lúc thuận tiện, hãy nhớ, giờ là ngày cứu độ! (2 Cr 5:18 – 6:2).

Những lời này trích từ Thư Thứ Hai của Thánh Phaolô Tông Đồ gửi Tín Hữu Cô-rin-tô. Lời kêu gọi của của vị tông đồ để được hoà giải với Thiên Chúa không nói đến cuộc hoà giải mang tính lịch sử giữa Thiên Chúa và nhân loại (điều mà, chúng vừa nghe, đã diễn ra “qua Đức Kitô” trên thập giá); lời này cũng không có ý nói đến cuộc hoà giải mang tính bí tích diễn ra trong Phép Rửa và trong Bí Tích Hoà Giải. Nó nói đế một cuộc hoà giải có tính cách hiện sinh và cá nhân cần được thực hiện trong hiện tại. Lời mời gọi được nói cho các Kitô Hữu chịu phép rửa ở Cô-rin-tô là những người thuộc về Giáo Hội một thời gian, do đó điều đó cũng được nói với chúng ta ở đây và bây giờ. “Thời gian thuận tiện, ngày cứu độ” cho chúng ta, là Năm Thánh Thương Xót mà giờ đây chúng ta đang sống.

Nhưng sự hoà giải này với Thiên Chúa có nghĩa là gì trong chiều kích hiện sinh và tâm lý của nó? Một trong những căn nguyên, và có lẽ là căn nguyên chính, đối với sự xa lìa của con người khỏi tôn giáo và niềm tin ngày nay là hình ảnh méo mó mà họ có về Thiên Chúa. Đâu là ý niệm “xác định trước” về Thiên Chúa trong tiềm thức của số đông con người? Để tìm ra điều đó, chúng ta chỉ cần hỏi câu hỏi này: “Những ý tưởng nào, những lời nào, những cảm giác nào đồng thời xuất hiện ở trong bạn mà không nghĩ về nó khi bạn nói những lời trong Kinh Lạy Cha, ‘Ý Cha thể hiện’”?

Thường thì người ta đọc lời này với cái đầu cúi xuống trong sự rút lui vào bên trong, chuẩn bị bản thân họ cho điều tồi tệ nhất. Người ta một cách không ý thức gắn kết ý muốn của Thiên Chúa với mọi thứ vốn không thoải mái và đau đớn, với điều có thể được thấy như là một điều gì đó huỷ diệt sự tự do và phát triển cá nhân. Đó là một điều gì đó như thể Thiên Chúa là kẻ thù của mọi buổi tiệc, niềm vui, và thú vui – một Thiên Chúa tra vấn hà khắc.

Thiên Chúa được nhìn như một Hữu Thể Tuyệt Đối, Đấng Toàn Năng, Thiên Chúa của thời gian và lịch sử, đó là, một thực thể mà tự thêm chính mình vào qua một cá nhân từ bên ngoài; không một chi tiết nào của đời sống con người thoát khỏi thực thể ấy. Sự vi phạm lề luật của Ngài sẽ tạo ra một cách không lay chuyển một hỗn loạn đòi hỏi một sự chuẩn bị cân xứng mà con người nhân loại biết rằng họ không thể thực hiện. Đây là căn nguyên của sự sợ hãi và đôi khi ẩn giấu một sự thù hận lại với Thiên Chúa. Đó là một vết tích của ý tưởng dân ngoại về Thiên Chúa vốn chưa bao giờ được xoá bỏ hoàn toàn, và có lẽ không thể nào được xoá bỏ, khỏi tâm hồn con người. Bi kịch Hy Lạp dựa trên khái niệm này: Thiên Chúa là Đấng can thiệp bằng sự trừng phạt thánh để tái thiết lại trật từ đã bị phá vỡ bởi sự dữ.

Tất nhiên trong Kitô Giáo lòng thương xót của Thiên Chúa đã không bao giờ bị coi thường! Nhưng nhiệm vụ của lòng thương xót không chỉ là điều tiết những sự nghiêm khắc cần thiết của công lý. Đó là một ngoại lệ, chứ không phải là một lề luật. Năm Thánh Thương Xót là một cơ hội vàng để khôi phục lại hình ảnh của Thiên Chúa theo Kinh Thánh Đấng không chỉ có lòng thương xót mà còn là lòng thương xót.

