Skip to main content
Cha Raniero Cantalamessa (ANSA)

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ Sáu Tuần Thánh 2019

NGƯỜI BỊ NGƯỜI ĐỜI KHINH KHI RUỒNG RẪY

Người bị đời khinh khi ruồng rẫy,

phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật.

Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn,

bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới.

Đây là những lời tiên tri của Isaia mà qua đó chúng ta bắt đầu Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay. Trình thuật cuộc khổ nạn sau đó đã được dành cho một danh xưng và một diện mạo cho con người sầu khổ mầu nhiệm này là người đã bị hết mọi người ruồng rẫy và bị khinh khi: danh xưng và diện mạo của Chúa Giêsu Nazareth. Ngày hôm nay chúng ta muốn chiêm ngắm Đấng Chịu Nạn cách cụ thể trong khả năng của Ngài như là một khuôn mẫu và đại diện cho hết mọi người bị chối bỏ, người không có quyền thừa hưởng, và “người bị loại bỏ” trên trái đất này, những người mà chúng ta sẽ ngoảnh mặt mình khỏi họ để khỏi phải thấy họ.

Chúa Giêsu đã không bắt đầu là người ấy chỉ vào cuộc khổ nạn của Người. Trong suốt đời Ngài, Ngài là một thành phần của nhóm người này. Ngài được sinh ra ở một máng cỏ “vì không có chỗ trong nhà trọ cho các Ngài” (Lc 2:7). Trong khi dâng Ngài trên đền thờ, cha mẹ Ngài đã dâng “hai con cu gấy hay hai con bồ câu non”, việc dâng của lễ được qui định trong luật dành cho người nghèo là những người không thể mua một con chiên (x. Lv 12:8). Đó là bằng chứng thực sự của sự nghèo tại Israel vào thời đó. Trong cuộc sống công khai của Ngài, Ngài còn không có chỗ tựa đầu (x. Mt 8:20): Ngài vô gia cư.

Giờ chúng ta đi vào cuộc khổ nạn của Ngài. Trong trình thuật có một thời điểm mà chúng ta thường không chú ý đến nhưng lại là thời điểm hết sức quan trọng: Chúa Giêsu trong toà xử của Phi-la-tô (x. Mc 15:16-20). Những người lính đã chú ý thấy một bụi gai ở một khu đất hoang; họ đã gom một vài nhành có gai nhọn từ đó và ấn chúng vào đầu Ngài; để chế giễu Ngài họ đã đặt một chiếc áo choàng lên vai Ngài vốn đang tuôn máu từ sự hành hình của Ngài; tay Ngài đã bị trói bởi một sợi dây thừng thô ráp; họ đặt một cây sậy vào tay Ngài, một biểu tượng mang tính mỉa mai về vương quyền của Ngài. Ngài là một hình mẫu của những người bị còng tay, chỉ thế, trước quyền hành của những tay lính và những tay du côn là những người thể hiện sự dã man và tàn bạo mà họ chất chứa trong đời họ trên người nghèo bất hạnh này. Ngài bị tra tấn!

Ecce homo!” “Này là người!” Phi-la-tô thốt lên khi giới thiệu Ngài chỉ ngay sau đó cho người dân (Ga 19:5). Có những lời mà, sau Đức Kitô, có thể được nói về vô số người nam nữ là những người bị phỉ báng, bị giảm xuống thành những đồ vật, bị tước hết mọi phẩm giá con người. Tác giả Primo Levi đã viết tựa cho đoạn kể về đời ông trong trại tập trung ở Auschwitz Nếu Đây là Người. Trên thập giá Chúa Giêsu Nazareth trở thành biểu tượng của phần nhân loại này vốn “bị hạ nhục và lăng mạ”. Người ta muốn kêu lên, “Các bạn là những người đã bị khước từ, bị cự tuyệt, những người hạ đẳng nhất của toàn cõi đất: người cao trọng nhất trong lịch sử là một trong số các bạn! Bất luận là bạn thuộc về quốc gia nào, sắc tộc nào hay tôn giáo nào, thì bạn có quyền tuyên bố Ngài là người của các bạn”

* * *

Tác giả  và là thần học gia người Mỹ gốc Châu Phi Howard Thurman – người mà Martin Luther King đã coi là thầy ông và là động lực cho ông trong cuộc chiến bất bạo động vì nhân quyền – đã viết một cuốn sách có tựa “Chúa Giêsu và Người Vô Thừa Hưởng”. Trong đó ông cho thấy hình tượng Chúa Giêsu đã đại diện cho điều gì đối với những người nô lệ ở miền nam, những người mà chính bản thân ông là một hậu duệ trực tiếp. Khi những người nô lệ bị tước hết mọi quyền và hoàn toàn tay trắng, thì những lời của Tin Mừng mà vị thừa tác lặp lại trong việc thờ tự tách biệt – cuộc gặp gỡ duy nhất mà họ được phép có – có thể đưa những người nô lệ trở về với cảm thức về phẩm giá của họ trong tư cách là con cái Thiên Chúa.

