Skip to main content
Cha Cantalamessa - Giảng Thuyết Của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Tĩnh Tâm Tuần III Mùa Chay 2017

CHÚA THÁNH THẦN DẪN CHÚNG TA VÀO MẦU NHIỆM SỰ CHẾT CỦA ĐỨC KITÔ

1. Chúa Thánh Thần Trong Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô

Trong hai bài suy niệm trước, chúng ta đã cố gắn để cho thấy cách mà Chúa Thánh Thần dẫn chúng ta vào “trong sự thật toàn vẹn” thế nào về con người của Đức Kitô, làm cho Ngài được biết đến là “Chúa” và là “Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật”. Trong những bài suy niệm còn lại ý định của chúng ta sẽ chuyển từ con người của Đức Kitô sang công việc của Đức Kitô, từ sự hiện hữu của Ngài sang hành động của Ngài. Chúng ta sẽ nỗ lực để cho thấy cách mà Chúa Thánh Thần soi sáng trong mầu nhiệm vượt qua.

Trước khi chương trình cho những bài giảng Mùa Chay này được công bố, tôi được hỏi câu hỏi này trong một bài phỏng vấn do L’Osservatore Romano thực hiện: “Cha dành bao nhiêu thời gian cho những việc hiện tại trong các bài suy tư của Cha?” Tôi trả lời rằng nếu “những việc hiện tại” nói đến những biến cố và hoàn cảnh hiện tại, thì tôi e là sẽ rất ít thời gian cho những bài giảng. Nhưng theo ý tôi, “hiện nay” không chỉ có nghĩa là “những gì đang xảy ra”, và nó không đồng nghĩa với từ “gần đây”. Những sự “gần đây” là những điều vĩnh cửu, những điều vốn chạm vào con người theo cốt lõi gần gũi nhất của hữu thể họ trong mọi thời đại và trong mọi nền văn hoá. Có cùng một kiểu khác biệt giữa “khẩn thiết” và “quan trọng”. Chúng ta luôn bị cám dỗ để đặt điều khẩn trước điều quan trọng và đặt “sự gần đây” trước “sự vĩnh cửu”. Khuynh hướng này đã ngày càng gia tăng cách đặc biệt vì tốc độ nhanh chóng của truyền thông và sự cần thiết có nhiều tin hơn nữa của giới truyền thông.

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Tĩnh Tâm Tuần I Mùa Chay 2017

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Tĩnh Tâm Tuần II Mùa Chay 2017

Điều quan trọng hơn hoặc hợp thời hơn đối với người tin, và đối với mọi người nam nữ, là việc biết liệu đời sống có ý nghĩa hay không, liệu chết có phải là kết thúc mọi sự, hay trái lại, liệu chết là sự khởi đầu của một sự sống thật sự chăng? Mầu nhiệm vượt qua của sự chết và sự phục sinh của Đức Kitô là câu trả lời duy nhất cho những câu hỏi này. Sự khác biệt giữa vấn đề phù hợp này và vấn đề của tin tức truyền thông là giống như giữa một người dành thời gian để nhìn vào dấu vết được để lại bởi một làn sóng trên bờ biển (điều mà làn sóng kế tiếp sẽ xoá đi!) và người hướng tầm nhìn của mình lên để chiêm ngắm biển trong sự bao la của nó.

Với điều này trong tư tưởng, chúng ta hãy suy niệm về mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô, khởi đầu bằng sự chết của Ngài trên thập giá. Thư Gửi Tín Hữu Do Thái nói rằng Đức Kitô “nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Ðức Kitô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa” (Dt 9:14). “Thánh Thần hằng hữu” là một cách nói khác về Chúa Thánh Thần, vốn đã được xác nhận bởi một biến thể xưa của bản văn. Điều này có nghĩa là Chúa Giêsu, một con người, đã nhận lãnh từ Chúa Thánh Thần đang ngự trong Ngài một động lực để tự hiến tế chính Ngài làm của lễ hy sinh lên Chúa Cha cũng như là sức mạnh đang nuôi dưỡng Ngài trong cuộc khổ nạn của Ngài. Phụng vụ diễn tả niềm xác tín rất quan trọng này khi, trong lời cầu nguyện tiền tụng trước hiệp lễ, vị linh mục nói, “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, Đấng, bởi ý muốn của Chúa Cha, qua sự tác động của Chúa Thánh Thần (cooperante Spiritu Santo), mà Ngài bởi sự chết của Ngài đã mang lại sự sống cho thế giới...”

