Skip to main content
Cha Cantalamessa, vị giảng thuyết phủ giáo hoàng đang giảng tĩnh tâm mùa vọng 2017 cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô và Giáo Triều

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Tĩnh Tâm Giáo Triều Mùa Vọng 2017 Tuần I

“Tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người”

Đức Kitô và Công Trình Tạo Dựng

Những bài suy niệm cho Mùa Vọng năm nay (Sẽ chỉ có hai bài vì chương trình) đưa ra để đặt con người nhân tính-thiên tính của Đức Kitô trở về với trọng tâm của hai thành tố lớn vốn cùng tạo nên “thực tại”, vốn là, vũ trụ và lịch sử, không gian và thời gian, công trình tạo dựng và con người. Chúng ta cần phải nhìn nhận rằng ngoài việc nói nhiều về Ngài, thì Đức Kitô đã bị đặt sang bên lề trong nền văn hóa của chúng ta. Ngài hoàn toàn bị vắng bóng – và vì hơn cả những lý do có thể hiểu được – khỏi ba cuộc đối thoại chính mà trong đó đức tin được dự phần vào trong thế giới đương thời của chúng ta: các cuộc đối thoại giữa đức tin và khoa học, đức tin và triết học, và công cuộc đối thoại liên tôn.

Tuy nhiên, mục đích sau cùng của tôi, không phải là mang tính lý thuyết mà mang tính thực hành. Vấn đề trước hết là đưa Đức Kitô trở về với trọng tâm của đời sống cá nhân của chúng ta và tầm nhìn của chúng ta về thế giới và trọng tâm của ba nhân đức đối thần là tin, cậy, và mến. Giáng Sinh là một mùa thích hợp nhất cho sự suy tư như thế này, vì đây là thời gian khi chúng ta gợi nhắc lại thời điểm mà Ngôi Lời thành xác phàm, một cách thể lý đi vào trong công trình tạo dựng và lịch sử, đi vào trong không gian và thời gian.

1. Đất Còn Trống Rỗng

Trong bài suy niệm thứ nhất này, chúng ta hãy suy tư về phần đầu của các chủ đề đã được công bố, mối quan hệ giữa Đức Kitô và vũ trụ. “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Ðất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước” (St 1:1-2). Một tác giả trung cổ, vị ẩn sĩ người Anh Alexander Neckam (1157-1217), đã giải thích những câu đầu tiên này của Kinh Thánh thế này:

Trái đất trống rỗng vì Ngôi Lời vẫn chưa thành xác phàm.

Trái đất của chúng ta vẫn còn trống rỗng vì sự tròn đầy của ân sủng và chân lý chưa ngự trị ở đó.

Trái đất trống rỗng vì nó chưa được làm cho vững vàng và ổn định qua một sự hiệp thông với Đấng Thánh.

Sự sống trên trái đất vẫn trống rỗng vì sự thành toàn của thời gian vẫn chưa xuất hiện.

“Và sự tối tăm bao phủ trên bề mặt của sự sâu thẳm”. “Ánh sáng thật soi sáng mọi con người” đi vào trong thế giới thật ra chưa xuất hiện.

Tôi tin mối quan hệ giữa việc tạo dựng và Sự Nhập Thể không thể được diễn tả một cách hợp với kinh thánh và đầy khích lệ hơn khi đọc mở đầu của Sách Sáng Thế và khởi đầu của Tin Mừng Thánh Gioan trong theo một cách hòa hợp như cách mà tác giả này đã thực hiện. Tông thư Laudato Si’ dành một đoạn để nói về chủ đề này là, trước sự xúc tích của đoạn này, chúng ta có thể đọc toàn bộ đoạn này:

Trong sự hiểu biết Kitô Giáo về thế giới, định mệnh của tất cả mọi thoại thọ tạo được gói gọn cùng với mầu nhiệm Đức Kitô, hiện diện ngay từ thuở ban đâu: “vì trong Người, muôn vật được tạo thành” (Cl 1:16).[80] Phần giới thiệu của Tin Mừng Gioan (1:1-18) mạc khải công việc sáng tạo của Đức Kitô như là Ngôi Lời (Logos). Nhưng sau đó, bất thình lình, phần giới thiệu ấy lại tiếp tục nói cùng Ngôi Lời này “đã trở thành xác phàm” (Ga 1:14). Một Ngôi trong Ba Ngôi đi vào trong vũ trụ được tạo dựng, nhưng đặc biệt là ngang qua việc nhập thể, mầu nhiệm Đức Kitô đang hoạt động theo một cách kín ẩn trong toàn thể thế giới tự nhiên, mà không qua đó tác động đến tính tự chủ của nó (số 99).

