Skip to main content
Cha Cantalamessa, vị giảng thuyết phủ giáo hoàng đang giảng tĩnh tâm mùa vọng 2017 cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô và Giáo Triều (Vatican Media)

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Tĩnh Tâm Giáo Triều Mùa Vọng 2017 Tuần II

“ÐỨC GIÊSU KITÔ VẪN LÀ MỘT, HÔM QUA CŨNG NHƯ HÔM NAY, VÀ NHƯ VẬY MÃI ĐẾN MUÔN ĐỜI” (Dt 13:8).

Sự Hiện Diện Khắp Mọi Nơi Của Đức Kitô Trong Thời Gian

1. Đức Kitô và Thời Gian

Sau khi đã suy tư vào lần trước về vị thế mà Đức Kitô chiếm lĩnh trong vũ trụ, tôi muốn dành bài suy tư thứ hai này về vị thế mà Đức Kitô chiếm lĩnh trong lịch sử nhân loại: sau khi trước hết suy xét sự hiện diện của Ngài trong không gian, giờ đây chúng ta sẽ suy xét sự hiện diện của Ngài trong thời gian.

Trong Thánh Lễ Đêm Vọng Giáng Sinh tại Đền Thờ Thánh Phêrô, một bài thánh ca xưa của Kalends đã được gợi hứng từ Nền Tử Đạo Học La Mã đã được tái hiện kể từ Công Đồng Vatican II. Trong đó sự hạ sinh của Đức Kitô được đặt vào cuối một chuỗi những ngày tạo nên sự hạ sinh trong thời gian. Dưới đây là một vài lời của bài ca ấy:

Khi thời đại vượt quá số lượng đã trải qua từ khi tạo thành thế giới...,

vào thế kỷ thứ 13 kể từ khi Dân Israel đã được Moses dẫn dắt trong Cuộc Xuất Hành từ Ai Cập,

qua hàng ngàn năm kể từ khi David được xức dầu phong Vương...,

trong một trăm chín mươi tư năm Olympic,

vào năm 752 kể từ khi thiết lập Thành Rôma,

Trong năm thứ 42 của triều đại Hoàng Đế Caesar Octavian Augustus,

Toàn thể thế giới hòa bình, CHÚA GIÊSU KITÔ, Thiên Chúa vĩnh cửu và Con của Chúa Cha vĩnh cửu, khao khát thánh hiến thế giới bằng sự hiện diện yêu thương nhất của Ngài, đã được thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần, và khi chín tháng đã trôi qua kể từ khi thụ thai, đã được sinh ra bởi Đức Đồng Trinh Maria tại Bê-lem xứ Giu-đê-a, và đã làm người.[1]

Các tiếp cận mang tính tương đối này trong việc tính toán thời gian, khởi đi bằng một khởi đầu và nói đến nhiều biến cố khác nhau, đã gắn liền với việc thay đổi triệt để bằng sự ngự đến của Đức Kitô, ngay cả khi điều đó đã không xảy ra ngay hoặc ngay tức khắc. Oscar Cullman, trong nghiên cứu nổi tiếng của mình Christ and Time (Đức Kitô và Thời Gian), đã giải thích một cách rất rõ ràng sự thay đổi này theo cách tính toán thời gian của con người có nghĩa là gì.

Chúng ta không còn bắt đầu bằng một điểm khởi đầu nữa (sự tạo thành thế giới, cuộc xuất hành khỏi Ai Cập, việc thiết lập thành Rôma, v.v) được theo sau bởi một con số đi vào trong tương lai vô giới hạn. Giờ đây chúng ta khởi đầu bằng một điểm trung tâm, sự hạ sinh của Đức Kitô, và tính toán thời gian trước đó theo trình thực giảm dần, - năm thế kỷ, bốn thế kỷ, một thế kỷ trước Đức Kitô – và theo một trình tự tăng dần đối với thời gian sau đó: một thế kỷ, hai thế kỷ, hay hai thiên niên kỷ sau Đức Kitô. Trong một vài ngày nữa, chúng ta sẽ vui mừng một dịp kỷ niệm lần thứ 2017 của biến cố ấy.