Đa số những Nền Linh Đạo Negro vốn đang làm chuyển động thế giới đều xuất phất trong bối cảnh này. Vào thời kỳ đấu giá công khai, những người nô lệ kinh nghiệm nỗi thống khổ khi chứng kiến các bà vợ bị tách ra khỏi chồng mình và con cái khỏi cha mẹ chúng, bị bát đôi khi cho các vị chủ khác nhau. Thật dễ để hình dung tinh thần mà họ đã hát lên dưới mặt trời hay trong những chiếc chòi của họ, “Không ai biết nỗi khổ mà tôi đã chứng kiến. Không ai biết, trừ Chúa Giêsu”.

* * *

Đây không phải là ý nghĩa duy nhất của cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Kitô, và thậm chí đó không phải là ý nghĩa quan trọng nhất. Ý nghĩa sâu sắc nhất không phải mang tính xã hội mà là mang tính thiêng liêng và mầu nhiệm. Cái chết cứu chuộc thế giới khỏi tội lỗi; cái chết này mang lại tình yêu của Thiên Chúa đến những nơi xa xôi và tăm tối nhất mà trong đó con người bị mắc kẹt trong chính sự thoát ly khỏi Ngài, đó là, sự chết. Đây không phải là, như tôi đã nói, ý nghĩa quan trọng nhất của thập giá, mà đó là một ý nghĩa mà tất cả mọi người, người tin cũng như không tin, có thể nhận biết và đón nhận.

Tôi nhắc lại, mọi người, chứ không phải chỉ riêng người có niềm tin. Qua biến cố Nhập Thể của Con Thiên Chúa Ngài đã tự biến Ngài thành người và hiệp nhất bản thân Ngài với toàn thể nhân loại, nhưng qua tính cách của Sự Nhập Thể Ngài mà Ngài đã tự biến chính Ngài thành một trong những người nghèo và bị loại bỏ và đón nhận lấy hoàn cảnh của họ. Ngài đã mặc lấy hoàn cảnh ấy trên chính Ngài để đảm bảo rằng khi Ngài long trọng khẳng định rằng bất cứ điều gì mà chúng ta làm cho người đói, người mình trần, người bị giam cầm, người bị ruồng bỏ, là chúng ta làm cho Ngài, và bất cứ điều gì chúng ta không làm cho họ, là chúng ta không làm cho chính Ngài (x. Mt 25:31-46).

Nhưng chúng ta không thể dừng lại ở đây. Nếu Chúa Giêsu chỉ có điều này để nói với những người vô thừa hưởng của thế giới này, thì Ngài cũng chỉ là một người trong số họ, một trường hợp về phẩm gía khi đối diện với sự bất hạnh và chẳng có gì hơn nữa. Do đó sẽ là một chứng cứ xa hơn nữa chống lại Thiên Chúa là Đấng đã cho phép hết điều này xảy ra. Chúng ta biết phản ứng tức giận của Ivan, một người anh nổi loạn trong tác phẩm Anh Em Nhà Karamazov của Dostoevsky, khi Aloysha, người em, đề cập Chúa Giêsu với anh ta: “À, đúng, ‘Đấng duy nhất vô tội’ và máu của Ngài! Không, em đã không quên về Ngài; trái lại, em đã tự hỏi tất cả là tại sao anh phớt lờ Ngài quá lâu như thế, vì trong những thảo luận người của anh đã thường loại bỏ Ngài ra như là điều đầu tiên”.

Tin Mừng thực ra không dừng lại ở đây. Tin Mừng nói về một điều gì khác: Tin Mừng nói rằng Đấng Chịu Nạn sẽ sống lại! ở nơi Ngài một sự đảo ngược hoàn toàn về các vai trò đã diễn ra: người đã bị biến mất trở thành người chiến thắng; người đã bị kết án đã trở thành thẩm phán, “viên đá người thợ xây loại bỏ đã trở nên viên đá góc tường” (x. Cv 4:11). Tiếng nói sau cùng thì không và sẽ không bao giờ là sự bất công và áp bức. Chúa Giêsu không chỉ khôi phục phẩm giá cho người vô thừa hưởng của thế giới này, mà Ngài còn mang lại cho họ niềm hy vọng!

Trong ba thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội thì việc cử hành Lễ Phục Sinh đã khong diễn ra trong vài ngày như cách thức bây giờ: Thứ Sáu Tuần Thánh, Thứ Bảy Tuần Thánh và Chúa Nhật Phục Sinh. Mọi thứ được tập trung vào trong một ngày. Cả sự chết và sự sống lại được tưởng niệm trong đêm vọng Phục Sinh. Cụ thể hơn, cả sự chết và sự phục sinh đều không được tưởng niệm như là những biến cố cách biệt và tách biệt; thay vào đó điều đã được tưởng niệm là con đường của Đức Kitô từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, từ sự chết đến sự sống. Từ “pascha” (pesach) nghĩa là “con đường”: con đường của người dân Do Thái từ nô lệ đến tự do, con đường của Đức Kitô từ thế gian này đến Chúa Cha (x. Ga 13:1), và con đường từ tội lỗi đến ân sủng của những người tin vào Ngài.