Vấn đề là vị thế nào mà Ngôi Vị Đức Kitô chiếm lấy trong mối quan hệ với toàn thể vũ trụ. Nhiệm vụ này ngày nay khẩn thiết hơn bao giờ hết. Triết gia người Pháp Maurice Blondel đã viết cho một người bạn,

Thế giới của chúng ta đã mở rộng ra qua các ngành khoa học về xã hội và tự nhiên. Thế giới của chúng ta không thể vẫn là thật đối với Đạo Công Giáo và bằng lòng với sự giải thích tầm thường, một cái nhìn thiển cận vốn trình bày Đức Kitô như là một biến cố của lịch sử, tách Ngài ra khỏi Vũ Trụ như thể là Ngài là một cảnh tượng không có thời gian và không gian thích hợp. Người ta không thể trình bày Ngài như là một người xâm nhập vào, một kẻ xa lạ trong một sự bao la nghiền nát và thù nghịch của vũ trụ.[2]

Các bản văn kinh thánh mà niềm tin của chúng ta dựa vào có liên quan đến vai trò vũ trụ của Đức Kitô là những bản văn của Thánh Phaolô và Gioan được trích trong tông thư. Thật xứng đáng để gợi nhắc lại những đoạn ấy ở đây cách đầy đủ. Theo trình tự thời gian, trước hết là Thư Gửi Tín Hữu Cô-lô-xê 1:15-17:

Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình và vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người. Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người.

Bản văn khác là Gioan 1:3 và 10:

Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành... Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người.

Ngoài sự cộng hưởng đầy mạnh mẽ của những bản văn này, thì vẫn có thể phân biệt được một sự khác biệt trong sự nhấn mạnh giữa chúng với nhau vốn có một tầm quan trọng lớn lao trong sự phát triển tương lai của thần học. Đối với Thánh Gioan thì tấm bản lề làm hiệp nhất công trình tạo dựng và công trình cứu chuộc là thời điểm mà trong đó “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14); đối với Thánh Phaolô thay vào đó là thời khắc trên thập giá. Đối với Gioan thì đó là Sự Nhập Thể còn đối với Phaolô thì đó là mầu nhiệm vượt qua. Bản văn trong Cô-lô-xê thật ra tiếp tục viết thế này,

Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình nhờ máu Người đổ ra trên thập giá (Cl 1:19-20).

Suy tư thời giáo phụ, dưới áp lực của những dị giáo, thì xác định giá trị cao nhất chỉ một trong hai sự xác quyết này: điều mà các vị ấy nói về Ngôi Vị Đức Kitô và ơn cứu độ mà Ngài có được cho con người. Các giáo phụ nói ít hoặc chả nói gì về điều mà Phaolô và Gioan khẳng định về tầm quan trọng mang tính vũ trụ của Ngôi Vị ấy, nghĩa là, về tầm quan trọng của Đức Kitô đối với toàn thể công trình tạo dựng.

Ngược lại với những người bè phái Arian, những bản văn này có thể đóng vai trò để khẳng định thần tính và sự hiện hữu trước của Đức Kitô. Con Thiên Chúa không thể là một thọ tạo, Athanasius khẳng định, bởi vì Ngài là Đấng Tạo Dựng của mọi sự. Tuy nhiên, tầm quan trọng của Logos (Ngôi Lời) trong công trình tạo dựng thì không được dành một sự tương xứng phù hợp so với tầm quan trọng của Ngài đối với công trình cứu chuộc. Bản văn duy nhất mang lại sự phát triển cho vấn đề này – Rôma 8:19-22, mà trong đó công trình tạo dựng rên siết và khổ đau như lúc sinh con – và chưa bao giờ, cho đến giờ theo tôi biết, là xuất phát điểm cho bất cứ một sự suy tư mở rộng mà các Giáo Phụ của Giáo Hội thực hiện.

