Skip to main content
Cha Cantalamessa - Giảng Thuyết Của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Tĩnh Tâm Tuần I Mùa Chay 2017

Chúa Thánh Thần Dẫn Chúng Ta Đi Vào Mầu Nhiệm Quyền Làm Chúa Của Đức Kitô

1. “Người sẽ làm chứng về Ta”

Một điều gây ấn tượng tôi khi đọc lời nguyện mở đầu Thánh Lễ Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Chay năm nay. Chúng ta không cầu xin để Thiên Chúa là Cha sẽ ban cho chúng ta sức mạnh để chu toàn một trong những công việc cổ điển của Mùa Chay: ăn chay, cầu nguyện và làm việc bác ái; thay vào đó chúng ta xin “để triển nở trong sự nhận biết mầu nhiệm về Đức Kitô”. Tôi tin rằng điều này thật sự là công việc quan trọng nhất và xứng đáng được chấp nhận nhất trong mắt Thiên Chúa, và chính vì cùng đích này mà những bài suy niệm Mùa Chay của tôi muốn góp phần vào.

Tiếp theo suy tư đa được khởi đi từ Mùa Vọng về Thần Khí là Đấng sẽ làm sống động toàn bộ đời sống và việc loan báo của Giáo Hội (“Thần Học về Ngôi Thứ Ba”!), trong những bài suy niệm Mùa Chay này tôi có ý chuyển từ ngôi thứ ba sang ngôi thứ hai của kinh tin kính. Nói cách khác, chúng ta sẽ nỗ lực để nhấn mạnh cách mà Chúa Thánh Thần “dẫn chúng ta đi vào sự thật toàn vẹn” về Đức Kitô và mầu nhiệm vượt qua của Ngài, đó là, về sự hiện hữu và công việc của Đấng Cứu Thế. Tập trung vào công việc của Đức Kitô chúng ta sẽ, trong khi đi cùng với mùa phụng vụ là Mùa Chay, đào sâu vào vai trò mà Chúa Thánh Thần thực hiện trong cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô và trong cái chết và sự phục sinh của chính bản thân chúng ta.

Trong phần thứ hai của kinh tin kính, trong công thức hoàn chỉnh của kinh này, sẽ như sau:

Tôi tin kính Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa,

Con Một Thiên Chúa,

Sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời.

Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng,

Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật,

Được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha;

Nhờ Người mà muôn vật được tạo thành.

Phần trọng tâm này của kinh tin kính phản ánh hai giai đoạn khác nhau của đức tin. Đoạn “Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô”, phản ánh niềm tin xa xưa nhất của Giáo Hội ngay sau Lễ Phục Sinh. Điều diễn ra tiếp theo trong kinh tin kính, “sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời...”, phản ánh một giai đoạn sau này, tiến bộ hơn, kết quả của cuộc tranh cãi Arian và Công Đồng Nicea vào năm 325. Chúng ta hãy dành phần suy niệm hiện tại cho phần đầu của đoạn này, “Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô”, và hãy xem Kinh Thánh Tân Ước nói cho chúng ta điều gì về Thần Khí là tác giả của sự hiểu biết thật về Đức Kitô.

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Tĩnh Tâm Tuần II Mùa Chay 2017

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Tĩnh Tâm Tuần III Mùa Chay 2017

Thánh Phaolô khẳng định rằng Đức Giêsu Kitô được thể hiện là “Con Thiên Chúa nhờ Thánh Thần” (Rm 1:4), có nghĩa là, theo hoạt động của Chúa Thánh Thần. Thánh Phaolô đi đến chỗ tuyên bố rằng “không ai có thể nói rằng: ‘Ðức Giêsu là Chúa’, nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1 Cr 12:3), nhờ vào sự mạc khải nội tâm của Ngài. Ngài xác định Chúa Thánh Thần là Đấng “có sự am hiểu về mầu nhiệm Đức Kitô” đã được dành cho Ngài và cũng được “mạc khải cho các Thánh Tông Đồ và các ngôn sứ của Ngài” (Ep 3:4-5). Thánh Phaolô nói rằng, “được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Người”, mọi người tín hữu có thể “nhận biết tình thương của Ðức Kitô, là tình thương vượt quá sự hiểu biết” (Ep 3:16, 19).