Đó là đại lễ của sự đảo ngược mà Thiên Chúa đã đạo diễn và đạt được nơi Đức Kitô; đó là khởi đầu và là lời hứa của một sự đảo ngược độc nhất vốn hoàn toàn công bằng và bất khả vãn hồi có liên quan đến số phận nhân loại. Chúng ta có thể nói với người nghèo, người bị loại bỏ, những người bị mắc kẹt trong nhiều hình thức nô lệ khác nhau vốn đang xảy ra trong xã hội chúng ta: Lễ Phục Sinh là Lễ của các bạn!

* * *

Thập giá cũng chứa đựng một thông điệp cho những người ở phía đối diện của đẳng thức này: những người quyền thế, người mạnh, những người an nhàn trong vai trò của họ là “những người chiến thắng”. Và đó là thông điệp, như vẫn luôn thế, của tình yêu và ơn cứu độ, chứ không phải là hận thù hay sự báo thù. Thông điệp này nhắc nhớ cho họ rằng cuối cùng họ cũng phải chịu cùng một số phận như bao nhiêu người khác: bất luận là yếu hay mạnh, thấp cổ bé họng hay quyền thế, tất cả đều phải chịu sự chi phối của cùng những qui luật và cùng những giới hạn con người. Sự chết, giống như lưỡi gươm của Damocles, sẽ treo trên đầu mọi người bởi một sợi chỉ. Thập giá cảnh báo trước sự dữ tồi tệ nhất đối với con người, sự ảo tưởng về sự toàn năng. Chúng ta không cần phải đi ngược quá xa về thời gian; thật đủ để nhớ lịch sử mới đây để ý thức về mối nguy này thường trực thế nào và mối nguy này dẫn các cá nhân và quốc gia đến chỗ tàn phá thế nào.

Kinh Thánh có những lời về sự khôn ngoan vĩnh cửu cho những người đang giữ vai trò thống trị thế giới này:

Hãy học cho biết, hỡi những vị đang nắm quyền trên khắp cõi trần gian./… kẻ quyền thế lại bị xét xử thẳng tay (Kn 6:1,6)

Dù sống trong danh vọng, con người cũng không hiểu biết gì; thật nó chẳng khác chi con vật một ngày kia phải chết (Tv 49:21).

Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì? (Lc 9:25)

Giáo Hội đã nhận lệnh truyền từ Đấng Sáng Lập để đứng về phía người nghèo và người yếu thế, là tiếng nói cho người không có tiếng nói, tạ ơn Thiên Chúa, đó là điều mà Giáo Hội thực hiện, đặc biệt nơi Vị Chủ Chăn Chính của mình.

Nhiệm vụ lịch sử thứ hai mà các tôn giáo cần phải cùng nhau thực hiện, ngoài việc cổ võ hoà bình, thì không được thinh lặng khi đối diện với hoàn cảnh mà mọi người đều thấy. Một số người đặc quyền sở hữu nhiều tài sản hơn là họ có thể tiêu thụ, trong khi trong toàn bộ lịch sử vô số người nghèo đã sống không có một mẩu bánh hay một ngụm nước để cho con cái họ. Không một tôn giáo nào được phép thờ ơ trước điều này vì Thiên Chúa của mọi tôn giáo không thờ ơ trước điều này.

* * *

Chúng ta hãy trở lại với lời tiên tri của Isaiah mà chúng ta đã bắt đầu. Lời tiên báo này bắt đầu bằng một sự mô tả về sự hạ nhục của Người Tôi Trung của Thiên Chúa, nhưng nó lại kết thúc bằng một sự mô tả về sự vinh thắng sau cùng của Ngài. Thiên Chúa là Đấng nói:

Nhờ nỗi thống khổ của mình,

người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện.

Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta,

sẽ làm cho muôn người nên công chính

và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ.

Vì thế, Ta sẽ ban cho nó muôn người làm gia sản,

và cùng với những bậc anh hùng hào kiệt,

nó sẽ được chia chiến lợi phẩm,

bởi vì nó đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân;

nhưng thực ra, nó đã mang lấy tội muôn người

và can thiệp cho những kẻ tội lỗi (Is 53:11-12).

Trong hai ngày nữa, với sự loan báo về sự phục sinh của Chúa Giêsu, phụng vụ mang lại một cái tên và diện mạo cho người chiến thắng này. Chúng ta hãy theo dõi và suy tư trong sự mong đợi.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Vatican News)