Còn về “lý do vì sao” của Sự Nhập Thể, câu trả lời từ Thánh Athanasius (De incarnatione) đến Thánh Alselm Canterbury (Cur Deus homo) thì chủ yếu là điều đã được đề cập trong kinh tin kính: “Propter nos homines et propter nostram salutem descendit de caelis” (“Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta Người đã từ trời xuống thế”). Cách tiếp cận đối với mối quan hệ giữa Đức Kitô và nhân loại là mang tính nhân chủng học; nó không bao gồm mối quan hệ giữa Đức Kitô và vũ trụ, ngoại trừ cách ngẫu nhiên. Chủ đề sau xuất hiện chỉ trong cuộc bút chiến chống lại người theo hệ phái Tri Thức Luận và Manichean là những người đã làm tương phản công trình tạo dựng và công trình cứu chuộc là công việc của hai vị thần và cho rằng vấn đề và vũ trụ về mặt bản chất là xa lạ với Thiên Chúa và không thể được cứu chuộc.

Ở một điểm nhất định trong sự phát triển của đức tin, thì một câu trả lời khác đã được đưa ra vào Thời Trung Cổ cho vấn đề “vì sao Thiên Chúa lại trở thành người”. Câu hỏi là “Liệu sự ngự đến của Đức Kitô, là “Đấng tạo thành toàn thể vũ trụ” (x. Cl 1:15), lại có thể hoàn toàn có mối liên hệ với tình trạng tội lỗi của con người vốn đã diễn ra sau khi tạo dựng không?”

Chân Phúc Duns Scotus đã thực hiện một bước quyết định theo hướng này, giải phóng Sự Nhập Thể khỏi mối liên hệ nền tảng khỏi tình trạng tội lỗi. Lý do cho Sự Nhập Thể, Ngài nói, là việc Thiên Chúa muốn có ai đó bên ngoài chính Ngài là người có thể yêu Ngài một cách hoàn hảo theo một cách thế xứng đáng với Ngài.[3] Đức Kitô thì được muốn cho chính Thiên Chúa như là Đấng duy nhất có thể yêu mến Chúa Cha – và được Chúa Cha yêu mến – bằng một tình yêu vô biên xứng hợp với Thiên Chúa. Con Thiên Chúa cũng sẽ nhập thể ngay cả khi Adam không phạm tội vì Ngài là triều thiên rất quan trọng của công trình tạo dựng, công trình tuyệt tối của Thiên Chúa. Tội lỗi của con người xác định cách thế của Việc Nhập Thể, áp đặt trên đó tính cách của sự cứu chuộc khỏi tội lỗi, nhưng tội lỗi không quyết định về sự thật của chính Sự Nhập Thể. Việc Nhập Thể có một lý do rõ ràng, chứ không phải lý do thuộc hoàn cảnh.

2. Tầm Nhìn Có Tính Vũ Trụ Của Teilhard de Chardin

Chân Phúc Scotus là người đầu tiên nỗ lực để đưa ra một ý nghĩa rõ ràng cho sự khẳng định kinh thánh rằng “tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người” (Cl 1:16). Nhưng chắc chắn chúng ta không thể nói với Scotus về bất cứ một tác động thực sự nào của Đức Kitô trên toàn bộ công trình tạo dựng. Điều này chỉ có thể khi chúng ta đi từ những thế kỷ tiếp theo tính từ thời Scotus đến thời của chúng ta, đến thời của Teihard de Chardin. Theo Blondel, thì Teilhard de Chardin, trong một nền văn hóa bị thống lĩnh bởi ý tưởng về cách mạng, quan tâm đến việc tránh việc để cho Đức Kitô kết thúc trong việc bị coi là một “biến cố của lịch sử, tách biệt ra khỏi toàn bộ Vũ Trụ”.

Tận dụng hết khả năng hiểu biết khoa học không thể tranh cãi của mình, Teilhard de Chardin nhìn thấy một sự song song giữa sự tiến hóa của thế giới (về sự hình thành vũ trụ) và sự hình thành tiệm tiến của toàn bộ sự hiện hữu của Đức Kitô (về sự hình thành nên Đức Kitô). Đức Kitô không chỉ nằm bên ngoài sự tiến hóa của vũ trụ mà còn dẫn dắt sự tiến hóa đó cách nhiệm mầu từ bên trong, và vào thời Ngự Đến Lần Thứ Hai, thì Ngài sẽ thiết lập sự thành toàn và biến đổi hoàn toàn của vũ trụ, “Điểm Khởi Thủy” như Teilhard đã gọi.

