Skip to main content
Cha Raniero Cantalamessa, Vị Giảng Thuyết Phủ Giáo Hoàng (OSS_ROM)

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Tĩnh Tâm Tuần II Mùa Chay 2018

“BÁC ÁI CHÂN THÀNH"

Bác Ái Kitô Giáo

1. Các Nguồn Của Sự Thánh Thiện Kitô Giáo

Cùng với lời mời gọi phổ quát của mình đến với sự thánh thiện, Công Đồng Vatican II cũng đưa ra một sự chỉ dẫn cụ thể về sự thánh thiện có nghĩa là gì và nó hệ tại ở điều gì. Trong Lumen Gentium chúng ta đọc thấy,

Chúa Giêsu, Thầy và Khuôn Mẫu thánh của mọi sự hoàn hảo, đã giảng dạy sự thánh thiện của đời sống cho từng người và hết mọi người môn đệ của Ngài thuộc mọi hoàn cảnh. Chính Ngài vừa là tác giả vừa là đấng làm cho hoàn hảo sự thánh thiện này của đời sống: “Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Ðấng hoàn thiện” (Mt 5:48). Thực vậy, Ngài đã sai Chúa Thánh Thần đến trên hết mọi người mà Ngài đã đưa họ vào bên trong nội tâm để yêu mến Thiên Chúa với hết lòng và hết linh hồn của họ, với hết trí khôn và hết sức của họ [x. Mc 12:30] và để họ biết yêu thương nhau như Đức Kitô yêu thương họ [x. Ga 13:34, 15:12’. Những người môn đệ của Đức Kitô được Thiên Chúa mời gọi, không phải vì những công việc họ  làm, mà theo mục đích và ân sủng của Ngài. Họ được công chính ở nơi Chúa Giêsu, vì trong phép rửa của đức tin họ thật sự trở thành con cái của Thiên Chúa và những người thông phần vào bản tính thánh của Ngài. Bằng cách này họ thật sự được làm cho trở nên thánh thiện. Do đó cũng vậy trong đời sống của họ, qua ơn ban của Thiên Chúa, họ phải giữ và làm cho sự thánh thiện này mà họ đã lãnh nhận trở nên hoàn hảo (LG 40).

Tất cả mọi điều này được tóm lược lại trong công thức, “sự thánh thiện hoàn hảo” là “sự hiệp nhất hoàn hảo với Đức Kitô” (LG 50). Tầm nhìn này phản ánh mối quan tâm phổ quát của Công Đồng để hướng đến những nguồn thuộc kinh thánh và giáo phụ, vượt ra khỏi công thức kinh viện vốn thống lĩnh trong nhiều thế kỷ trong lãnh vực này. Nên giờ đây đó là một vấn đề về việc trở nên ý thức về tầm nhìn được đổi mới này về sự thánh thiện và áp dụng nó vào trong những việc thực hành của Giáo Hội trong việc giảng dạy, trong giáo lý, trong việc đào luyện thiêng liêng các ứng sinh cho chức linh mục và tu sĩ, và – tại sao không? – trong tầm nhìn mang tính thần học vốn gợi nên việc áp dụng của Bộ Phong Thánh nữa.[1]

Một trong những khác biệt chính giữa tầm nhìn kinh thánh về sự thánh thiện và tầm nhìn kinh viện là các nhân đức không dựa quá nhiều trên “lý luận đúng” (Recta ratio của Aristotle) so với dựa trên việc rao giảng. Trở nên thánh thiện không có nghĩa là đi theo lý luận (nó thường dẫn đến điều ngược lại!), mà nên thánh thiện nghĩa là theo Đức Kitô. Sự thánh thiện Kitô Giáo thì nhất thiết mang tính Kitô Học: nó hệ tại ở việc noi theo Đức Kitô và, ở chiều cao của việc này, trong “sự hiệp nhất hoàn hảo với Đức Kitô”, như Công Đồng nói.