Sự thêm vào mạnh mẽ này dựa trên sự thật là “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8, 16). Tuy nhiên, chỉ trong Ba Ngôi mà Thiên Chúa là tình yêu mà không là lòng thương xót. Chúa Cha yêu thương Chúa Con không phải là một ân sủng hay một sự sinh ra, đó là một sự cần thiết; Chúa Cha cần phải yêu để hiện hữu như là Cha.  Chúa Con yêu Chúa Cha thì không phải là một lòng thương xót hay một ân sủng; đó là một sự cần thiết ngay cả khi điều ấy xảy ra với sự tự do sâu thẳm nhất; Chúa Con cần phải được yêu thương và yêu thương để là Con. Điều tương tự có thể được nói về Chúa Thánh Thần Đấng là tình yêu và là một ngôi vị.

Chính khi Thiên Chúa tạo nên thế giới và con người tự do ở trong đó mà tình yêu dừng lại với Thiên Chúa để là bản chất và trở nên ân sủng. Tình yêu này là mọt sự sinh ra tự do; đó là hesed, ân sủng và thương xót. Tội lỗi của con người nhân loại không thay đổi bản chất của tình yêu này mà làm cho tình yêu này biến thành một bước vọt về mặt phẩm chất: lòng thương xót như là một ơn ban giờ đây trở thành lòng thương xót như là sự tha thứ. Tình yêu từ việc là một quà tặng đơn giản trở thành một tình yêu chịu đau khổ vì Thiên Chúa đau khổ khi tình yêu của Ngài bị khước từ. ĐỨC CHÚA đã phán: "Ta đã nuôi nấng đàn con, cho chúng nên khôn lớn, nhưng chúng đã phản nghịch cùng Ta (Is 1:2). Hãy cứ hỏi nhiều bậc cha mẹ là người kinh nghiệm sự khước từ của con cái họ liệu là  việc ấy có làm đau khổ hay không – và một trong những đau khổ khủng khiếp nhất trong cuộc đời.

* * *

Thế còn về công lý của Thiên Chúa? Liệu nó có bị lãng quên hay bị coi thường không? Thánh Phaolô trả lời câu hỏi này một lần và cho tất cả. Thánh Tông Đồ bắt đầu việc giải thích của Ngài trong Thư Gửi Tín Hữu Rôma với tin này: “Giờ đây sự công chính của Thiên Chúa đã được thể hiện” (Rm 3:21). Chúng ta có thể hỏi, kiểu công chính này là gì? Đó có phải là kiểu công chính mang lại “unicuique suum”, theo mỗi việc của mỗi người, và phân phát ân thưởng và hình phạt theo như việc họ làm không? Dĩ nhiên sẽ đến một lúc khi mà kiểu công chính thánh này trao cho con người điều mà họ xứng đáng cũng sẽ được thể hiện. Thực ra, vị tông đồ viết ngắn trong Thư Rôma là Thiên Chúa sẽ thưởng phạt mỗi người tuỳ theo việc họ làm; những ai bền chí làm việc thiện mà tìm vinh quang, danh dự và phúc trường sinh bất tử, thì Thiên Chúa sẽ cho họ được sống đời đời; còn những ai chống Thiên Chúa mà không vâng phục chân lý và chạy theo điều ác, thì Người sẽ nổi trận lôi đình, trút cơn thịnh nộ xuống đầu họ (2:6-8).

Nhưng Phaolô không nói về kiểu công lý này khi Ngài viết, “Giờ đây sự công chính của Thiên Chúa được thể hiện”. Kiểu đầu tiên của công lý mà Ngài nói về có liên hệ đến một biến cố tương lai, nhưng biết có khác này đang diễn ra “bây giờ”. Nếu điều đó không phải là trường hợp, thì lời tuyên bố của Phaolô sẽ là một sự thêm vào ngớ ngẩn vốn làm trái ngược các dữ kiện. Từ quan điểm về công lý phân phối, thì không có gì thay đổi trong thế giới với sự ngự đến của Đức Kitô cả. Chúng ta tiếp tục, Jacques-Bénigne Bossuet nói, thấy tội lỗi thường xuyên lên ngôi và người vô tội thì ở trên khán đài. Nhưng chúng ta đừng nghĩ rằng có một số kiểu công lý và một số trật tự trong thế giới, mặc dù nó lên xuống, đôi khi là điều ngược lại xảy ra và người vô tội lại lên ngôi còn người tội lỗi thì lại ở khán đài.[1] Đo đó, không phải là một ý nghĩa xã hội và lịch sử này mà việc sáng tạo được đức Kitô mang lại hàm chứa. Chúng ta hãy nghe điều mà vị tông đồ nói:

Thật vậy, mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Ki-tô Giê-su. Thiên Chúa đã đặt Người làm nơi xá tội nhờ máu của Người cho những ai có lòng tin. Như vậy, Thiên Chúa cho thấy Người là Đấng Công Chính. Trước kia, trong thời Thiên Chúa nhẫn nại, Người đã bỏ qua các tội lỗi người ta phạm. Nhưng bây giờ, Người muốn cho thấy rằng Người vừa là Đấng Công Chính, vừa làm cho kẻ tin vào Đức Giê-su được nên công chính.

Thiên Chúa bày tỏ sự công chính và công lý của Ngài bằng việc có lòng thương xót! Đây là sự mạc khải lớn. Vị tông đồ nói Thiên Chúa “là công chính và công chính”, đó là, chính Ngài là sự công chính khi Ngài công chính hoá con người nhân loại; thực ra Ngài yêu thương và xót thương, để vì lý do ấy mà Ngài là sự công chính đối với chính Ngài – Ngài thực sự cho thấy Ngài là ai – khi Ngài có lòng thương xót.

Nhưng chúng ta không thể hiểu bất cứ điều gì nếu chúng ta không biết chính xác sự diễn tả “sự công chính của Thiên Chúa” nghĩa là gì. Có một mối nguy mà người ta có thể nghe về sự công chính của Thiên Chúa mà không thể hiểu ý nghĩa của nó, vì thế thay vì được khích lệ thì họ lại sợ hãi. Thánh Augustine đã giải thích ý nghĩa của nó một cách rõ ràng nhiều thế kỷ trước: “’Sự công chính của Thiên Chúa’ là điều mà qua đó chúng ta được trở nên công chính, cũng như ‘ơn cứu độ của Thiên Chúa’ [x. Tv 3:8] có nghĩa là ơn cứu độ mà qua đó Ngài cứu chúng ta”.[2] Nói cách khác, sự công chính của Thiên Chúa là điều mà qua đó Thiên Chúa làm cho những người tin vào Con của Ngài là Chúa Giêsu là chấp nhận được đối với Ngài. Điều đó không có nghĩa là ban hành công lý mà là làm cho người ta nên công chính.

Luther xứng đáng sự tin cậy vì mang lại sự thật này khi ý nghĩa của nó đã bị mất qua nhiều thế kỷ, ít nhất là torng việc rao giảng Kitô Giáo, và đây là điều mà trên hết  vì đó mà Kitô Giáo mắc nợ Tin Lành Cải Cách, vốn sẽ kỷ niệm 500 năm vào năm tới. Người cải cách sau này viết rằng khi ông khám phá ra điều này, “Tôi cảm thấy tôi hoàn toàn được sinh ra lại một lần nữa và đã đi vào chính thiên đàng qua những cánh cửa mở”.[3] Nhưng lại không phải là Augustine hay Luther là những người đã giải thích khái niệm “sự công chính của Thiên Chúa” theo cách này; Kinh Thánh đã thực hiện điều đó trước khi họ thực hiện:

Nhưng Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, đã biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Người đối với nhân loại. Không phải vì tự sức mình chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Người thương xót, nên Người đã cứu chúng ta nhờ phép rửa ban ơn Thánh Thần, để chúng ta được tái sinh và đổi mới (Titô 3:4-5).

Nhưng Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta,5 nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Ki-tô. Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ! (x. Ep 2:4-5).

Do đó, để nói “sự công chính của Thiên Chúa đã được tỏ hiện” thì giống như việc nói rằng sự tốt lành của Thiên Chúa, tình yêu của Ngài, lòng thương xót của Ngài, đã được tỏ lộ. Công lý của Thiên Chúa không chỉ không trái ngược với lòng thương xót của Ngài mà còn hệ tại cách cụ thể ở nơi lòng thương xót!