Ngài suy luận từ những mệnh đề này ra một tầm nhìn tích cự hoàn toàn mới về mối quan hệ giữa Kitô Giáo và thực tại trái đất. Lần đầu tiên trong lịch sử của nền tư tưởng Kitô Giáo, một người tính hữu đã soạn ra một “Bài Ca Vấn Đề” và một Bài Ca Vũ Trụ.[4] Một sự bùng phát về sự lạc quan trải rộng trên toàn bộ Kitô Giáo đến mức làm cho sự ảnh hưởng của nó như đã thấy trong một văn kiện của Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Mục Vụ Giáo Hội Trong Thế Giới Hiện Đại (Gaudium et spes). Đó là một sự tái đánh giá lại các hoạt động trần thế, và trước hết là lao động của con người. Các công việc mà một người Kitô Hữu thực hiện có giá trị nơi và thuộc về chính chúng như là sự cải thiện thế giới chứ không thuần túy là ý muốn đạo đức mà qua đó một người Kitô Hữu thực hiện những việc này.

Teilhard de Chardin đặc biệt được thúc đẩy khi Ngài áp dụng tầm nhìn của mình cho bí tích Thánh Thể. Qua công việc và cuộc sống hằng ngày của người tín hữu, Thánh Thể mở rộng hoạt động của Thánh Thể trong toàn bộ vũ trụ. Mọi Thánh Lễ đều trở thành một “Thánh Lễ trên Thế Giới”:[5]

Khi qua môi miệng của vị linh mục mà Ngài nói, “Hoc est corpus meum” [“Này là mình Thầy”], thì những lời này vượt ra khỏi hình thức của tấm bánh mà qua đó những lời này được nói ra: những lời này mang lại sự khai sinh cho toàn thể thân mình mầu nhiệm của Đức Kitô. Hiệu quả của hành động của vị linh mục mở rộng ra khỏi bánh được thánh hiến đến tận chính vũ trụ.[6]

Tuy nhiên, tôi không tin rằng chúng ta có thể xác định nền linh đạo vũ trụ này như là một nền linh đạo sinh thái theo ý nghĩa hiện tại của lời này. Đối với Teilhard, thì ý tưởng mang tính cách mạng về tiến trình, của sự vươn lên của công trình tạo dựng đến các hình thức vốn luôn phức tạp và đa dạng hơn, vẫn đang chiếm ưu thế trong khi một mối quan tâm cho việc duy trì công trình tạo dựng thì lại không hiện diện, trừ khi cách gián tiếp. Trong thời của Ngài, người ta vẫn chưa ý thức cách rõ ràng về mối nguy là sự phát triển – đặc biệt là sự phát triển công nghiệp – có thể đặt ra cho công trình tạo dựng, hoặc ít nhất là cho phần nhỏ bé của công trình ấy vốn là ngôi nhà của nhân loại.

Đức tin kinh thánh với Teilhard de Chardin về sự thật là Đức Kitô là Điểm Khởi Thủy của lịch sử, và qua Điểm Khởi Thủy chúng ta có ý muốn nói về Đấng mà sau cùng sẽ qui hướng mọi sự về với Ngài và trao về cho Chúa Cha (x. 1 Cr 15:28), Đấng sẽ khai mở “trời mới và đất mới” và sẽ công bố sự phán xét sau cùng trên cả thế giới và lịch sử (x. Mt 25:31tt). Cùng một Đức Kitô Phục Sinh tự gọi Ngài trong Sách Khải Huyền “Ta là Anpha và Ômêga, là Ðầu và Cuối, là Khời Nguyên và Tận Cùng” (Kh 22:12).