Sự tổng hợp về sự thánh thiện mang tính đậm nét kinh thánh nhất và hoàn chỉnh nhất dựa trên việc loan báo tin mừng là một việc đã được Thánh Phaolô đề ra trong phần giáo huấn của Thư Gửi Tín Hữu Rôma (Chương 12-15). Ngay khởi đầu vị tông đồ đã đưa ra một tầm nhìn có thể hiểu được về con đường thánh hóa của người tín hữu – nội dung và mục tiêu của việc này:

Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Ðó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người. Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo (Rm 12:1-2).

Lần trước chúng ta đã suy niệm về những câu này. Trong những bài suy niệm kế tiếp, chúng ta sẽ bắt đầu bằng điều diễn ra sau trong bản văn của Thánh Phaolô và sẽ chu toàn việc ấy bằng điều mà Vị Tông Đồ nói ở nơi khác về cùng một chủ đề. Trong khi làm thế, chúng ta sẽ cố gắng nhấn mạnh đến những đặc tính nổi bật của sự thánh thiện, vốn được gọi là “các nhân đức Kitô Giáo” ngày nay và điều mà Kinh Thánh Tân Ước xác định là “hoa trái của Thần Khí”, hay “những việc làm của ánh sáng” hay “tư tưởng ở nơi Đức Giêsu Kitô” (x. Pl 2:5).

Bắt đầu ở chương 12 của Thư Gửi Tín Hữu Rôma, tất cả mọi nhân đức Kitô Giáo còn lại, hay hoa trái của Thần Khí, đều được liệt kê: phục vụ, bác ái, khiêm nhường, vâng phục, trong sạch. Đây không phải là những nhân đức mà người ta nuôi dưỡng cho riêng họ mà là những hiệu quả cần thiết của công việc của Đức Kitô và phép rửa. Phần này bắt đầu với một liên từ mà tự thân nó có giá trị của một bài huấn từ: “Do đó, thưa anh em tôi khuyên nhủ anh em...” Từ “do đó” của vị tông đồ cho thấy rằng mọi sự Ngài sẽ nói từ giây phút này trở đi là kết quả của điều mà Ngài đã viết trong các chương trước về đức tin vào Đức Kitô và vào hoạt động của Chúa Thánh Thần. Chúng ta hãy suy tư về bốn trong số các nhân đức này: bác ái, khiêm nhường, vâng phục và trong sạch.

2. Bác Ái Chân Thành

Agape, hay bác ái Kitô Giáo, thì không phải là một trong những nhân đức, nó là một nhân đức cao trọng nhất; nó là hình thức của mọi nhân đức, là một nhân đức mà “tất cả lề luật và tiên tri dựa vào” (x. Mt 22:40; Rm 13:10). Trong số những hoa trái của Thần Khí  mà vị tông đồ liệt kê ra trong Thư Ga-lát 5:22, thì chúng ta thấy bác ái được liệt kê đầu tiên: “Hoa trái của Thần Khí là bác ái, vui tươi, bình an...” Nhất quán với điều đó, Ngài cũng bắt đầu sự giải thích của Ngài về các nhân đức trong Thư Gửi Tín Hữu Rôma bằng lòng bác ái. Tất cả chương 12 là một loạt các giáo huấn về bác ái:

Lòng bác ái không được giả hình giả bộ. Anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành; thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình.

Để hiểu được tinh thần làm hiệp nhất tất cả những chỉ dạy này, thì ý tưởng nền tảng ở dưới những điều này, hay đúng hơn, “cảm nhận” mà Thánh Phaolô có đối với bác ái, chúng ta cần phải bắt đầu bằng giáo huấn đầu tiên của Ngài: “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ!” Đây không phải là một trong nhiều giáo huấn nhưng là một châm ngôn mà từ đó mọi giáo huấn khác khởi sự. Nó chứa đựng bí mật của bác ái.