* * *

Điều gì đã xảy ra trên thập giá mà lại quá quan trọng đến nỗi để giải thích sự thay đổi triệt để trong số phận của nhân loại? Trong tập sách của Ngài về Giêsu Na-da-rét, Đức Benedict XVI viết, “Điều vốn là sai, thực tại về sự dữ, không thể chỉ đơn giản là phớt lờ; người ta không thể để nó đứng yên được. Người ta cần phải giải quyết nó; người ta cần phải vượt thắng nó. Chỉ điều này mới có ý nghĩa là lòng thương xót đích thực. Và sự thật là Thiên Chúa giờ đây chính Ngài đang đối diện với sự dữ bởi vì con người không thể làm thế - hệ tại ở đó sự tốt lành ‘không điều kiện’ của Thiên Chúa”.[4]

Thiên Chúa không hài lòng với chỉ thuần tuý tha thứ cho tội lỗi của con người; Ngài đã thực hiện cách vô biên hơn cả điều ấy: Ngài đã mang lấy những tội lỗi này ở nơi chính bản thân Ngài, Ngài tự mình gánh lấy nó. Con Thiên Chúa, Thánh Phaolô nói, “đã trở nên tội lỗi vì chúng ta”. Thật là một tuyên bố gây sốc! Ở thời Trung Cổ, một số người thấy thật khó để tin rằng Thiên Chúa lại đòi hỏi cái chết của Con Ngài để hoà giải thế giới với chính Ngài. Thánh Bê-na-đô đã trả lời cho điều này bằng việc nói, “Điều làm hài lòng Thiên Chúa không phải là cái chết của Đức Kitô mà là ý của Ngài trong việc chết theo ý của Thiên Chúa”: “Non mors placuit sed voluntas sponte morientis.”[5]Do đó, không phải là sự chết, mà là tình yêu cứu chúng ta!

Tình yêu của Thiên Chúa chạm tới con người nhân loại ở điểm xa nhất là điểm mà họ đã bị cuốn xa trong cuộc chạy trốn của họ khỏi Ngài, chính sự chết. Cái chết của Đức Kitô cần thiết để thể hiện cho mọi người chứng cứ tối thượng về lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho các tội nhân. Đó là lý do vì sao mà cái chết của Ngài thậm chí không có phẩm giá của một sự riêng tư nhất định mà bị đóng khung giữa cái chết của hai tên trộm. Ngài muốn vẫn là một người bạn với các tội nhân cho đến tận cùng, vì thế mà Ngài chết giống như họ và cùng với họ.

* * *

Đã đến lúc đối với chúng ta để nhận biết rằng đối nghịch với lòng thương xót không phải là công lý mà là sự thù hằn. Chúa Giêsu không chống lại lòng thương xót đối với công lý mà đối với luật đền bù: “mắt đền mắt, răng đền răng” (Xh 21:24). Trong khi tha thứ cho các tội nhân, Thiên Chúa không chối bỏ công lý mà sự trả thù; Ngài không mong muốn cái chết của tội nhân mà muốn tội nhân hoán cải và sống (x. Ed 18:23). Trên thập giá, Chúa Giêsu không xin Cha của Ngài sự trả thù.

Sự thù hận và sự tàn bạo của các cuộc tấn công khủng bố trong tuần này ở Brussels giúp chúng ta hiểu được quyền năng thánh của những lời sau cùng của Đức Kitô: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:24). Bất luận là sự thù hận của con người đi xa đến đâu, thì tình yêu của Thiên Chúa vẫn luôn luôn, và sẽ lớn lao hơn. Trong những hoàn cảnh hiện tại này, giáo huấn của Phaolô được nói với chúng ta: “Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác” (Rm 12:21).

Chúng ta cần phải giải thần bí sự trả thù! Nó đã trở nên một chủ đề thần thoại thống trị vốn ánh hưởng trên mọi sự và mọi người, khởi đi từ trẻ em. Đa phần các câu chuyện mà chúng ta thấy trên màn ảnh và trong các trò chơi điện tử là những câu chuyện về sự trả thù, đôi khi diễn ra như là một sự chiến thắng của một người hùng tốt lành. Phân nửa, nếu không phải là nhiều hơn, về sự đau khổ trong thế giới (trừ những thiên tai và bệnh tật) xuất phát từ lòng khao khát trả thù, bất luận là trong các mối quan hệ cá nhân hay giữa các nhà nước và các quốc gia.