Trong Tin Mừng Gioan, chính Chúa Giêsu loan báo công việc này của Đấng Bảo Trợ theo nghĩa này. Chúa Thánh Thần sẽ nhận lấy điều gì là của Ngài và sẽ loan báo cho các môn đệ; Thần Khí sẽ nhắc nhớ họ về tất cả mọi điều Chúa Giêsu nói; Ngài sẽ dẫn họ đến sự tật toàn vẹn về mối quan hệ của Chúa Giêsu với Chúa Cha và sẽ làm chứng về Ngài (x. Ga 16:7-15). Từ điểm này trở đi, tiêu chí cụ thể để nhận biết liệu có điều gì đó xuất phát từ Thần Khí của Thiên Chúa hay từ thần khí nào khác sẽ là người ta có được dẫn đến sự hiểu biết rằng Chúa Giêsu đã đến trong xác phàm hay không (x. 1 Ga 4:2-3).

Một số người cho rằng sự nhấn mạnh hiện tại về Chúa Thánh Thần có thể phủ bóng trên công việc của Đức Kitô gần như thể là công việc ấy chưa hoàn tất hoặc bất toàn. Đây là sự hiểu lầm hoàn toàn. Thần Khí không bao giờ nói, “Tôi”; Ngài không bao giờ nói theo ngôi thứ nhất; Ngài luôn chỉ về Đức Kitô; Ngài không tuyên bố thiết lập công việc của riêng Ngài mà luôn hướng chính Ngài về Đức Kitô và dẫn người tin đến với Đức Kitô. Đức Kitô là Đường, Sự Thật và là Sự Sống; Thần Khí là Đấng giúp chúng ta hiểu tất cả điều này!

Sự ngự đến của Chúa Thánh Thần trong Lễ Hiện Xuống tạo ra kết quả trong một sự soi sáng đột ngột toàn bộ công trình và con người của Đức Kitô. Thánh Phêrô kết thúc bài diễn từ trong Lễ Hiện Xuống của Ngài bằng một lời tuyên bố long trọng, điều mà ngày nay có thể gọi là “urbi et orbi”: "Vậy toàn thể nhà Ítraen phải biết chắc điều này: Ðức Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Ðức Chúa [Kyrios] và làm Ðấng Kitô" (Cv 2:36). Từ ngày ấy trở đi, cộng đồng sơ khai bắt đầu nhìn vào cuộc đời của Chúa Giêsu, cái chết của Ngài, và sự phục sinh theo một cách khác; mọi thứ dường như rõ ràng vào lúc này, như thể một bức màn đã được vén ra khỏi mắt họ (x. 2 Cr 3:16). Mặc dù họ đã sống cạnh Ngài, nhưng không có Thần Khí nên họ không thể đi vào trong chiều sâu của mầu nhiệm của Ngài.

Ngày nay một sự nối lại đang diễn ra giữa nền thần học Chính Thống Giáo và Công Giáo về chủ đề này về các mối quan hệ giữa Đức Kitô và Thần Khí. Tại một cuộc hội thảo tại Bologna vào năm 1980, thần học gia John D. Zizioulas đã thể hiện những dè chừng, một mặt, về chiều kích giáo hội của Công Đồng Vatican II vì, theo ông, “Chúa Thánh Thần được đưa vào trong chiều kích giáo hội sau một hệ thống phức tạp về niềm tin của Giáo Hội đã được thiết lập hoàn toàn dựa trên nền tảng Kitô Học”; mặt khác, ông nhìn nhận rằng nền thần học Chính Thống Giáo cũng cần phải nghĩ lại về mối quan hệ giữa Kitô Học và Thánh Linh Học để tránh xây dựng một giáo hội chỉ dựa trên thánh linh học mà thôi.[1] Nói cách khác, chúng ta Giáo Hội Latinh được mời gọi để đào sâu sự hiểu biết của chúng ta về vai trò của Chúa Thánh Thần trong đời sống của Giáo Hội (điều vốn đã diễn ra sau Công Đồng Vatican II) trong khi anh em Chính Thống lại được mời gọi để đào sâu sự hiểu biết của họ về vai trò của Đức Kitô và, sau cùng, về sự hiện diện của Giáo Hội trong lịch sử.

2. Sự Hiểu Biết Khách Thể và Chủ Thể về Đức Kitô

Do đó, chúng ta hãy hướng đến vai trò của Chúa Thánh Thần với sự xét đến sự hiểu biết về Đức Kitô. Trong Kinh Thánh Tân Ước, hai loại hiểu biết về Đức Kitô đã được đưa ra, hoặc hai lãnh vực mà trong đó Thần Khí hoạt động. Có một sự hiểu biết khách thể về Đức Kitô – về sự hiện hữu của Ngài, mầu nhiệm của Ngài, con người của Ngài – và có một sự hiểu biết chủ thể hơn, thực tế hơn và nội tại hơn vốn nhằm để biết điều mà Chúa Giêsu “làm cho tôi” hơn là điều mà Ngài “là ở nơi chính Ngài”.