Tuy nhiên, đức tin không biện minh cho ý tưởng của Teilhard de Chardin là hành động sau cùng của lịch sử sẽ là một “triều thiên” của sự tiến hóa vốn đạt tới đỉnh điểm của nó. Theo như tầm nhìn có trong toàn bộ Kinh Thánh, thì hành động sau cùng của nó thì lại ngược lại hoàn toàn, đó là, một sự can thiệp đột ngột của lịch sử, một cuộc khủng hoảng, một sự phán xét, một thời điểm tách lúa ra khỏi cỏ lùng (x. Mt 13:24t). Thư Thứ Hai của Thánh Phêrô nói rằng các Kitô Hữu “trong khi đợi ngày của Thiên Chúa và làm cho ngày đó mau đến, ngày mà các tầng trời sẽ bị thiêu hủy và ngũ hành sẽ tan ra trong lửa hồng” (2 Pr 3:12). Đây là tầm nhìn vốn trở thành nét đặc thù của cách tiếp cận của Giáo Hội, như chúng ta thấy trong những lời đầu tiên của “Dies irae”: “Dies irae dies illa solvet saeclum in favilla” (“Ngày thịnh nộ ấy, ngày tai ương ấy/Trời và đất sẽ thành tro bụi”). Đó sẽ là một sự chấm dứt đối với sự dữ theo nghĩa là thế giới hiện đại này thay vì là một đỉnh điểm của sự tốt lành.[7]

Điểm yếu này trong tầm nhìn của Teilhard de Chardin là do một khoảng cách vốn đã được ngay cả các học giả ái mộ tư tưởng của Ngài chỉ ra.[8] Ngài đã không thành công trong việc tháp nhập vào trong tầm nhìn của Ngài, mọt cách có tổ chức và thuyết phục, chiều kích tiêu cực của tội lỗi; kết quả là Ngài đã không đưa tầm nhìn đầy ấn tượng của Thánh Phaolô vào trong điều mà sự hòa giải và sự tóm lược tất cả mọi điều vào trong Đức Kitô diễn ra trên thập giá và trong cái chết của Ngài.

3. Thần Khí Của Đức Kitô

Do đó, có bất cứ điều gì giúp cho chúng ta thoát ra khỏi mối nguy của việc biến Đức Kitô, như Blondel nói, “một người xâm nhập vào, một kẻ xa lạ trong một sự bao la nghiền nát và thù nghịch của vũ trụ”? Nói cách khác, liệu Đức Kitô có điều gì để nói về vấn đề nóng bỏng là hệ sinh thái và sự bảo tồn công trình tạo dựng, hay liệu tất cả điều này diễn ra trong sự hoàn toàn độc lập của Ngài, giống như một vấn đề mà, nếu có, có liên quan đến thần học chứ không phải là Kitô Học?

Sự thiếu một câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi này bởi các thần học gia là do, giống như nhiều khoảng cách khác, tôi tin, sự ít chú ý dành cho Chúa Thánh Thần và mối quan hệ của Ngài với Đức Kitô phục sinh. Thánh Phaolô viết, “con người đầu tiên là Ađam được dựng nên thành một sinh vật, còn Ađam cuối cùng là thần khí ban sự sống” (1 Cr 15:45). Vị tông đồ tiếp tục đi xa đến mức có thể nói, bằng một công thức vốn rất vắn gọn: “Chúa...là Thần Khí” (2 Cr 3:17), để nhấn mạnh rằng Chúa Phục Sinh giờ đây đang hoạt động trong thế giới qua “cánh tay hoạt động” của Ngài, chính là Chúa Thánh Thần.

Sự đề cập của Thánh Phaolô về công trình tạo dựng vốn đang chịu nỗi đau của việc sinh con được thiết lập trong bối cảnh về sự thảo luận của Ngài về những hoạt động khác nhau của Chúa Thánh Thần. Ngài đã thấy một sự liên tục giữa sự rên siết của công trình tạo dựng và sự rên siết của người tín hữu: “không phải muôn loài mà thôi, cả chúng ta cũng rên siết trong lòng: chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu” (Rm 8:23).

Chúa Thánh Thần là sức mạnh mầu nhiệm thúc đẩy công trình tạo dựng đến sự thành toàn của nó. Công Đồng Vatican II, khi nói về sự tiến hóa trong trật tự xã hội, khẳng định rằng “Thần Khí của Thiên Chúa, Đấng qua một sự quan phòng kỳ diệu sẽ điều khiển sự phát triển của thời gian và canh tân bộ mặt trái đất, đang không vắng bóng khỏi sự phát triển này” (Gaudium et spes, số 26). Điều mà công đồng khẳng định về trật tự xã hội áp dụng cho hết mọi lãnh vực, kể cả vũ trụ. Mọi nỗ lực không ngừng nghỉ và mọi sự tiến bộ trong việc làm chủ công trình tạo dựng là qua công việc của Chúa Thánh Thần. Ngài, Đấng là “nguyên lý của việc tạo dựng mọi sự”,[9] là nguyên lý của sự tiến hóa của nó qua thời gian. Đây chẳng là gì nhưng là sự liên tục của công trình tạo dựng.