Từ gốc mà Thánh Phaolô sử dụng được dịch là “chân thành” là anhypokritos, và nó có nghĩa là “không có sự giả hình”. Thuật ngữ này là một kiểu ánh sáng chỉ dẫn. Thực ra thì đó là một từ hiếm được sử dụng một cách đặc biệt nhất trong Tân Ước để định nghĩa bác ái Kitô Giáo. Lối diễn tả “bác ái chân thành” (anhypokritos) xuất hiện trở lại trong 2 Cô-rin-tô 6:6 và trong 1 Phêrô 2:22. Bản văn giáo huấn của Thánh Phêrô giúp cho chúng ta hiểu, với một sự chắc chắn hoàn toàn, ý nghĩa của từ đang được đặt vấn đề vì Ngài giải thích từ này với một lối nói dài dòng: bác ái chân thành, Ngài nói, hệ tại ở việc yêu thương nhau sâu thẳm “từ tâm hồn”.

Do đó, Thánh Phaolô với lối nói đơn giản của Ngài về câu “lòng bác ái không được giả hình giả bộ”, đưa việc thảo luận đến tận cội rễ của lòng bác ái, chính là con tim. Điều đòi hỏi về tình yêu là nó phải thật, chính đáng, và không giả bộ. Thánh Tông Đồ ở đây cũng trung thành lặp lại tư tưởng của Chúa Giêsu: Thực ra, Chúa Giêsu đã lặp đi lặp lại và hết sức nhiệt thành chỉ ra trái tim là “một nơi” quyết định giá trị của việc người ta làm” (x. Mt 15:19).

Chúng ta có thể nói về sự hiều biết Phaolô có liên quan đến lòng bác ái: sự hiểu biết này hệ tại ở nơi làm tỏ lộ, phía sau không gian hữu hình và bên ngoài của lòng bác ái hệ tại nơi việc làm và lời nói, thì một không gian khác vốn hoàn toàn nội tâm và một không gian, khi so sánh với không gian kia, là điều giống như linh hồn với thể xác. Chúng ta thấy sự hiểu biết này một lần nữa trong đại bản văn của Ngài về lòng bác ái, 1 Cr 13. Mọi sự Thánh Phaolô nói ở đó, nếu chúng ta nghiên cứu cách kĩ lưỡng, nói đến bác ái nội tâm, trước những biều hiện và cảm nhận về lòng bác ái: bác ái thì nhẫn nại và từ tâm, bác ái không ghen tương hay tức giận; bác ái chịu đựng tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả...Không một điều nào trong số này có liên hệ trực tiếp đến làm việc tốt hay những công việc bác ái, mà thay vào đó mọi sự dẫn ngược trở lại với cội rễ của lòng muốn việc tốt. Tình mến đi trước sự thừa hưởng.

Chính bản thân vị tông đồ là một người làm rõ sự khác biệt giữa hai kiểu bác ái. Ngài nói rằng hành động cao cả nhất của bác ái bên ngoài (phân phát tài sản của bản thân cho người nghèo) phải không được bám vào bất cứ điều gì mà không có lòng bác ái nội tâm (x. 1 Cr 13:3). Điều này trái với lòng bác ái “chân thành”. Lòng bác ái chân thành thực ra rõ ràng là làm việc tốt mà không mong muốn điều tốt; nó thể hiện ra bên ngoài một điều không phù hợp với tâm hồn. Trong trường hợp này thì một người có vẻ bề ngoài bác ái có thể, tồi tệ nhất, che đậy chủ nghĩa cái tôi, việc tìm kiếm chính mình, sự thao túng người khác, hay thậm chí là một sự xoa dịu lương tâm.

Sẽ thật là một sai lầm nghiêm trọng khi đặt bác ái của con tim trong sự đối nghịch với lòng bác ái của việc làm hay trú ngụ trong lòng bác ái nội tâm để tìm kiếm một sự biện minh cho một sự thiếu làm việc bác ái cách tích cực. Chúng ta biết Chúa Giêsu (x. Mt 25:16tt), Thánh Gia-cô-bê (x. 2:16 tt), và Thánh Gioan (x. 1 Ga 3:18) đã mạnh mẽ kêu gọi người dân làm việc bác ái thế nào thế nào. Chúng ta biết tầm quan trọng mà chính Thánh Phaolô đã cho phần quyên góp cho người nghèo ở Jerusalem.