Ở nơi Phaolô điều chiếm ưu thế là một lợi ích trong việc hiểu điều Đức Kitô thực hiện cho chúng ta, ở điều mà Đức Kitô đã đạt được, và đặc biệt là trong mầu nhiệm vượt qua của Ngài; thay vào đó ở nơi Gioan điều chiếm ưu thế là một lợi ích trong việc hiểu Đức Kitô là ai ở nơi chính Ngài: Ngôi Lời vĩnh cửu đã ở cùng Thiên Chúa và trở thành xác phàm, Đấng đã nói, “Ta và Cha là một” (Ga 10:30). Nhưng chỉ những phát triển sau này thì hai xu hướng này mới trở nên rõ ràng. Tôi ghi nhận những điều này một cách vắn gọn vì điều này sẽ giúp chúng ta hiểu ơn ban của Chúa Thánh Thần đang ban cho Giáo Hội ngày hôm nay về vấn đề này.

Trong thời giáo phụ, Chúa Thánh Thần trước hết xuất hiện như là một Đấng đảm bảo của truyền thống tông đồ có liên quan đến Chúa Giêsu để chống lại những giáo thuyết mới được Tin Mừng Nhất Lãm mang lại. Thánh I-rê-nê khẳng định rằng Thần Khí là quà tặng mà Thiên Chúa uỷ thác cho Giáo Hội; những người tự tách bản thân họ bằng giáo thuyết sai lầm khỏi sự thật được Giáo Hội loan báo thì không phải là những người thông phần của Ngài.[2] Tertullian thì cho rằng các giáo hội tông đồ không thể đã phạm sai lỗi trong việc giảng về sự thật của họ. Bằng không thì suy nghĩ sẽ xác định rằng Chúa Thánh Thần, “Đấng Quản Gia của Thiên Chúa, thầy cả của Đức Kitô”, là Đấng đã được Đức Kitô sai đi và được Chúa Cha kêu gọi để trở thành thầy dạy về sự thật, có lẽ sẽ “phớt lờ đi vai trò của Ngài”[3]

Trong suốt thời kỳ có những tranh cãi giáo lý lớn, Chúa Thánh Thần được coi là người quản gia của chính thống Kitô học. Trong các công đồng, Giáo Hội đã có một sự chắc chắn vững vàng về việc được Thần Khí “thúc đẩy” trong việc thiết lập công thức sự thật về hai bản tính của Đức Kitô, sự hiệp nhất ngôi vị của Ngài, và sự trọn vẹn về nhân tính của Ngài. Do đó sự nhấn mạnh rõ ràng là về sự hiểu biết mang tính khách thể, giáo lý và giáo hội về Đức Kitô.

Khuynh hướng này vẫn còn chiếm ưu thế trong thần học cho đến Thời Cải Cách. Tuy nhiên, bằng một sự khác biệt. Giáo lý, cùng với công thức của chúng, là những vấn đề thiết yếu và là kết quả của sự dự phần sống động của toàn thể Giáo Hội, nhưng một khi đã được thánh hoá và được trao ban, thì chúng có xu hướng mất đi sự hăng say của chúng và trở nên trang trọng. “Hai bản tính nơi một con người” đã trở thành một công thức thực hiện sẵn hơn là một điểm đến của một tiến trình dài và gian khó. Trong suốt thời gian này có những kinh nghiệm chắc chắn là tuyệt vời của sự hiểu biết gần gũi, cá nhân về Đức Kitô vốn đầy tràn sự tôn kính nhiệt thành đối với Ngài như sự tôn kính của Thánh Bernard hay Phanxicô Assisi. Nhưng những kinh nghiệm này không có nhiều ảnh hưởng trên thần học. Những kinh nghiệm như thế ngày nay vẫn được đề cập trong lịch sử của linh đạo chứ không phải trong lịch sử của thần học.

Những nhà cải cách Tin Lành đảo ngược lại tình hình và nói, “Biết Đức Kitô là biết về những lợi ích của Ngài chứ không phải...để suy tư về những bản tính của Người và các mô thức Nhập Thể của Ngài”.[4] Đức Kitô “đối với tôi” nhảy vọt lên vị trí ưu tiên. Một sự hiểu biết chủ thể, gần gũi được đặt vào trong sự tương phản với sự hiểu biết mang tính khách thể và giáo lý; một “chứng nhân nội tại” từ Chúa Thánh Thần về Chúa Giêsu trong tâm hồn của mọi người tín hữu được đặt vào trong sự tương phải với việc làm chứng bề ngoài của Giáo Hội về Chúa Giêsu. Khi sự sáng tạo mang tính thần học này trong Đạo Tin Lành chính thức cũng có xu hướng được biến đổi sau đó trong “nền chính thống đã chết”, thì những phong trào mang tính giai đoạn, giống như Phong Trào Nhiệt Thành trong các nhóm Luther và Chủ Thuyết Phương Pháp trong các nhóm Anh Giáo, lại xuất hiện để đưa nó sống trở lại. Chóp đỉnh của sự hiểu biết về Đức Kitô đồng thời diễn ra trong các phong trào này với một thời khắc mà trong đó những người tin, được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, trở nên nhận biết rằng Chúa Giêsu đã chết “vì họ”, vì mỗi người trong số họ cách riêng, và họ nhận biết Ngài là Đấng Cứu Độ cá nhân của họ:

Rồi bằng tâm hồn mà con tin trước hết,

Tin bằng niềm tin thánh,

Sức mạnh mà Chúa Thánh Thần lãnh nhận

Để gọi Đấng Cứu Độ là của con.

Con cảm nhận được máu cứu chuộc của Chúa

Gần gũi với linh hồn con.[5]

Chúng ta hãy kết thúc cái nhìn vắn gọn vào lịch sử bằng việc nhấn mạnh giai đoạn thứ ba theo cách nhìn về mối quan hệ giữa Thần Khí và sự hiểu biết về Đức Kitô, một mối quan hệ vốn là nét đặc thù của nhiều thế kỷ Khai Sáng mà chúng ta là những người thừa hưởng trực tiếp. Một sự hiểu biết khách thể, tách biệt giờ đây trở lại thịnh hành, nhưng nó không còn là một kiểu hiểu biết mang tính bản thể nữa, như nó đã từng là trong kỷ nguyên xưa, mà theo kiểu mang tính lịch sử. Nói cách khác, lợi ích không phải là ở việc biết Đức Giêsu Kitô là ai ở nơi chính bản thân Ngài (giai đoạn tiền hiện hữu của Ngài, bản tính của Ngài, con người của Ngài) mà là Ngài là ai trong lịch sử. Đó là một thời đại tìm kiếm điều có ý nghĩa gọi là “Chúa Giêsu lịch sử”!

Trong giai đoạn này Chúa Thánh Thần không còn đóng một vai trò trong sự hiểu biết về Đức Kitô nữa; Ngài hoàn toàn vắng bóng khỏi sự hiểu biết này. “Nhân chứng” nội tâm của Chúa Thánh Thần giờ đây trở thành đồng hoá với lý luận và tinh thần của con người. “Chứng tá bên ngoài” là điều chính, nhưng điều này không còn có nghĩa là một chứng tá tông đồ của Giáo Hội nữa mà chỉ là của lịch sử, được làm cho chắc chắn bằng nhiều phương pháp chính khác nhau. Sự giả định chung về nỗ lực này là việc tìm kiếm một Chúa Giêsu thật sự, người ta cần nhìn ra bên ngoài Giáo Hội, giải thoát mình “khỏi những vỏ bọc của giáo huấn của giáo hội”.[6]

Chúng ta biết kết quả của tất cả sự tìm kiếm Chúa Giêsu lịch sử này là gì: một sự thất bại, ngăn cả khi điều này không có nghĩa là nó không có nhiều hoa trái tích cực. Tuy nhiên, trên bình diện này, thì vẫn còn có một sự xáo trộn ở dưới đáy. Đức Giêsu Kitô – và sau Ngài là vị khác như Thánh Phanxicô Assisi – không chỉ đơn giản là sống trong lịch sử mà còn tạo nên một lịch sử và giờ đây đang sống trong lịch sử mà các Ngài tạo nên, giống như một âm thanh sống trong tần sóng mà nó tạo ra. Sự nỗ lực khủng khiếp của các sử gia duy lý dường như là để tách Đức Kitô ra khỏi lịch sử mà Ngài đã tạo nên để khôi phục Ngài về với một nền lịch sử hoàn vũ chung, như thể là người ta sẽ tiếp nhận một âm thanh tốt hơn trong sự đúng đắn của nó bằng việc tách nó ra khỏi làn sóng mang theo nó. Lịch sử mà Chúa Giêsu đã tạo ra, hay làn sóng mà Ngài đã gửi đi, là niềm tin của Giáo Hội được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, và chỉ qua niềm tin ấy mà người ta mới có thể biết được nguồn của nó.