Cách tính toán thời gian này, như tôi đã nói, đã không diễn ra ngay hoặc theo cùng một cách thế. Khởi đi từ Dionysius Exiguus (Dionysius Khiêm Nhường) vào năm 525, người ta bắt đầu tính toán những năm khởi đi từ sự hạ sinh của Đức Kitô thay vì việc thành lập thành Rôma. Tuy nhiên, chỉ vào thế kỷ thứ bảy (dướng như là với thần học gia Denis Pétau còn gọi là Petavius) là một tập quán thiết lập việc tính toán thời gian trước Đức Kitô theo những năm trước khi Ngài ngự đến. Chúng ta giờ đây có một tập quán chung theo tiếng Anh sử dụng công thức “Trước Đức Kitô” (viết tắt là B.C) và “Anno Domini” (“Năm của Chúa”, viết tắt là A.D), nghĩa là “sau Đức Kitô”. Bất cứ lối viết tắt nào được sử dụng trong các ngôn ngữ khác nhau thì những mốc thời gian giờ đây đều đại diện cho “trước Đức Kitô” và “sau Đức Kitô”.

Trong một khoảng thời gian giờ đây tập tục đã lan tỏa, đặc biệt trong thế giới Anglo-Saxon và trong các quan hệ quốc tế, về việc tránh sử dụng từ ngữ này vốn không còn được chấp nhận nữa, vì những lý do dễ hiểu, đối với những người thuộc các tôn giáo khác hoặc đối với người không có tôn giáo. Thay vì nói về “kỷ nguyện Kitô Giáo” hay “năm của Chúa”, thì người ta thích nói về “Kỷ Nguyên Hiện Tại” hay “Kỷ Nguyên Chung”. “Trước Khi Đức Kitô được sinh ra” (B.C) thì giờ đây đã được thay thế bằng “Trước Kỷ Nguyên Chung” (BCE), và “năm của Chúa” (A.D) đã được thay thế bằng “Kỷ Nguyên Chung” (CE). Từ ngữ đã thay đổi nhưng bản chất vì cách tính những năm và thời gian vẫn y như vậy.

Oscar Cullman đã phân loại sự sáng tạo của trình tự thời gian mới này mà Kitô Giáo đã đưa ra. Thời gian không diễn ra theo các vòng tuần hoàn vốn lặp đi lặp lại, như torng tư tưởng của triết học Hy Lạp và, trong số những triết gia hiện đại, của Friedrich Nietzsche. Thay vào đó, thời gian dịch chuyển theo một cách tuyến tính, khởi đi từ một thời điểm không xác định (mà chúng ta không thể đưa ra ngày cụ thể), nghĩa là, việc tạo dựng thế giới, đến một điểm vốn cũng không xác định và không thấy trước được tương đồng, tức là parousia (sự ngự đến lần thứ hai). Đức Kitô đang ở trung tâm của dòng thời gian này, Đấng mà mọi sự trước Ngài đều hướng đến và Đấng mà mọi sự sau Ngài đều qui về.[2] Tự xác định Ngài là “Alpha và Omega” của lịch sử (Kh 21:6), Chúa Phục Sinh đảm bảo với chúng ta rằng không chỉ Ngài sẽ qui tụ mọi sự về với Ngài là khởi đầu và cánh chung mà còn là việc chính Ngài là khởi đầu không xác định và kết thúc không xác định, tác giả của công trình tạo dựng và sự hình thành của công trình này.