Hơn nữa, khi nói, “việc ấy chả tốt lành gì với tôi” để cho hết cho người nghèo nếu tôi làm việc ấy mà không có lòng bác ái thì không có nghĩa là sẽ nói rằng việc ấy chả tốt gì với bất cứ ai và vô ích. Thay vào đó, nó có nghĩa là điều đó có thể chẳng có lợi gì cho “tôi”, nhưng nó có thể có lợi cho người nghèo lãnh nhận nó. Do đó, đó không phải là vấn đề giảm thiểu hóa tấm quan trọng của những công việc bác ái mà là về việc đảm bảo một nền tảng an toàn cho họ trước sự tự qui ngã và sự hèn mạt bao la của sự quy ngã. Thánh Phaolô muốn các Kitô Hữu phải “được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái” (Eph 3:17) theo một cách thế là lòng bác ái là cội rễ và là nền tảng của mọi sự.

Khi chúng ta yêu mến “từ tâm hồn”, thì đó chính là tình thương rất quan trọng của Thiên Chúa vốn “được tuôn đổ vào trong tâm hồn chúng ta qua Chúa Thánh Thần” (Rm 5:5) vốn chảy qua chúng ta. Vì một người hành đọng theo cách này thì thật sự là đang nên thánh. Để “trở thánh người dự phần vào bản tính thánh, hành động thánh của việc yêu thương vì Thiên Chúa là tình yêu!

Chúng ta yêu mến con người không phải chỉ vì Thiên Chúa yêu thương họ hay vì Ngài muốn chúng ta yêu thương họ, nhưng cũng là vì trong việc ban cho chúng ta Thần Khí của Ngài thì Ngài đã đặt để tình yêu của Ngài dành cho họ vào trong tâm hồn chúng ta. Điều này giải thích vì sao vị tông đồ nói ngay sau đó, “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật” (Rm 13:8).

Chúng ta có thể tự hỏi chính bản thân mình, tại sao chúng ta lại “mắc nợ” bất cứ một tình yêu nào với những người khác? Vì chúng ta đã lãnh nhận một khoản vô biên của tình yêu để rồi tới lượt mình chúng ta cũng phân phát cho những người anh em của mình (x. Lc 12:42; Mt 24:45tt). Nếu chúng ta không thực hiện điều đó, thì chúng ta mắc lỗi với anh chị em chúng ta về điều mà chúng ta mắc nợ họ. Một người anh em đến cửa nhà quí vị và có lẽ xin một điều mà quí vị không thể cho họ, nhưng nếu quí vị không thể cho anh ta điều mà anh ta xin, thì hãy cẩn thận để đừng xua đuổi anh ta đi mà không có điều mà chúng ta mắc nợ anh ta, chính là tình yêu.

3. Bác Ái Đối Với Những Người Bên Ngoài Cộng Đoàn

Sau khi giải thích bác ái Kitô Giáo chân thành nghĩa là gì, vị tông đồ tiếp tục, sau những giáo huấn của Ngài, nói lên “tình yêu chân thành” cần được biến thành hành động thế nào trong các hoàn cảnh cộng đoàn. Vị tông đồ tập trung vào hai hoàn cảnh: hoàn cảnh thứ nhất có liên quan đến các mối quan hệ ad extra (bên ngoài) cộng đoàn, đó là, với những người bên ngoài cộng đoàn; hoàn cảnh thứ hai là các mối quan hệ ad intra (bên trong) những thành viên cùng một cộng đoàn. Chúng ta hãy nghe một vài đề nghị của Ngài áp dụng cho hoàn cảnh đầu tiên của các mối quan hệ, những người bên ngoài thế giới:

Hãy chúc lành cho những người bắt bớ anh em, chúc lành chứ đừng nguyền rủa...Hãy chú tâm vào những điều mọi người cho là tốt. Hãy làm tất cả những gì anh em có thể làm được, để sống hòa thuận với mọi người. Anh em thân mến, đừng tự mình báo oán, nhưng hãy để cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa làm việc đó...Kẻ thù ngươi có đói, hãy cho nó ăn; có khát, hãy cho nó uống...Ðừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác (Rm 12:14-21).