Tính hợp pháp của việc tìm kiếm lịch sử bình thường về Đức Kitô thì không bị loại trừ bởi tất cả điều này, mà sự tìm kiếm này phải biết rõ hơn về những giới hạn của nó và nhận biết rằng việc ấy không làm cạn kiệt tất cả mọi điều có thể được biết về Ngài. Giống như một hành động cao cả nhất của lý luận là để nhận biết rằng “có một sự khiếm khuyết trong mọi sự vốn vượt ra khỏi lý luận”,[7] thì cũng thế hành vi chân thật nhất của một sử gia là nhận biết rằng đang tồn tại một điều mà một mình lịch sử mà thôi không thể được chạm tới được.

3. Sự Hiểu Biết Cao Siêu về Đức Kitô

Ở phần cuối của tác phẩm cổ điển về lịch sử diễn giải Kitô Giáo, Henri de Lubac đã đạt được một kết luận khá là bi quan. Ngài nói rằng những điều kiện nhất định đã thiếu để chúng ta là những người hiện đại có thể làm sống lại việc tinh thần đọc giống như tinh thần của các Giáo Phụ. Điều mà chúng ta thiếu là một niềm tin nhiệt thành, cảm thức tròn đầy và hiệp nhất ấy Kinh Thánh mà các vị ấy có. Lòng khao khát để noi theo sự can đảm của các vị trong việc đọc Kinh Thánh ngày nay có lẽ là sự phản lại nguy hiểm vì chúng ta thiếu tinh thần mà những việc đọc như thế gợi lên.[8] Tuy nhiên, Ngài đã không hoàn toàn đóng lại cánh cửa đối với niềm hy vọng; trong một tác phẩm khác Ngài nói rằng “Nếu chúng ta khao khát tìm kiếm một thứ thuộc về điều vốn là một sự giải thích thiêng liêng về Kinh Thánh trong những thế kỷ đầu của Giáo Hội,...thì trước hết đó là một động thái tinh thần mà chúng ta phải tái tạo lại”.[9]

Điều mà de Lubac đã nhấn mạnh khi nói đến sự hiểu biết thiêng liêng về Kinh Thánh có thể được áp dụng nhiều hơn nữa cho sự hiểu biết thiêng liêng về Đức Kitô. Thật chưa đủ để viết những bài luận mới và cập nhật hơn nữa về thánh linh học. Nếu chúng ta thiếu những nền tảng về một kinh nghiệm sống động về Chúa Thánh Thần, tương tự như nền tảng đã đồng hành với việc xây dựng đầu tiên về nền thần học về Chúa Thánh Thần vào thế kỷ thứ 4, thì bất cứ điều gì được nói sẽ luôn ở bên ngoài đối với vấn đề thực. Chúng ta có lẽ thiếu những điều kiện cần thiết để nâng chúng ta lên mức độ mà Đấng Bảo Trợ đang hoạt động: lòng nhiệt thành, sự can đảm, và “sự say xưa điều độ của tinh thần” về điều mà hâu hết các đại tác giả của thế kỷ ấy đã nói đến. Chúng ta không thể trình bày một Đức Kitô trong sự xức dầu của Thần Khí nếu chúng ta không sống, một cách nào đó, trong cùng một sự xức dầu ấy.

Sự sáng tạo lớn lao mà Cha de Lubac hy vọng hiện nay đang diễn ra. Trong thế kỷ qua đã xuất hiện một “phong trào tinh thần”, vốn đang liên tục phát triển, phong trào ấy đã tạo nên nền tảng cho sự canh tân về thánh linh học vốn đang bắt đầu từ một kinh nghiệp về Thần Khí và các đặc sủng của Ngài. Tôi đang nói về hiện tượng Hiện Xuống và Đặc Sủng. Trong 6 năm đầu tiên của hiện tượng, phong trào này – đã được sinh ra trong sự phản ứng đối với một khuynh hướng tự do và lý luận về thần học, như Chủ Thuyết Đạo Đức (Pietism) và Chủ Thuyết Giám Lý (Methodism) đã được đề cập ở trên – đã phớt lờ cách tinh tế thần học và sau đó đã bị phớt lờ (và thậm chí là ngớ ngẩn!) bởi nền thần học học thuật.