Vào lúc ấy, lập trường của Cullman đã gặp phải một phản ứng mạnh mẽ, thù nghịch từ các đại diện của nền thần học biện chứng đang thống lĩnh thời đó: Karl Barth, Rudolf Bultmann, và các học trò của các vị này. Nền thần học của họ có khuynh hướng xóa bỏ chiều kích lịch sử của việc Truyền Giảng, giảm nó xuống thành “những lệnh truyền đối với quyết định” mang tính hiện sinh. Kết quả là họ đã cho thấy một sự thiếu hứng thú rõ nét đối với một “Chúa Giêsu của lịch sử” theo hướng cổ xúy cho cái gọi là “Đức Kitô của niềm tin”. Tuy nhiên, sự hứng thú đã được hồi sinh về “lịch sử cứu độ” trong thần học sau Công Đồng và sự hứng thú được khơi lại về Chúa Giêsu của lịch sử trong học thuật kinh thánh (cái gọi là “sự tìm hiểu mới về Chúa Giêsu lịch sử”)[3] đã xác định tính đúng đắn về sự hiểu biết của Cullman.

Mộ thành tựu của nền thần học biện chứng vẫn còn gần gũi: Thiên Chúa là một người khác hoàn toàn với sự tôn trọng đối với thế giới, lịch sử, và thời gian. Có một “sự khác biệt về phẩm chất mang tính vô cùng và không thể giảm thiểu”[4] giữa hai thực tại. Tuy nhiên, khi nói về Đức Kitô cùng với sự chắc chắn về một sự khác biệt vô cùng, thì phải luôn luôn có sự xác định về một “điều tương đồng vô cùng” lớn lao tương xứng. Đây là cốt lõi của định nghĩa của Công Đồng Chalcedon, được diễn tả bởi hai trạng từ “Inconfuse, indivise”, không có lẫn lộn và không tách rời. Chúng ta phải nói về Đức Kitô theo một cách nổi bật là Ngài “đang ở trong thế giới” nhưng không “thuộc về thế giới”. Ngài ở trong lịch sử và thời gian, nhưng Ngài vượt trên lịch sử và thời gian.

2. Đức Kitô: Nhân Vật, Biến Cố, Bí Tích

Giờ đây chúng ta hãy nỗ lực để đưa ra nội dung cụ thể hơn nữa cho sự khẳng định về sự hiện diện toàn năng của Đức Kitô trong lịch sử và thời gian. Đó không phải là một sự hiện diện mang tính trừu tượng và đồng phục. Sự hiện diện này diễn ra theo cách thế khác biệt trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử cứu độ. Đức Kitô “vẫn là một hôm qua và hôm nay và mãi mãi” (Dt 13:8), nhưng không phải là trong cùng một mô thức. Ngài hiện diện trong Cựu Ước như một hình tượng, Ngài hiện diện trong Tân Ước như biến cố, và Ngài 9ang hiện diện trong thời đại của Giáo Hội như bí tích. Hình tượng thì loan báo, báo trước, và chuẩn bị cho biến cố, trong khi bí tích cử hành biến cố ấy, làm hiện tại hóa biến cố, thực tại hóa biến cố, và theo mọt nghĩa nhất định là làm cho biến cố tiếp diễn. Đây là ý nghĩa mà trong đó phục vụ mời gọi chúng ta nói trong Lễ Giáng Sinh, “Hodie Christus natus est, hodie Salvator apparuit” (“Hôm nay Đức Kitô đã sinh ra; hôm nay Đấng Cứu Độ đã xuất hiện”).

Thánh Phaolô liên lỉ khẳng định rằng trong Cựu Ước mọi sự - các biến cố và nhân vật – đều chỉ về Đức Kitô: mọi sự là một “kiểu”, một lời tiên tri, hay một “phép ẩn dụ” về Ngài. Nhưng niềm xác tín ấy trở về với Chúa Giêsu của các Tin Mừng là Đấng tự áp dụng trên Ngài quá nhiều từ ngữ và biến cố của Cựu Ước. Theo Luca, Đấng Phục sinh trên đường Emmaus với hai môn đệ nói chính xác thế này: “Rồi bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh” (Lc 24:27). Truyền thống Kitô Giáo đã gói gọn một số công thức vắn gọn để diễn tả chân lý đức tin này, chẳng hạn, lề luật đã “thụ thai” với Đức Kitô. Phụng vụ của Giáo Hội sống bằng niềm xác tín này trong thực hành và đọc mọi trang của Cựu Ước theo sự tham chiếu đến Đức Kitô.