Chưa bao giờ nền luân lý của tin mừng lại xuất hiện quá nguyên gốc và khác biệt so với mọi khuôn mẫu đạo đức khác như hiện tại đến điểm này, và chưa bao giờ các giáo huấn của Thánh Phaolô lại xuất hiện trung tín hơn và trong sự liên tục với các giáo huấn của tin mừng như vậy. Điều làm cho tất cả giáo huấn này phù hợp cách cụ thể với chúng ta là hoàn cảnh và bối cảnh mà trong đó giáo huấn này được nói với người tín hữu. Cộng đồng Kitô Hữu tại Rôma là một cộng đoàn ngoại trong một cơ cấu mà – đến mức độ mà họ nhận biết về sự hiện diện của họ - bác bỏ điều đó. Đó là một ốc đảo rất nhỏ giữa một biển thù nghịch của xã hội dân ngoại. Trong những hoàn cảnh như thế này, chúng ta biết cơn cám dỗ khép lại ở nơi chính mình là lớn lao dường nào, để phát triển một não trạng ưu tuyển và không mời gọi của một vùng đất của những người được cứu trong một thế giới của những người bị kết án. Cộng đoàn Essene của Qumran đã sống cách cụ thể thái độ này vào một thời điểm trong lịch sử.

Hoàn cảnh của cộng đoàn tại Rôma được Phaolô mô tả đại diện trong qui mô nhỏ cho hoàn cảnh hiện tại của toàn thể Giáo Hội. Tôi đang không nói về cuộc bách hại tử đạo mà anh chị em trong niềm tin đang chịu ở quá nhiều nơi trên thế giới. Tôi đang nói về sự thù nghịch, sự khước từ, và thường là sự khinh thường sâu mà không chỉ những người Kitô Hữu mà còn tất cả mọi người tin vào Thiên Chúa đang được những bộ phận rộng lớn của xã hội nhìn, nhìn chung là các bộ phận có tầm ảnh hưởng nhất và đang quyết định tư tưởng bình thường hiện thời. Người Kitô Hữu cách cụ thể bị coi là những cơ phận bên ngoài ngay giữa một xã hội đã phát triển và khai phóng này.

Giáo huấn của Thánh Phaolô không làm cho chúng ta đánh mất ngay cả một lập trường trong những lời phản kháng đắng cay và trong những tranh luận vô nghĩa. Điều này dĩ nhiên không bao gồm việc đưa ra lý do cho niềm hy vọng vốn ở trong chúng ta “bằng sự dịu dàng và sự kính trọng”, như Thánh Phêrô đề nghị (1 Pr 3:15-16). Đây là một vấn đề của việc hiểu thái độ nào của tâm hồn cần phải được nuôi dưỡng trong khi đối diện với một nhân loại mà, như một tổng thể, bác bỏ Đức Kitô và đang sống trong sự tăm tối hơn là trong ánh sáng (x. Ga 3:19). Đó cần phải là một thái độ của lòng thương cảm sâu sắc và sự u buồn thiêng liêng, của việc yêu mến những người này và đau khổ vì họ, của việc nhận trách nhiệm vì họ trước Thiên Chúa – như Chúa Giêsu nhận trách nhiệm vì tất cả chúng ta trước Chúa Cha – và không ngừng than khóc và cầu nguyện cho thế giới.