Tuy nhiên, vào khoảng giữa thế kỷ trước thì phong trào ấy đã thâm nhập vào các giáo hội truyền thống trong một cuộc tuần hành của một hệ thống thần học lớn lao và nhận được sự đón tiếp căn bản từ những bậc thẩm quyền, thì nền thần học không còn có thể phớt lờ nó nữa. Trong một cuốn sách có tựa là Erfahrung und Theologie des Heiligen Geistes [Kinh Nghiệm và Nền Thần Học về Chúa Thánh Thần], các nhà thần học lừng danh nhất thời nay, Công Giáo và Tin Lành, đã xem xét lại tầm quan trọng của hiện tượng Hiện Xuống và đặc sủng đối với việc đổi mới giáo lý về Chúa Thánh Thần.[10]

Điều làm cho chúng ta hứng khởi trong tất cả điều này đối với điểm này chỉ là những quan tâm về sự hiểu biết về Đức Kitô. Tại sao việc hiểu về Đức Kitô lại xuất hiện trong một bầu khí tinh thần và thần học mới như thế? Sự thật có ý nghĩa nhất không phải là sự khám phá những của cách tiếp cận mới và những phương pháp mới sau những xu thế mới nhất trong triết học (chủ thuyết cấu trúc, phân tích ngôn ngữ, v.v) mà là việc tái khám phá lại một sự thật kinh thánh nền tảng: Đức Giêsu Kitô là Chúa! Quyền làm chúa của Đức Kitô là một thế giới mới vốn có thể vào được chỉ bởi “hoạt động của Chúa Thánh Thần”.

Thánh Phaolô nói về một sự hiểu biết “cao hơn” hay thậm chí “cao siêu” về Đức Kitô vốn hệ tại ở việc biết Ngài và loan báo về Ngài một cách cụ thể là “Chúa” (x. Pl 3:8). Đây là một việc loan báo, được đồng hành bởi một niềm tin vào sự phục sinh của Đức Kitô, sẽ có thể tạo nên một con người “được cứu độ”: “Nếu miệng bạn tuyên xưng Ðức Giêsu là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ” (Rm 10:9). Sự hiểu biết này chỉ được làm cho khả thể bởi Chúa Thánh Thần: “Không ai có thể nói rằng: ‘Ðức Giêsu là Chúa’, nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1 Cr 12:3). Bất cứ ai có thể, lẽ tất nhiên, chỉ dùng miệng mà nói những lời này mà không có Thần Khí, nhưng điều đó không dẫn đến một biến cố tuyệt vời mà chúng ta vừa nói đến; việc ấy sẽ không cứu một con người.

Điều gì quá đặc biệt về sự xác quyết này mà lại làm cho nó trở nên có tính quyết định quá như vậy? Điều đó có thể được giải thích từ những quan điểm khác nhau vốn mang tính khách quan hoặc chủ quan. Sức mạnh khách thể của lời tuyên bố này, “Đức Giêsu là Chúa”, là sức mạnh tạo nên lịch sử, và đặc biệt là mầu nhiệm vượt qua, hiện tại. Đó là kết luận có được từ hai biến cố: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi của chúng ta; Ngài đã được phục sinh vì sự công chính của chúng ta; do đó, Ngài là Chúa. “Vì Ðức Kitô đã chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết” (Rm 14:9). Những biến cố dẫn đến điều này được chứa đựng trong kết luận này và trở nên hiện tại và hoạt động trong đó. Trong trường hợp này lời nói thật sự là “nhà của Sự Hiện Hữu”[11] Việc loan báo “Đức Giêsu là Chúa” là hạt giống mà từ đó toàn bộ việc truyền giáo và việc loan báo Kitô Giáo sau đó phát triển.

Từ quan điểm chủ quan, hoặc điều thuộc về chúng ta, sức mạnh của việc loan báo này là sự thật cũng đi kèm theo một quyết định. Bất cứ ai loan báo, là đang quyết định định hướng của đời mình. Điều đó như thể là một người nói, “Ngài là Chúa của con; con dâng hiến bản thân con cho Ngài, và con nhìn nhận cách tự do Ngài là Đấng cứu độ của con, chủ của con, thầy của con, Đấng có toàn quyền trên đời con. Con thuộc về Ngài hơn là con thuộc về chính con vì Ngài đã chuộc con bằng một cái giá đắt” (x. 1 Cr 6:19-20).

Quyết định vốn rõ ràng trong việc loan báo về Chúa Giêsu là “Chúa” mặc lấy một sự thích hợp mới ngày nay. Một số người tin rằng điều đó là khả thể, và thậm chí là cần thiết, để đặt sang một bên sự xác quyết về tính độc nhất của Đức Kitô để cổ võ công cuộc đối thoại liên tôn. Tuy nhiên, việc loan báo Chúa Giêsu là “Chúa” một cách rõ ràng có nghĩa là loan báo về tính độc nhất của Ngài. Điều đó không phải là không có lý do mà đoạn kinh tin kính buộc chúng ta phải tuyên xưng, “Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô”, Thánh Phaolô viết,

Thật thế, mặc dầu người ta cho là có những thần ở trên trời hay dưới đất, quả thực, thần cũng lắm mà chúa cũng nhiều, nhưng đối với chúng ta, chỉ có một Thiên Chúa là Cha, Ðấng tạo thành vạn vật và là cùng đích của chúng ta; và cũng chỉ có một Chúa là Ðức Giêsu Kitô, nhờ Người mà vạn vật được tạo thành, và nhờ Người mà chúng ta được hiện hữu (1 Cr 8:5-6).