Thứ hai, khi nói rằng Đức Kitô đang hiện diện trong Tân Ước như là “biến cố” có nghĩa là khẳng định tính cách độc nhất và không lặp lại của những biến cố lịch sử có liên quang đến Ngôi Vị của Chúa Giêsu và đặc biệt là mầu nhiệm vượt qua của cái chết và sự phục sinh của Ngài. Biến cố là một biến cố diễn ra semel, “một lần là đủ” (Dt 9:26-28), và như thế thì không lặp lại bởi vì nó đang được khép lại trong không gian và thời gian.

Sau cùng, nói rằng Đức Kitô hiện diện trong Giáo Hội là “bí tích” là một sự khẳng định rằng ơn cứu độ mà Ngài dành được trở nên hoạt động trong lịch sử qua các dấu chỉ mà Ngài thiết lập. Từ “bí tích” ở đây được hiểu trong ý nghĩa trọn vẹn hơn là bao gồm bảy bí tích nhưng cũng là Lời Thiên Chúa và thực ra là toàn bộ Giáo Hội là một “bí tích hoàn vũ về ơn cứu độ”. Nhờ các bí tích, semel trở thành quoteiscunque, “thời gian đơn nhất” trở thành “thường xuyên”, như Thánh Phaolô khẳng định trong Bữa Tiệc Ly của Chúa: “Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn [quotiescunque] Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11:26).

Khi chúng ta nói về sự hiện diện của Đức Kitô trong lịch sử cứu độ trong vai trò là một hình tượng, biến cố, và bí tích, thì chúng ta cần phải tránh sai lỗi của Joachim Flore (hoặc ít nhất là sai lỗi được cho là của ông) về việc chia lịch sử của nhân loại thành ba thời đại: thời đại của Chúa Cha, thời đại vốn là Cựu Ước; thời đại của Chúa Con, vốn sẽ là Tân Ước; và thời đại của Chúa Thánh Thần, vốn sẽ là thời đại của Giáo Hội. Không chỉ điều này trái ngược với giáo lý về Ba Ngôi (Đấng luôn hoạt động cùng nhau trong các công việc của các Ngài khi hướng ra ngoài ad extra) nhưng còn trái ngược với giáo lý về Kitô học. Đức Kitô là biến cố thì không phải là một trong ba thời khắc hay giai đoạn của lịch sử mà là trung tâm của lịch sử, Đấng mà thời gian trước Ngài hướng đến và Đấng mà ý nghĩa của thời gian xuất phát từ Ngài. Ngài là một bản lề vừa làm hiệp nhất vừa phân biệt hai giai đoạn thời gian. Đây là chân lý được thể hiện trong nền thời gian mới vốn chia thời gian thành “trước Đức Kitô: và “sau Đức Kitô”.

3. Cuộc Gặp Gỡ Làm Biến Đồi Đời Sống

Và bây giờ, như thường lệ, chúng ta sẽ đi từ đại thể bao la phức tạp đến tiểu thể, từ lịch sử hoàn vũ đến lịch sử cá nhân, nghĩa là, từ thần học đến sự sống. Việc nhìn nhận là Đức Kitô, ngay cả trong tập tục hoàn vũ của những biến cố có thời gian, được nhìn nhận như là trung tâm và là trục của thời gian, trung tâm trọng lực của lịch sử, không nhất thiết là lý do cho sự kiêu hãnh và chủ nghĩa vinh thắng đối với một Kitô Hữu mà là một dịp để suy xét lương tâm cách điều độ. Câu hỏi bắt đầu thì đơn giản: Đức Kitô có phải là trung tâm của đời sống của tôi, của lịch sử cá nhân nhỏ bé của tôi? Của thời gian của tôi? Liệu Ngài có chiếm ở trong đó một vị trí trung tâm chỉ trong lý thuyết hay trong thực tế? Trong đời sống của đại đa số người dân, thì có một biến cố chia đời sống thành hai và tạo ra một mốc “trước đó” và một mốc “sau đó”. Đối với người đã kết hôn thì điều này thường là cuộc hôn nhân, và họ chia đời sống của họ thành “trước khi tôi kết hôn” và “sau khi tôi kết hôn”. Đối với linh mục thì đó là việc thụ phong: trước khi thụ phong và sau khi thụ phong; đối với người tu sĩ thì là lời khấn tu của họ.