Cùng một sự năng động đã diễn ra trong hy tế cũng đã xảy ra trong cầu nguyện. Một ngày kia Chúa Giêsu “hớn hở vui mừng và nói: ‘Lạy Cha là Chúa Tể trời đất...’” (Lc 10:21). Chính Chúa Thánh Thần là Đấng làm cho lời cầu nguyện này lên tới Chúa Cha, và chính Chúa Thánh Thần là Đấng đã thúc đẩy Ngài tự hiến tế chính Ngài lên Chúa Cha. Chúa Thánh Thần, Đấng là quà tặng vĩnh cửu mà Chúa Con tự hiến chính Ngài cho Chúa Cha trong vĩnh cửu, cũng là Đấng đã thúc đẩy Ngài thực hiệ một quà tặng hy tế của chính Ngài dâng lên Chúa Cha vì chúng ta theo thời gian.

Sự kết nối giữa Chúa Thánh Thần và cái chết của Chúa Giêsu được nhấn mạnh chủ yếu trong Tin Mừng Gioan. “Bây giờ họ chưa nhận được Thần Khí, vì Ðức Giêsu chưa được tôn vinh” (Ga 7:39), nghĩa là – theo ý nghĩa của “sự tôn vinh” trong Tin Mừng Gioan – Chúa Giêsu vẫn chưa được giương lên thập giá. Chúa Giêsu “trút linh hồn” (Mt 27:50) trên thập giá, được tượng trưng bởi nước và máu; thực ra Gioan viết trong Thư Thứ Nhất của Ngài, “Thần Khí, nước và máu. Cả ba cùng làm chứng một điều” (1 Ga 5:8).

Chúa Thánh Thần đưa Chúa Giêsu lên thập giá, và từ thập giá Chúa Giêsu ban Thần Khí. Vào thời khắc hạ sinh của Ngài và rồi công khai trong phép rửa của Ngài, Chúa Thánh Thần được ban cho Chúa Giêsu; vào thời điểm chết của Ngài, Chúa Giêsu ban Thần Khí. Thánh Phêrô nói với đám đông tập trung vào ngày Lễ Hiện Xuống, “Thiên Chúa Cha đã ra tay uy quyền nâng Người lên, trao cho Người Thánh Thần đã hứa, để Người đổ xuống: đó là điều anh em đang thấy đang nghe” (Cv 2:33). Các Giáo Phụ đã thích nhấn mạnh về sự hỗ tương này. “Chúa nhận lấy sự sức dầu [myron] trên đầu Ngài”, Thánh Ignatius Antioch nói, “để thổi sự không hư nát trên Giáo Hội”.[1]

Vào thời điểm này chúng ta gần nhắc lại sự nhận định của Thánh Augustine khi nói đến bản chất các mầu nhiệm ở nơi Đức Kitô. Theo Ngài, có một sự cử hành thật sự một mầu nhiệm, chứ không phải là một dịp kỷ niệm, khi “việc tưởng nhớ một biến cố quá thứ tự đến nỗi nó được hiểu là tầm quan trọng của một điều gì đó [đối với chúng ta] vốn được lãnh nhận bằng sự tôn kính như là thánh thiêng”.[2] Và đây là điều mà chúng ta muốn thực hiện trong bài suy niệm này, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn: để thấy cái chết của Đức Kitô mang lại ý nghĩa gì cho chúng ta, cái chết ấy thay đổi gì liên quan đến cái chết của chúng ta.

2. Một Người Chết Cho Toàn Dân

Kinh tin kính của Giáo Hội kết thúc bằng những lời, “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”. Điều đó không đề cập đến điều gì sẽ diễn ra trước sự phục sinh và sự sống đời sau, đó là, sự chết. Đúng vậy, vì sự chết không phải là một đối tượng của đức tin mà là của kinh nghiệm của chúng ta. Tuy nhiên, sự chết lại chạm vào tất cả chúng ta cách quá gần gũi đến nỗi không thể đi qua nó trong sự thinh lặng được.