Thánh Tông Đồ viết những lời này vào thời điểm mà niềm tin Kitô Giáo, còn nhỏ và mới được sinh ra, đang đối diện với một thế giới bị thống trị bởi những niềm tin và tôn giáo quyền thế và có uy tín. Sự can đảm cần thiết cho ngày nay để tin rằng Chúa Giêsu là “Chúa duy nhất” không là gì so với lòng can đảm mà hồi đó người ta cần. Nhưng “sức mạnh của Thần Khí” không được ban trừ người loan báo Chúa Giêsu là Chúa trong ý nghĩa nguyên gốc mạnh mẽ của nó. Đó là một sự thật của kinh nghiệm. Chỉ sau khi một thần học gia hay một nhà giảng thuyết đã quyết định đánh cược mọi sự về Đức Giêsu Kitô, “Thiên Chúa duy nhất” – ngay cả bằng cái giá của việc bị “loại trừ ra khỏi hội đường” – chỉ khi đó thì người ta mới kinh nghiệm được sự chắc chắn và sức mạnh trong đời sống của mình.

4. Từ “Nhân Vị” Giêsu đến “Con Người” Giêsu

Sự khám phá soi sáng này về Đức Chúa Giêsu là Chúa là, như tôi đã nói, sự sáng tạo và ân sủng mà Thiên Chúa đang ban tặng trong thời đại của chúng ta cho Giáo Hội của Người. Tôi nhận thấy rằng khi tôi đặt vấn đề về Truyền Thống trong mối liên hệ đến tất cả các chủ đề và các lời của Kinh Thánh, chứng tá của các Giáo Phụ sẽ xuất hiện đầy trong tư tưởng của tôi. Nhưng khi tôi nỗ lực để đặt vấn đề về nó trong thời điểm này, thì Truyền Thống vẫn hoàn toàn im lặng. Rõ ràng trong thế kỷ thứ 3, tước hiệu “Chúa” vẫn chưa được hiểu theo ý nghĩa truyền giáo của nó. Bên ngoài các nhóm tôn giáo Do Thái, ý nghĩa của từ ấy vẫn chưa đủ để diễn tả tính độc nhất của Đức Kitô. Origen, chẳng hạn, suy xét từ “Chúa” (Kyrios) là một tước hiệu được dùng bởi người vẫn ở trong giai đoạn sợ hãi; mối quan hệ Chúa – tôi là sợ hãi so với mối quan hệ Thầy – môn đệ.[12]

Dĩ nhiên, người ta vẫn tiếp tục nói về “Chúa” Giêsu, nhưng từ ấy trở thành một danh xưng đối với Đức Kitô như những danh xưng kháce, và thường là đó là một trong những bộ phận cấu thành của danh xưng hoàn chỉnh của Đức Kitô, và nói một cách kh1c, “Đức Giêsu Kitô là Chúa!” Một dấu chỉ của sự thay đổi này là cách mà bản văn Phi-líp-phê 2:11 được chuyển ngữ theo ngôn ngữ Vulgate: “Omnis lingua confiteatur quia Dominus noster Iesus Christus in gloria est Dei Patris,” “và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: ‘Ðức Giêsu Kitô là Chúa’”. Đó là một đàng khi nói, “Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta đang ở trong vinh quang của Thiên Chúa là Cha” và một đàng khác sẽ nói, “Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta để tôn vinh Thiên Chúa là Cha”. Trong phần nói cách thứ hai, đó là điều mà các bản dịch hiện đang nói, đó không chỉ là một danh xưng được thốt lên mà là một sự tuyên xưng niềm tin đang được loan báo.

Trong tất cả điều này thì đâu là bước nhảy vọt về chất mà Chúa Thánh Thần dẫn chúng ta đến việc thực hiện trong sự hiểu biết về Đức Kitô? Chính là trong sự thật là việc loan báo về Đức Giêsu là Chúa là cửa ngõ dẫn chúng ta vào sự hiểu biết về Đức Kitô phục sinh và hằng sống! Đức Kitô không còn là một nhân vị nữa mà là một con người; Ngài không còn là một mớ những ý niệm, giáo lý (và những lý thuyết dị giáo tương ứng nữa); Ngài không còn là một hình tượng thuần tuý để thờ phượng và nhớ đến nữa mà là một con người sống động luôn luôn hiện diện trong Thần Khí.