Thánh Phaolô cũng chia đời Ngài thành hai phần, nhưng ranh giới phân chia thì không phải là hôn nhân hay việc thụ phong. Ngài viết cho tín hữu Phi-líp-phê, “Tôi là...tôi là...,” và điều theo sau đó là một danh mục các lời tuyên bố và đảm bảo của Ngài về sự thánh thiện (cắt bì, là một người Do Thái, tuân thủ lề luật, không có chi đáng trách). Nhưng đột ngột, tất cả điều này lại xuất phát từ một mối lợi đối với một sự mất mát với Ngài; những tuyên bố của Ngài đối với việc tự hào lại trở nên rác rưởi (x. Pl 3:5-7). Tại sao? “Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi truyệt vời, là được biết Ðức Kitô Giêsu” (Pl 3:8). Cuộc gặp gỡ ngoạn mục của Ngài với Đức Kitô tạo nên trong đời sống của người tông đồ một kiểu cá nhân về “trước Đức Kitô” và “sau Đức Kitô”.

Đối với đa số chúng ta, thì ranh giới phân cách này thì khó xác định hơn: mọi sự đều lỏng lẻo, suy tàn theo thời gian, và được đánh dấu bởi cái gọi là “các nghi thức của tiến trình”: Rửa Tội, Thêm Sức, Truyền Chức Thánh hay Hôn Phối, và qua nhiều biến cố khác. Thật may cho chúng ta, một biến cố như thế thì không phải là hoa trái vốn ngoại trừ đối với các bí tích; thực vậy các bí tích có thể chưa đại diện tốt lắm cho bất cứ “một tiến trình” nào từ quan điểm hiện sinh. Cuộc gặp gỡ với Đức Kitô là một biến cố có thể diễn ra vào bất cứ thời điểm nào trong đời sống. Theo đó, Tông Huấn Evangelii Gaudium viết,

Tôi mời gọi tất cả các Kitô hữu, ở khắp mọi nơi, ngay trong thời khắc này, đi đến chỗ gặp gỡ được đổi mới và cá nhân với Đức Giêsu Kitô, hoặc ít nhất là một sự mở ra để cho chính Ngài gặp gỡ họ; tôi mời gọi tất cả mọi người hãy thực thi việc này cách không mệt mỏi trong cuộc sống hằng ngày. Không ai nên nghĩ rằng lời mời gọi này không dành cho chính mình, bởi vì "không một ai bị loại ra khỏi niềm vui được mang đến bởi Thiên Chúa" (số 3).

Trong một bài giảng Lễ Phục Sinh vô danh từ thế kỷ thứ tư, vào năm 387 chính xác là thế, một vị giám mục đã thực hiện một lời xác quyết hiện đại mang tính kinh ngạc – hầu như là một sự xác quyết mang tính hiện sinh trước khi thế giới hiện die65. Ngài nói,

Đối với mọi người, sự khởi đầu sự sống là khi Đức Kitô đã được hiến tế vì người ấy. Tuy nhiên, Đức Kitô được hiến tế vì người ấy trước khi người ấy nhận ra ân sủng và trở nên ý thức về sự sống được tạo ra cho người ấy bởi sự hiến tế ấy”.[5]

Khi chúng ta đang cận kề Lễ Giáng Sinh thì chúng ta có thể áp dụng cho sự hạ sinh của Đức Kitô điều mà tác giả này nói về sự chết của Ngài.