Để đánh giá sự thay đổi mà Đức Kitô mang lại liên quan đến cái chết, chúng ta hãy xem những phương dược nào mà con người đã tìm kiếm để giải quyết vấn đề sự chết, đặc biệt kể từ khi đó là những điều mà qua đó người ta vẫn đang nỗ lực để “tự an ủi mình” thời nay. Sự chết là vấn đề số một của con người. Thánh Augustine đã đi trước sư tư triết học đương đại về sự chết:

Khi một đứa trẻ được sinh ra thì có quá nhiều dự đoán. Có lẽ nó sẽ đẹp trai, có lẽ sẽ xấu xí; có lẽ nó sẽ giàu có, có lẽ sẽ nghèo; có lẽ nó sẽ sống lâu, có lẽ nó sẽ không. Nhưng không ai lại nói, “Có lẽ nó sẽ chết, có lẽ nó sẽ không”. Sự chết là một sự chắc chắn tuyệt đối duy nhất trong cuộc sống. Khi chúng ta biết rằng một người bị chứng úng thuỷ não [đây là một căn bệnh nan y vào thời đó, nhưng ngày nay lại có những căn bệnh nan y khác], thì chúng ta nói, “Tội nghiệp bạn, nó sẽ chết; nó bị kết án phải chết; không có phương pháp chữa”. Sao chúng ta lại không nói cùng một điều về bất cứ ai được sinh ra? “Thật tội nghiệp cho bạn, nó sẽ phải chết; không có thuốc chữa; nó bị kết án phải chết!” Sự khác biệt là gì nếu người ấy có một thời gian dài hơn hay ngắn hơn một chút để sống? Sự chết là căn bệnh trí mạng mà chúng ta có liên hệ ngay từ khi được sinh ra.[3]

Có lẽ thay vì nghĩ về đời của chúng ta là “một đời phải chết”, thì chúng ta nên nghĩ về nó như là “một cái chết hằng sống”,[4] một cuộc sống đang chết. Tư tưởng này của Thánh Augustine đã được lấy từ một quan điểm thế tục của Martin Heidegger một người đã biến sự chết, theo quyền của nó, thành một chủ đề triết học. Khi định nghĩa sự sống và con người là một “hữu thể hướng đến sự chết”, thì ông thấy sự chết không phải như một biến cố mang đưa sự chết đến một hồi kết mà là một yếu tính rất quan trọng của sự sống, nghĩa là, như là một cách mà sự sống triển nở. Sống có nghĩa là chết. Mọi giây phút chúng ta sống là một điều gì đó đang được tiêu thụ, đó là trừ đi khỏi sự sống và giao nộp về cho sự chết.[5] “Sống để chết” có nghĩa là chết không chỉ là hồi kết mà còn là một mục đích của sự sống. Người ta sinh ra để chết và chẳng vì điều gì khác nữa. Chúng ta xuất phát từ hư không thì chúng ta trở về hư không. Do đó hư không là một chọn lựa duy nhất đối với một con người.

Đây là sự đảo ngược dứt khoát nhất của tầm nhìn Kitô Giáo, vốn coi con người thay vào đó là “một hữu thể cho vĩnh cửu”. Tuy nhiên, sự xác định mà triết học đạt tới sau thời gian dài suy tư về con người của nó thì không phải mang tính tồi tệ cũng như ngớ ngẩn. Triết học chỉ đơn giản là làm công việc của nó; nó cho thấy số phận của con người sẽ giống như thế nào nếu nó tự rời bỏ nó. Triết học giúp cho chúng ta hiểu sự khác biệt mà niềm tin Kitô Giáo thực hiện.