Sự hiểu biết mang tính tinh thần và hiện sinh này về Đức Giêsu là Chúa không dẫn đến việc phớt lờ đi sự hiểu biết mang tính khách thể, giáo lý và giáo hội về Đức Kitô mà thay vào đó làm sống lại sự hiểu biết ấy. “Bởi Thần Khí của Thiên Chúa”, Thánh I-rê-nê nói, sự thật được mạc khải, “đổi mới sức trẻ của sự thật ấy, như thể đó là một sự đặt trước quí giá trong một chiếc bình tuyệt hảo, làm cho chính bản thân chiếc bình chứa đựng sự thật ấy cũng canh tân chính sức trẻ của nó nữa”.[13] Chúng ta sẽ dành bài suy niệm tiếp theo của chúng ta, nếu Thiên Chúa muốn, cho một trong những sự thật này, giáo lý tạo nên phần thứ hai của đoạn ấy của kinh tin kính: “được sinh ra, mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha”.

Tôi không biết một sự phân giải thực tế tốt hơn mà chúng ta có thể thực hiện vào cuối những bài suy tư này hơn là điều chúng ta đọc được ngay khởi đầu của Tông Huấn Evangelii Gaudium của Đức Giáo Hoàng Phanxicô:

Tôi mời gọi tất cả mọi người Kitô Hữu, ở mọi nơi, vào thời khắc quan trọng này, đến với một cuộc gặp gỡ đổi mới với Chúa Giêsu Kitô, hoặc ít nhất là một sự mở ra để cho Ngài gặp gỡ họ; Tôi kêu gọi tất cả các bạn hãy thực hiện điều này liên lỉ mỗi ngày. Đừng ai nghĩ rằng lời mời gọi này không có ý dành cho bản thân mình. (Số 3)

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ ZENIT)

___________________________

[1] See John D. Zizioulas, “Cristologia, pneumatologia e istituzioni ecclesiastiche: un punto di vista ortodosso,” in Cristianesimo nella storia, 2 (1981): pp. 111-127.

[2] St. Irenaeus of Lyons, Against Heresies, 3, 24, 1-2, eds. Alexander Roberts et al. (South Bend, IN: Ex Fontibus, 2012), p. 356.

[3] Tertullian, Prescription against Heretics, 28, 1 (Pickerington, OH: Beloved Publishing, 2015), p. 35; see also CC 1, p. 209.

[4] Philip Melanchthon, The Loci communes [1521], trans. Charles Hill (Boston: Meador, 1944), p. 69; see also Corpus Reformatorum, ed. Henricus Ernestus Bindseil (Brunsvigae: C. A. Schwetschke, 1854), p. 85.

[5] Charles Wesley, hymn, “Glory to God and Praise and Love,” in The United Methodist Hymnal, #58.

[6] See Albert Schweizer, The Quest of the Historical Jesus, trans. William Montgomery (Mineola, NY: Dover, 2005), p. 397.

[7] Blaise Pascal, Pensées, trans. A. J. Krailsheimer (New York: Penguin Classics, 1995), p. 54; #267, Brunschvicg edition.

[8] Henri de Lubac, Medieval Exegesis: The Four Senses of Scripture, vol. 2, trans. E. M. Macierowski (Grand Rapids: Eerdmans, 2000), p. 63.

[9] Henri de Lubac, History and the Spirit: The Understanding of Scripture According to Origen (San Francisco: Ignatius Press, 2007), p. 450.

[10] See Claus Heitmann and Heribert Mühlen, eds., Erfahrung und Theologie des Heiligen Geistes (Munich: Kösel, 1974); see also Yves Congar, I Believe in the Holy Spirit, Part 2, trans. Geoffrey Chapman (New York: Crossroad Publishing, 1983), pp. 151ff; Jürgen Moltmann, The Spirit of Life, trans. Margaret Kohl (Minneapolis: Augsburg Fortress, 1992); Michael Welker, God the Spirit, trans. John F. Hoffmeyer (Eugene, OR: Wipf and Stock, 2013), p. 7ff.

[11] A famous formulation by the philosopher Martin Heidegger in his “Letter on Humanism,” in Martin Heidegger: Basic Writings, ed. David Farrell Krell (New York: HarperCollins, 2008), p. 217.

[12] See Origen, Commentary on the Gospel According to John 1, 201-203, trans. Ronald Heine, vol. 80, The Fathers of the Church (Washington, DC: Catholic University of America Press, 1989), p. 74; SCh 120, p. 158.

[13] St. Irenaeus of Lyons, Against Heresies, 3, 24, 1, p. 355.