“Đối với mọi người, thì sự khởi đầu sự sống là khi Đức Kitô được sinh ra cho người ấy. Tuy nhiên, Đức Kitô được sinh ra cho người ấy vào thời điểm mà người ấy nhìn nhận ra ân sủng ấy và trở nên ý thức về sự sống được tạo ra cho mình bởi sự hạ sinh ấy”.

Đây là một ý tưởng, mà người ta có thể nói, đã trải dài trong suốt toàn bộ lịch sử của nền linh đạo Kitô Giáo khởi đầu với Origen và gồm cả Thánh Augustine, Thánh Bernard, Luther, và những vị khác. Câu hỏi là: “Điều gì là tốt lành đối với tôi nếu Đức Kitô được sinh ra vào một thời điểm tại Bethlehem nếu Ngài lại không được sinh ra một lần nữa trong tâm hồn tôi bởi niềm tin?”[6] Theo nghĩa này thì mọi Lễ Giáng Sinh, gồm cả lễ năm nay, có thể là một Lễ Giáng Sinh thật sự đầu tiên cho đời sống của chúng ta.

Một triết gia vô thần đã mô tả trong một đoạn nổi tiếng thời khắc mà trong đó một người khám phá ra sự hiện hữu của mọi sự, là chúng hiện hữu trong thực tế chứ không chỉ trong tư tưởng:

Ngay bây giờ tôi đang ở trong công viên. Những nhánh rễ của cây hạt dẻ là những cành dưới lòng đất ngay dưới ghế của tôi. Tôi không thể nhớ đó là một nhánh rễ nữa. Từ ngữ đã biến mất và với chúng thì ý nghĩa của mọi sự, những phương pháp chúng sử dụng, và những điểm tham chiếu yếu đớt mà con người đã truy tìm trên bề mặt của chúng...Do đó tôi có cái nhìn này. Nó làm cho tôi như ngừng thở. Không bao giờ, cho đến tận vài ngày sau cùng này, tôi đã hiểu về ý nghĩa của “sự hiện hữu”. Tôi giống như những người khác, giống như những người đã bước đi trên bờ biển, tất cả đều mặc trong trang phục mùa xuân của mình. Tôi nói, giống như họ, “Đại dương màu xanh, ngay chấm trắng đó có một con chim hải âu”, nhưng tôi không cảm thấy rằng nó hiện hữu hoặc rằng con chim hải âu là “một con chim hải âu đang hiện hữu”; sự hiện hữu thường tự che dấu chính nó. Chính là ở đó, quanh chúng ta, nơi chúng ta, chính là chúng ta, bạn không thể nói hay từ mà không đề cập đến nó, nhưng bạn lại không bao giờ có thể chạm vào nó...Và rồi đột nhiên, chính ở đó, rõ như ban ngày: sự hiện hữu đột nhiên làm tỏ lộ chính nó.[7]

Có điều gì đó tương tự xảy ra khi người ta lặp lại tên của Chúa Giêsu vô số lần, biết hầu hết mọi sự về Ngài, và đã cử hành vô số Thánh Lễ rồi một ngày kia khám phá ra rằng Chúa Giêsu thì không phải là một ký ức mang tính phụng vụ và bí tích từ quá khứ. Tắt một lời, Ngài không phải là một nhân vật mà là một con người sống động và đang hiện hữu, ngay cả khi Ngài vô hình đối với đôi mắt. Đột nhiên, Đức Kitô được sinh ra ở nơi người ấy; một bước vọt lớn về lượng diễn ra trong mối quan hệ của người ấy với Đức Kitô đã diễn ra.