Chúa Thánh Thần mang lại điều gì cụ thể và “mang tính cá nhân” cho công trình tạo dựng và cho sự tiến hóa của vũ trụ? Ngài không ở lúc khởi đầu, có thể nói, nhưng là ở thời điểm kết thúc của công trình tạo dựng và cứu chuộc, cũng như Ngài không ở khởi đầu mà ở thời điểm kết của tiến trình ba ngôi. Thánh Basil viết, “Trong công trình tạo dựng, Chúa Cha là căn nguyên đầu tiên, Đấng mà mà từ Ngài mọi sự xuất phát; Chúa Con là căn nguyên tác động, Đấng mà qua Ngài mọi sự được tạo thành; và Chúa Thánh Thần là căn nguyên làm cho hoàn hảo”.[10]

Từ những lời đầu tiên của Kinh Thánh (“Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Ðất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước”), người ta có thể suy ra rằng hành động sáng tạo của Chúa Thánh Thần là ngay khởi nguồn của việc hoàn tất công trình tạo dựng. Chúng ta có thể nói Ngài không có liên hệ quá nhiều đến Đấng làm biến chuyển thế giới từ hư không thành hiện hữu như là liên hệ đến việc Ngài là Đấng làm cho những hữu thể vô hình thành những hữu thể có hình hài và hoàn hảo, ngay cả khi chúng ta phải luôn nhớ rằng mọi hành động của Thiên Chúa thực hiện bên ngoài chính bản thân Ngài luôn luôn là một công việc phối hợp của toàn bộ Ba Ngôi.

Nói cách khác, Chúa Thánh Thần là Đấng mà, bởi bản thể của Ngài, có mục đích làm cho công trình tạo dựng chuyển từ tình trạng hỗn mang thành vụ trụ, làm cho thế giới trở thành một điều tốt đẹp, một điều có trật tự và sạch, theo ý nghĩa của danh từ Latinh của nó “mundus” mà Thánh Ambrose đã nhận thấy,

Khi Chúa Thánh Thần bắt đầu di chuyển trên mặt nước, thì công trình tạo dựng vẫn chưa có vẻ đẹp. Tuy nhiên, sau khi công trình tạo dựng trải qua sự tác động của Chúa Thánh Thần, thì nó có được tất cả sự rạng rỡ nơi vẻ đẹp của nó vốn làm cho nó chiếu tỏa như thế giới (mundus)”.[11]

Một tác giả vô danh từ thế kỷ thứ hai đã thấy sự huy hoàng này lặp lại chính nó, theo một cách thế song song đáng kinh ngạc, trong công trình tạo dựng mới được hình thành qua Cuộc khổ Nạn Của Đức Kitô. Điều mà “Thần Khí Thiên Chúa” thực hiện ngay từ khởi đầu của công trình tạo dựng, thì “Thần Khí của Đức Kitô” giờ đây đang thực hiện trong công trình chứu chuộc. Ông viết,

Thế giới có lẽ đã biến vào trong sự hỗn mang và sợ hãi trong cuộc khổ nạn nếu như Chúa Giêsu đã không nói: “Lạy Cha, con xin phó linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46). Toàn thể vũ trụ run rùng và rung chuyển bởi nỗi sợ, và mọi sự trong tình trạng nổi loạn, nhưng khi Thần Khí xuất hiện trở lại thì vũ trụ trở lại với sự sống và có được sức sống của nó.[12]

4. Đức Kitô Hoạt Động Thế Nào Trong Công Trình Tạo Dựng

Một câu hỏi vẫn hoàn toàn phù hợp theo nghĩa sinh thái: Liệu Đức Kitô có điều gì để nói về những vấn đề thực tế vốn là một thách đố sinh thái đặt ra cho nhân loại và Giáo Hội không? Theo nghĩa nào mà chúng ta có thể nói rằng Đức Kitô, hoạt động qua Thần Khí của Ngài, đang là yếu tố chính cho một nền sinh thái Kitô Giáo lành mạnh và thực tế?