Thái độ này là một trong những nét đặc trưng tuyệt vời nhất của sự thánh thiện ở nơi một số vị thầy tu Chính Thống. Tôi đang nghĩ về Thánh Silvanus Núi Athos. Ngài nói,

Có một số người đang muốn sự phá hủy và những thống khổ của những ngọn lửa của sự kết án về những kẻ thù của họ và những kẻ thù của Giáo Hội. Họ nghĩ theo cách đó vì họ chưa được Chúa Thánh Thần hướng dẫn về tình yêu của Thiên Chúa. Một người đã thực sự được dạy dỗ thay vào đó sẽ đổ nước mắt vì toàn thế giới này. Bạn nói, “Người ấy tội lỗi, thì hãy để cho người ấy bị thiêu đốt trong những ngọn lửa của hỏa ngục”. Nhưng tôi hỏi bạn, “Nếu Thiên Chúa ban cho bạn một nơi đẹp đẽ trên Thiên Đàng và từ đó bạn thấy ai đó mà bạn đã từng muốn bị tra tấn thật sự bị ném vào lửa hỏa ngục, có lẽ lúc đó bạn sẽ than khóc vì người ấy, bất luận anh ta là ai, ngay cả khi anh ta là một kẻ thù của Giáo Hội.[2]

Vào thời mà vị tu sĩ thánh thiện này sống, thì những kẻ thù chủ yếu là những người Bolshevik là những người bách hại Giáo Hội tại quê hương Nga yêu dấu của Ngài. Ngày nay trận tuyến ấy đã được mở rộng, và không còn có một “Bức Màn Sắt” nữa theo hướng này. Cho đến mức độ mà người Kitô Hữu khám phá ra vẻ đẹp, tình yêu, và sự khiêm nhường vô biên của Đức Kitô, thì người ấy chẳng thể làm được gì hơn là cảm thấy một lòng thương cảm sâu sắc dành cho những người sẵn sàng chịu tước khỏi bản thân họ thiện ích tốt nhất trong cuộc sống. Tình yêu trở nên mạnh mẽ hơn bất cứ một lòng hận thù nào ở nơi con người đó. Trong hoàn cảnh tương tự, Thánh Phaolô kết thúc khi nói rằng Ngài sẵn sàng để cho bản thân Ngài “chịu nguyền rủa và cắt đứt khỏi Đức Kitô” nếu điều ấy góp phần để cho Đức Kitô được chấp nhận bởi những người vẫn ở bên ngoài (Rm 9:3).

4. Bác Ái Với Người Trong Cộng Đoàn

Đại bán cầu thứ hai mà trong đó lòng bác ái được thực thi, như chúng ta đã nói, là trong các mối quan hệ bên trong cộng đoàn, cụ thể, trong việc xử lý những quan điểm mâu thuẫn xuất phát ngay trong những thành viên của cộng đoàn ấy. Vị tông đồ dành toàn bộ chương 14 của Thư Rôma cho chủ đề này.

Mâu thuẫn diễn ra trong cộng đoàn tại Rôma vào thời điểm ấy là giữa những người mà vị tông đồ gọi là “người yếu” và “người mạnh”, tự đặt Ngài là một phần của nhóm thứ hai (“Chúng tôi là những người mạnh...”) (Rm 15:1). Nhóm thứ nhất cảm thấy chính bản thân họ gắn liền với việc tuân giữ một số qui định thừa hưởng từ Lề Luật hay từ những niềm tin dân ngoại trước đó – chẳng hạn, không ăn thịt (cho đến lúc ấy thì điều đó được nghi là đã được dâng lên cho các ngẫu tượng) và phân biệt giữa ngày tốt và ngày xấu. Nhóm thứ hai, nhóm mạnh, là những người mà nhân danh sự tự do của Tin Mừng, đã vượt thắng những điều cấm kỵ này và không phân biệt giữa các loại thực phẩm và những kiểu ngày nữa. Kết luận của việc thảo luận (x. Rm 15:7-12) làm rõ rằng một cách nền tảng điều đó có liên quan đến vấn đề đang tiếp diễn về mối quan hệ giữa những người tin thuộc Do Thái và những người tin thuộc Dân Ngoại.