Đây là điều mà những người hoán cải lớn kinh nghiệm vào thời điểm mà trong đó – qua một cuộc gặp gỡ, một lời nói, một sự mạc khải từ trên cao – một ánh sáng tuyệt vời đột ngột được bật lên bên trong họ. Họ cũng cảm thấy “như ngừng thở” và đã thốt lên, “Cuối cùng thì Thiên Chúa cũng hiện hữu! Điều đó thật sự là thật!” Điều này đã xảy ra, chẳng hạn với Paul Claudel khi ông đi vào trong Nhà Thờ Đức Bà Paris vì tò mò vào ngày Giáng Sinh vào năm 1886. Nghe bài ca Magnificat được cất lên, ông đã “có một kinh nghiệm rúng động tâm hồn về sự vô tội, về tính trẻ thơ vĩnh cửu của Thiên Chúa”, và đã thốt lên, ‘Đúng, đúng thật, điều đó thật sự là thật! Thiên Chúa hiện hữu. Ngài ở đây. Ngài là một người, một cá vị giống như tôi đang là! Ngài yêu mến tôi. Ngài đang gọi tôi”. Sau đó ông đã viết về biến cố này, “Trong một khoảnh khắc tâm hồn tôi đã bị chạm vào và tôi đã tin”.[8]

Chúng ta hãy tiến thêm một bước nữa. Đức Kitô, như chúng ta đã thấy, không chỉ là trung tâm hay sức nặng trung tâm của lịch sử nhân loại, mà là Đấng, với sự ngự đến của Ngài, tạo ra một mốc “trước” và “sau” trong dòng thời gian; Ngài cũng là Đấng lấp đầy mọi khoảnh khắc của thời gian ấy. Ngài là “sự thành toàn”, pleroma (Cl 1:19) theo nghĩa năng động mà Ngài cũng lấp đầy lịch sử cứu độ bằng chính Ngài: trước hết như một hình tượng, rồi như biến cố, và giờ đây như bí tích.

Tất cả điều này có ý nghĩa gì khi được áp dụng cho cấp độ cá nhân? Nó có nghĩa là Đức Kitô cũng lấp đầy thời gian của tôi nữa. Chúng ta cần lấp đầy nhiều thời khắc của đời sống chúng ta bằng Chúa Giêsu càng nhiều càng có thể. Đó không phải là một kế hoạch bất khả thi. Đó không có nghĩa là nghĩ về Chúa Giêsu mọi lúc mà là “chú ý” đến sự hiện diện của Ngài, phó mặc bản thân chúng ta cho ý muốn của Ngài, nói với Ngài thật nhanh, “Con yêu mến Ngài!” mọi lúc mà chúng ta có cơ hội (hay đúng hơn là có động lực!) để hồi tâm lại chúng ta.

Ngành công nghệ hiện đại mang lại cho chúng ta một phép so sánh có thể giúp chúng ta hiểu tất cả điều này nghĩa là gì: kết nối với Internet. Khi tôi đi lại và ra khỏi thời nhà một thời gian dài, tôi đã kinh nghiệm được việc nỗ lực một thời gian dài để kết nói với Internet có nghĩa là gì, bất luận là sử dụng dây cáp hay không dây, và rồi cuối cùng, khi tôi đang muốn đầu hàng, đột ngột màn hình Google mang tính giải thoát xuất hiện trên màn hình của tôi. Trước đó tôi cảm thấy bị ngắt khỏi thế giới bên ngoài và không thể nhận e-mail, tìm kiếm thông tin, hay giao tiếp với người trong cộng đoàn của tôi, và giờ thì đột nhiên toàn bộ thế giới mở rộng trước mắt tôi. Tôi được kết nối.

Nhưng sự kết nối này là gì trong sự so sánh với điều xảy ra khi người ta được “kết nối” trong niềm tin với Đấng phục sinh và Chúa Giêsu đang sống? Trong trường hợp thứ nhất, thế giới nghèo nàn và bi đan của con người đang mở ra trước mắt tôi; trong trường hợp thứ hai thế giới của Thiên Chúa mở ra trước mắt bạn vì Đức Kitô là cửa; Ngài là đường dẫn vào Ba Ngôi và vào sự vô biên.