Tôi tin rằng, có, Đức Kitô đóng một vai trò quyết định ngay cả trong những vấn đề cụ thể của việc bảo tồn công trình tạo dựng, nhưng Ngài hoạt động cách gián tiếp bằng việc hoạt động nơi con người và – qua họ - trên công trình tạo dựng. Ngài thực hiện điều đó qua Tin Mừng của Ngài mà Thần Khí “gợi nhắc lại” cho người tín hữu và làm cho sống động và hoạt động trong lịch sử cho đến tận cùng thế giới (x. Ga 16:13). Điều này diễn ra theo cách thế mà nó đã diễn ra ngay từ đầu của công trình tạo dựng: Thiên Chúa tạo dựng thế giới và ủy thác cho sự chăm sóc và làm chủ cho con người. Kinh Nguyện Thánh Thể IV nói điều đó thế này:

Cha đã dựng nên con người giống hình ảnh Cha và trao cho việc trông coi vũ trụ, để khi phụng sự một mình Cha là Ðấng tạo hoá, con người cai quản mọi loài thụ tạo.

Sự sáng tạo mà Đức Kitô mang lại trong lãnh vực này mà Ngài đã mạc khải ý nghĩa thưc sự của từ “cai trị” theo cách thế mà nó được Thiên Chúa hiểu, như là một sự phục vụ. Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng,

"Anh em biết: thủ lãnh các dân thì lấy quyền mà thống trị dân, những người làm lớn thì dùng uy mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người" (Mt 20:25-28).

Tất cả mọi lý do mà các thần học gia đã nỗ lực mang lại cho Sự Nhập Thể, cho câu hỏi “vì sao Thiên Chúa lại trở thành con người”, đã bị xé toang trước sức mạnh của lời tuyên bố này: “Ta đến để phục vụ và hiến mạng sống mình vì nhiều người”. Giờ đây là một câu hỏi áp dụng sự hiểu biết mới về sự thống trị trước mối quan hệ của chúng ta với công trình tạo dựng nữa, như đã được công trình tạo dựng phục vụ, đúng, nhưng cũng là việc phục vụ công trình tạo dựng, nghĩa là, tôn trọng nó, bảo vệ nó, và bảo vệ nó khỏi bất cứ sự khai thác nào.

Đức Kitô hoạt động trong công trinh tạo dựng theo cách thế mà Ngài hoạt động trong lãnh vực xã hội, nghĩa là, theo như giới luật của Ngài về tình yêu dành cho người thân cận. Trong mối tương quan với không gian, mà chúng ta gọi theo nghĩa đồng bộ của nó, thì “người thân cận” của chúng ta có ý nói đến những người đang sống gần với chúng ta ở đây và bây giờ. Trong mối tương quan với thời gian, theo nghĩa có tính lịch sử của nó, thì “những người thân cận của chúng ta” là những người sẽ đến sau chúng ta, bắt đầu từ con trẻ và người trẻ của ngày hôm nay mà chúng ta đang lấy đi từ chúng khả năng sống trong một hành tinh có thể sống được mà không phải đi ra đường mà phải đeo mặt nạ để thở hoặc phải “tìm kiếm những thuộc địa trên các hành tinh khác”. Vì đối với tất cả những người thân cận trong thời gian và không gian, Chúa Giêsu nói, “Các ngươi làm cho chính Ta...Các ngươi không làm cho chính Ta” (Mt 25:40, 45).

Giống như mọi thứ khác, việc chăm sóc công trình tạo dựng cũng được thực hiện ở hai cấp độ: cấp độ toàn cầu và cấp độ địa phương. Một câu nói hiện đại đã kêu gọi chúng ta hãy “Suy nghĩ toàn cầu, nhưng hành động địa phương”. Điều này có nghĩa là một sự chuyển đổi cần phải bắt đầu từ cá nhân, từ mỗi người chúng ta. Thánh Phanxicô Assisi đã từng nói với anh em của Ngài, “Tôi phải không bao giờ được là một người trộm trong vấn đề bố thí, và lấy hoặc sử dụng nhiều hơn mức tôi cần. Tôi luôn luôn chấp nhận ít hơn nhu cầu của tôi, để người nghèo khác không bị lọc lừa về phần của họ; vì hành động có thể là một hành vi ăn cắp”.[13]

Ngày nay luật đó có thể là một sự áp dụng đang hữu dụng hơn bao giờ hết vì tương lai của trái đất. Chúng ta cũng cần phải tự đề nghị bản thân chúng ta để không bao giờ là những kẻ trộm các nguồn tài nguyên, sử dụng nhiều hơn mức chúng ta cần và lấy chúng khỏi những người đến sau chúng ta. Để bắt đầu, chúng ta là những người đang quen với việc làm việc với giấy có thể nỗ lực không để góp phần vào sự lãng phí vô cùng và thiếu suy nghĩ về nguồn nguyên liệu thô này, để cho Mẹ Đất ngày càng ít cây hơn.