Những đòi buộc của bác ái mà vị tông đồ nói ra trong trường hợp này là về lợi ích lớn lao cho chúng ta vì những đòi buộc này là cùng những điều buộc xảy ra trong mọi kiểu mâu thuẫn nội bộ giáo hội, gồm cả những mâu thuẫn mà chúng ta đang kinh nghiệm ngày nay, bất luận là ở cấp độ Giáo Hội hoàn vũ hay một cộng đoàn cụ thể mà chúng ta đang sống trong đó.

Vị tông đồ đưa ra ba tiêu chí để giải quyết mâu thuẫn. Tiêu chí thứ nhất là dành cho những người theo tiếng lương tâm của họ. Nếu người ta tin, theo lương tâm của họ, rằng họ không nên làm một điều nhất định nào đó, thì họ không cần phải làm. Thánh Tông Đồ viết, “Hành động nào không do xác tín đều là tội” (Rm 14:23), “niềm tin” có nghĩa ở đây là “niềm tin tốt lành”, đó chính là lương tâm. Tiêu chí thứ hai là tôn trọng lương tâm của người khác và rút khỏi việc phán xét một người anh em hay chị em:

Thế mà bạn, sao bạn lại xét đoán người anh em? Và bạn nữa, sao bạn khinh dể người anh em?... Vậy chúng ta đừng xét đoán nhau nữa. Tốt hơn, anh em hãy xét sao để tránh gây cớ cho anh em mình phải vấp hay phải ngã (Rm 14:10,13).

Tiêu chí thứ ba chủ yếu liên quan đến “nhóm mạnh” và lý do vì sao họ nên tránh tạo cớ. Vị tông đồ tiếp tục nói,

Trong Chúa Giêsu, tôi biết và xác tín rằng không có gì tự nó là ô uế; có ô uế là chỉ đối với người cho nó là ô uế. Nếu vì bạn ăn một thức ăn, mà bạn làm phiền lòng người anh em, thì bạn không còn sống theo đức ái nữa. Ðừng vì thức ăn của bạn mà làm cho người đã được Ðức Kitô chết cho phải hư mất!...Vậy chúng ta hãy theo đuổi những gì đem lại bình an và những gì xây dựng cho nhau (Rm 14:14-19).

Tuy nhiên, tất cả những tiêu chí này là cụ thể và có liên hệ với sự tôn trọng tiêu chí thay vào đó là mang tính phổ quát và tuyệt đối, tiêu chí về Quyền Làm Chúa của Đức Kitô. Chúng ta hãy lắng nghe cách mà vị tông đồ này tạo nên khái niệm:

Ai để ý đến ngày này ngày nọ, thì làm thế để kính Chúa. Người ăn, thì vì Chúa mà ăn, bởi lẽ họ tạ ơn Thiên Chúa. Còn người không ăn, thì không ăn vì Chúa, họ cũng tạ ơn Chúa. Thật vậy, không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa; vì Ðức Kitô đã chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết (Rm 14:6-9).

Tất cả mọi người đều được mời gọi để xét mình để biết điều gì là trọng tâm cho chọn lựa của mình: để xem liệu đó có là Quyền Làm Chúa của Đức Kitô, vinh quang của Ngài, và những lợi ích của Ngài, hay thay vào đó liệu rằng, theo một cách ngụy trang ít nhiều, là một sự tự khẳng định mình, cái tôi của bản thân, và sức mạnh riêng của bản thân; để xem liệu việc đó có mang tính thiêng liêng và tin mừng, hay thay vào đó lại tùy thuộc vào sở thích tâm lý của bản thân, hay tệ hơn, quan điểm chính trị của bản thân. Điều này áp dụng ở một trong hai trường hợp, hoặc nhóm gọi là mạnh hay nhóm gọi là yếu. Ngày nay chúng ta có thể hỏi liệu là sự chọn lựa đâu là nhóm ở phía sự tự do và sự sáng tạo của Chúa Thánh Thần hay nhóm nào đang theo sự liên tục và truyền thống.