Sự suy tư về “Đức Kitô và Thời Gian” mà tôi đã nỗ lực để trình bày có thể mang lại một sự chữa lành nội tâm quan trọng đối với đại đa số chúng ta: một sự chữa lành khỏi sự hối tiếc không sinh hoa trái về “tuổi trẻ đầy phúc” đã mất của chúng ta, một sự giải thoát khỏi não trạng nặng nề ấy vốn dẫn chúng ta đến việc coi tuổi già chỉ là một sự mất mát và một căn bệnh nhưng cũng chẳng là một ân sủng. Trước Thiên Chúa thời gian đẹp nhất của đời sống không phải là thời gian vốn đầy trách nhiệm và hoạt động nhất mà còn là thời gian vốn đầy Đức Kitô nhất vì thời gian này đã thuộc về vĩnh cửu.

Năm tới sẽ coi giới trẻ là tâm điểm của sự chú ý của Giáo Hội với Thượng Hội Đồng về “Giới Trẻ, Niềm Tin, và Biện Phân Ơn Gọi” trong sự chuẩn bị cho Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới. Chúng ta hãy giúp các bạn ấy lấp đầy tuổi trẻ của họ bằng Đức Kitô, và chúng ta sẽ trao ban cho họ món quà tuyệt vời nhất.

Chúng ta sẽ kết thúc bằng việc nhắc lại cách mà biến cố của vĩnh cửu đi vào trong thời gian được loan báo một cách đơn giản nhưng tuyệt vời vào Thánh Lễ Đêm Giáng Sinh: Trong năm 42 ngự trị của Caesar Octavian Augustus, toàn thế giới được bình an, CHÚA GIÊSU KITÔ, Thiên Chúa vĩnh cửu và Chúa Con của Chúa Cha vĩnh cửu..., đã được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria tại Bethlehem vùng Judah, và đã làm người.

Quanh Lễ Giáng Sinh năm 1308, nói với những người con thiêng liêng của mình qui tụ quanh giường chết của mình, nhà thần bí vĩ đại Angela Foligno đã thốt lên, “Ngôi Lời đã thành xác phàm!” Và, sau một ngày trì hoãn, như thể đến từ một thế giới khác, bà nói thêm, “Ôi, mọi tạo vật đều khao khát! Ôi, sự thông tuệ của các thiên thần vẫn chưa đủ!” Họ hỏi bà: “Các tạo vật khao khát thế nào, vì điều gì mà sự thông tuệ của các thiên thần chưa đủ?” Bà trả lời: “Để hiểu!”[9] Và bà đã đúng.

Thưa Đức Thánh Cha, Các Cha Đáng Kính, anh chị em thân mến, Chúc Mừng Giáng Sinh tất cả quí vị!

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Vatican News)

[1] See the updated Roman Martyrology on the USCCB website.

[2] Oscar Cullman, Christ and Time: The Primitive Christian Conception of Time and History, trans. Floyd V. Filson (London: SCM Press, 1951), 32ff. 

[3] See James D. G. Dunn, A New Perspective on Jesus (Grand Rapids: Baker, 2005).

[4] A phrase and concept attributed to Søren Kierkegaard, Training in Christianity, trans. Walter Lowrie (New York: Oxford University Press, 1941), 139: “the infinite qualitative difference between God and man.”

[5] “The Paschal Homily of the Year 387,” SCh 36, 59f.

[6] See Origen, Homilies on Luke, 22, 3, trans. Joseph T. Lienhard (Washington, DC: the Catholic University Press of America, 1996), 94: “For what profit is it to you, if Christ came once in the flesh, unless he also comes into your soul?”; see also SCh 87, 302. Angelus Silesius (The Cherubic Pilgrim 1, 6, 1) has expressed this thought in two bold verses: “If Christ were born a thousand times in Bethlehem / But not in you, you would still be lost forever” (“Wird Christus tausendmal zu Bethlehem geborn / und nicht in dir: du bleibst noch ewiglich verlorn”).

[7] Jean-Paul Sartre, Nausea, trans. Lloyd Alexander (1938; New York: New Directions, 2007), 126-127.

[8] Paul Claudel, “Ma Conversion,” Œuvres en Prose (Paris: Gallimard, 1965), 1009-1010.

[9] Angela of Foligno, Complete Works, trans. with intro. Paul Lachance, O. F. M. (New York: Paulist Press, 1993), 313.