Người ta nói rằng “Vẻ đẹp sẽ cứu thế giới”.[6] Nhưng vẻ đẹp, nhưng chúng ta biết rất rõ, cũng có thể dẫn đến tàn phá. Chỉ có một điều có thể thực sự cứu thế giới, lòng thương xót! Lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho con người và lòng thương xót của con người dành cho nhau. Đặc biệt, nó có thể cứu lấy điều quý giá và mỏng manh nhất trong thế giới vào thời điểm này, hôn nhân và gia đình.

Một điều gì đó tương tự xảy ra trong hôn nhân với điều đã xảy ra trong mối quan hệ của Thiên Chúa với nhân loại mà thực ra Kinh Thánh mô tả bằng hình ảnh tiệc cưới. Ngay từ khởi đầu, như tôi đã nói, có tình yêu, không có lòng thương xót. Lòng thương xót xuất hiện chỉ sau khi con người phạm tội. Vì vậy trong hôn nhân cũng thế, ban đầu không có lòng thương xót mà chỉ có tình yêu. Người ta không cưới nhau vì lòng thương xót mà vì tình yêu. Nhưng rồi sau nhiều năm hay nhiều tháng sống chung với nhau, các giới hạn của từng người bạn đời xuất hiện, và các vấn đề về sức khoẻ, tài chính, và con cái xuất hiện. Một lộ trình đặt ra mà trong đó cuốn sạch hết mọi niềm vui.

Điều có thể cứu một cuộc hôn nhân khỏi việc tuột dốc mà không có bất kì một niềm hy vọng nào về trở lại là lòng thương xót, được hiểu theo nghĩa kinh thánh, đó là, không chỉ là sự tha thứ cho nhau mà đôi bạn hành động bằng “lòng thương cảm, sự tử tế, sự khiêm hạ, sự hiền lành và nhẫn nại” (Cl 3:12). Lòng thương xót thêm bác ái vào tình ái, nó thêm tình yêu biết trao ban chính bản thân và có lòng thương cảm đối với tình yêu của sự cần và lòng khao khát. Thiên Chúa “thương” con người (x. Tv 102:13). Do đó, lẽ nào một người chồng và một người vợ lại không tội nghiệp nhau? Và những người như chúng ta đang sống trong một cộng đồng, lẽ nào chúng ta lại không thương nhau thay vì kết án lẫn nhau?

Chúng ta hãy cầu nguyện. Lạy Cha Trên Trời, ngang qua công đức của Con Cha trên thập giá Đấng “đã trở nên tội lỗi vì chúng con” (x. 2 Cr 5:21), gỡ bỏ bất kì lòng muốn trả thù nào khỏi tâm hồn của các cá nhân, gia đình, quốc gia, và làm cho chúng con yêu bằng lòng thương xót. Xin để cho ý định của Đức Thánh Cha trong việc loan báo Năm Thương Xót này được đáp trả bằng một sự đáp trả cụ thể trong đời sống của chúng ta, và xin cho mọi người kinh nghiệm được niềm vui của việc được hoà giải với Cha trong thẳm sâu tâm hồn. Amen!

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ ZENIT)

[1] See Jacques-Bénigne Bossuet, “Sermon sur la Providence” (1662), in Oeuvres de Bossuet, eds. B. Velat and Y. Champailler (Paris: Pléiade, 1961), p. 1062.

[2] See St. Augustine, The Spirit and the Letter, 32, 56, in Augustine: Later Works, trans. and intro. John Burnaby (Philadelphia: Westminster Press, 1955), p. 241; see also PL 44, p. 237.

[3] Martin Luther, Preface to Latin Writings, in Luther’s Works, vol. 34 (Philadelphia: Fortress Press, 1960), p. 337.

[4] Joseph Ratzinger [Benedict XVI], Jesus of Nazareth, Part II (San Francisco: Ignatius Press, 2011), p. 133.

[5] St. Bernard of Clairvaux, Letter 190, “Against the Errors of Abelard,” in Anthony N. S. Lane, Theologian of the Cross (Collegeville, MN: Liturgical Press, 2013), pp. 201-202. See also PL 182, p. 1070.

[6] Fyodor Dostoevsky, The Idiot, III, 5, trans. Henry and Olga Carlisle (New York: New American Library, 1969), p. 402.