Có một điều mà chúng ta cần phải suy xét để tránh coi thái độ của Phaolô về vấn đề này là một sự bất nhất nào đó với giáo huấn trước đó của Ngài. Trong Thư Gửi Tín Hữu Ga-lát dường như ít nhiều Ngài mở ra cho việc lấn loát và thậm chí thể hiện cả những dấu hiệu của sự giận dữ. (Nếu Ngài phải trải qua tiến trình phong thánh ngày nay, có lẽ thật khó để cho Phaolô trở thành một vị thánh: sẽ thật khó để chứng minh được rẳng sự nhẫn nại của Ngài là “mang tính anh hùng!” Đôi khi Ngài “bùng nổ”. Tuy nhiên, Ngài có thể nói, “Tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi” [Gl 2:20], và, như chúng ta đã thấy, đây là yếu tính của sự thánh thiện Kitô Giáo).

Trong Thư Gửi Tín Hữu Ga-lát, thánh Phaolô quở trách Phêrô vì điều mà dường như Ngài đề nghị với mọi người, đó là, hạn chế khỏi việc thể hiện thể hiện niềm xác tín của bản thân để tránh làm cớ vấp phạm cho người đơn sơ. Phêrô, thực ra, ở An-ti-ô-khia đã tin rằng việc ăn uống với Dân Ngoại thì không làm nhiễm bẩn người Do Thái. (Ngài đã từng ở nhà của Cornelius) Nhưng Ngài thôi không làm điều đó bây giờ để tránh làm cớ vấp phạm cho người Do Thái ở đó (x. Gl 2:11-14). Chính bản thân Phaolô, trong những hoàn cảnh khác, sẽ hành động theo cùng một cách thế (x. Cv 16:3; 1 Cr 8:13).

Sự giải thích này dĩ nhiên không chỉ là ở trong tâm trạng của Phaolô. Trên hết, điều đang lâm nguy tại An-ti-ô-khia thì có liên hệ cách rõ ràng với yếu tính của đức tin và sự tự do của tin mừng hơn là điều dường như đang là vấn đề ở Rôma. Thứ hai – và đây là lý do chính – Phaolô nói với người Ga-lát như là người sáng lập Giáo Hội tại đó, với thẩm quyền và trách nhiệm của vị mục tử. Mặt khác, Ngài nói với người Rôma như là một vị thầy và một người anh em trong đức tin để góp phần, như Ngài nói, được “khích lệ lẫn nhau bởi niềm tin của nhau” (Rm 1:11-12).

Ở đây chúng ta thấy sự khác biệt giữa vai trò của một vị mục tử mà sự vâng phục thuộc về Ngài và vai trò của một vị thầy mà chỉ có sự tôn trọng và lắng nghe thuộc về. Điều này giúp chúng ta hiểu rằng chúng ta cần thêm một tiêu chí khác vào tiêu chí biện phân đã được đề cập, tiêu chí thẩm quyền và sự vâng phục. Vị tông đồ sẽ nói với chúng ta về sự vâng phục trong một trong những bài suy niệm tiếp theo qua những lời nổi tiếng của Ngài: “Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập. Như vậy, ai chống đối quyền bính là chống lại trật tự Thiên Chúa đặt ra, và kẻ nào chống lại sẽ chuốc lấy án phạt” (Rm 13:1-2).

Trong khi đó, chúng ta hãy lắng nghe giáo huấn kết thúc của vị tông đồ nói với cộng đoàn Rôma vào thời của Ngài như thể giáo huấn ấy đang nói với chúng ta ngày nay ở bất cứ cộng đoàn nào mà chúng ta đang sống: “Vậy, anh em hãy đón nhận nhau, như Ðức Kitô đã đón nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa” (Rm 15:7).

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ ZENIT)

[1] Cf. Le cause dei santi. Sussidio per lo Studium, a cura della Congregazione delle Cause dei Santi, Libreria Editrice Vaticana, 3a ed. 2014, pp. 13-81.

[2] See Archimidrite Sofrony, The Undistorted Image: Starez Silouan: 1866-1938, n, trans. Rosemary Edmonds (London: Faith Press, 1958), p. 38.