Mùa Giáng Sinh là một sự nhắc nhớ mạnh mẽ cho việc tiết chế và sự tiết kiệm này trong việc sử dụng mọi sự. Đấng Sáng Tạo của chúng ta đã mang lại cho chúng ta một mẫu gương về điều này khi, trong khi trở thành con người, Ngài bằng lòng sinh ra ở trong một hang đá. Chúng ta hãy nhớ lại những câu đơn giản và sâu sắc từ bài ca: “Ngài Đến Từ Những Hành Tinh”, của Thánh Alphonsus Maria dei Ligouri: “Vì Ngài, Đấng tạo thành thế giới,/ Không trang phục hay lửa, ôi lạy Chúa của con”.

Tất cả chúng ta, những người tin và không có niềm tin, đều được mời gọi để nỗ lực cho lý tưởng tiết chế và tôn trọng công trình tạo dựng, nhưng chúng ta là các Kitô Hữu thì cần phải thực hiện điều đó vì một lý do thêm và minh mạch hơn nữa. Nếu Cha trên trời đã “tạo thành mọi sự nhờ Người và cho Người”, thì chúng ta cũng thế hãy nỗ lực làm hết mọi sự “nhờ Đức Kitô và vì Đức Kitô”, nghĩa là, bằng ân sủng và vì vinh quang của Người.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ ZENIT)

 

[1] Alexander Neckam, De naturis rerum, 1, 2, ed. Thomas Wright (1863; repr., New York: Cambridge University Press, 2012), 12ff.

[2] Maurice Blondel, “First Paper to Auguste Valensin,” in Pierre Teilhard de Chardin and Maurice Blondel, Correspondence (New York: Herder and Herder, 1967), 23.

[3] Duns Scotus, Reportatio Parisiensis,” III, 7, 4, in Opus Parisiense, eds. Charles Balic et al. (Rome: Vatican City 1950), 13-15; see also Opera omnia, XXIII (Paris: L. Vives, 1894), 303.

[4] Pierre Teilhard de Chardin, “Hymn to Matter,” in Hymn of the Universe, trans. Gerald Vann (New York: Harper & Row, 1957), 65-70. See also “My Universe” (1924) in Science and Christ (New York: Harper & Row, 1968), 37-85.

[5] Teilhard de Chardin, “The Mass on the World,” in Hymn of the Universe, 9-32.

[6] Ibid., qtd. in the “Introduction to ‘Mass on the World,’” 6. For similar ideas, see How I Believe (1923), trans. René Hague (New York: Harper & Row, 1969).

[7] This is Augustine’s thesis who sees the end as “the separation of good and evil, the destruction (conflagratio) of the world and its rebirth”: cf.  The City of God, XX, 30,5.

[8] See Christopher F. Mooney, Teilhard de Chardin and the Mystery of Christ (New York: Image Books, 1968),

[9] Thomas Aquinas, On the Truth of the Catholic Faith (Summa contra gentiles), IV, 20, 2, trans. Charles J. O’Neil (New York: Hanover House, 1955-57), 628.

[10] St. Basil, On the Holy Spirit, XVI, 38 (PG 32, 136).

[11] St. Ambrose, On the Holy Spirit, II, 33.

[12] Anonymous Quartodeciman of the second century [Pseudo-Hippolytus], “Homily on the Holy Pascha,” in Dragoş Andrei Giulea, Pre-Nicene Christology in Paschal Contexts(Boston: Brill, 2014), 115; see also SCh 27 1950.

[13] Mirror of Perfection, 12, trans. Leo Shirley-Price, in St. Francis of Assisi: Writings and Early Biographies, ed. Marion A. Habig (Quincy, Il: Franciscan Press, 1991), 1139; see FF1695.