Hơn cả triết học, có lẽ các nhà thơ là những người nói theo ngôn ngữ đơn giản nhất và chân thực nhất về sự khôn ngoan của sự chết. Một trong số đó, nhà thơ Giuseppe Ungaretti, nói về khung tư tưởng của những người lính trong những trận địa trong Thế Chiến Thứ II, đã mô tả hoàn cảnh của con người khi đối diện với mầu nhiệm sự chết:

Họ đứng đó

Như những chiếc lá

Trên những cành cây

Vào mùa thu. [6]

Chính Kinh Thánh trong Cựu Ước không có một câu trả lời rõ ràng về sự chết. những sách Khôn Ngoan nói về sự chết nhưng luôn từ quan điểm về một câu hỏi hơn là một câu trả lời. Sách Gióp, Thánh Vịnh, Giảng Viên, Huấn Ca, Khôn Ngoan – tất cả những sách này để dành một vị trí xứng đáng cho chủ đề về cái chết. “ Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan”, một thánh vịnh nói (Tv 90:12). Tại sao chúng ta được sinh ra? Tại sao chúng ta chết? Chúng ta sẽ di đâu khi chúng ta chết? Đây là những câu hỏi mà không có một câu trả lời nào trong Cựu Ước trừ câu này: Thiên Chúa muốn như vậy; sẽ có một sự phán xét cho mọi người.

Kinh Thánh thích làm im tiếng các quan điểm của người không có niềm tin vào thời đó: "Ðời ta thật buồn sầu, vắn vỏi: không thuốc nào chữa cho con người khỏi chết, chẳng ai biết có kẻ nào thoát được cõi âm ty. Bởi ngẫu nhiên ta đã ra đời, rồi lại như chưa hề có mặt. Hơi thở của ta là làn khói, tư tưởng loé lên từ nhịp đập trái tim” (Kn 2:1-2). Chỉ trong sách Khôn Ngoan này, là cuốn sách sau cùng của văn chương khôn ngoan kinh thánh, thì sự chết mới bắt đầu được soi sáng bởi ý tưởng là một vài kiểu đền bù khen thưởng sau khi chết. Linh hồn người công chính, họ nghĩ, đang ở trong tay Thiên Chúa, ngay cả khi họ không biết chính xác điều đó có nghĩa là gì (x. Kh 3:1). Đúng thật là trong một trong những thánh vịnh mà chúng ta đã đọc, “Ðối với CHÚA thật là đắt giá cái chết của những ai trung hiếu với Người” (Tv 116:15). Nhưng chúng ta không thể đặt quá nhiều sức nặng trên câu này vốn đã được trích quá thường xuyên vì ý nghĩa của nó dường như chỉ đến một điều gì khác: Thiên Chúa bắt con người phải trả giá đắt cho sự ra đi của những người hiếu trung của Ngài, nghĩa là, Ngài là người trả thù của họ và xét xử con người.

Con người phản ứng lại sự cần thiết nghiệt ngã của sự chết này thế nào? Một câu trả lời mang tính coi thường đã không nghĩ về cái chết và làm phân tán chính bản thân mình. Đối với Epicurus, chẳng hạn, chết thì không phải là vấn đề: “Chừng nào chúng ta còn tồn tại”, ông nói, “thì sự chết không hiện hữu và bất cứ khi nào nó hiện hữu thì chúng ta không tồn tại”.[7] Do đó, sự chết không thực sự là mối bận tâm đối với chúng ta. Cách tiếp cận loại trừ sự chết này cũng được thấy ở trong các lề luật của Bộ Luật Napoleon vốn đặt các nghĩa trang ra bên ngoài các ranh giới của thành phố.

Người ta cũng bám víu vào những phương dược tích cực. Phương dược mang tính phổ quát nhất là có con và tiếp tục sống qua những thế hệ con cháu của mình. Một phương dược khác là sống qua danh vọng: “Tôi sẽ không hoàn toàn chết” (“non omnis moriar”)”, nhà thơ Latinh Horace viết, vì “danh tiếng của tôi sẽ xanh tươi và lớn lên”. “Có sức bền bỉ hơn cả đồng...là bia tưởng niệm tôi đã tạo nên”.[8] Trong chủ nghĩa Marxis, thì người ta tồn tại qua xã hội tương lai, không phải như một cá nhân mà là như một chủng loại.

Một trong những phương dược mang tính xoa dịu này, vốn đã được thêu dệt nên, là sự tái nhập thể. Nhưng đây là sự ngu xuẩn. Những người xác nhận giáo thuyết này như là một phần toàn diện của nền văn hoá và tôn giáo của họ, và do đó thật sự biết việc tái nhập thể là gì, biết rằng đây không phải là một phương dược hay sự an ủi mà là một án phạt. Đó không phải là một sự nối dài sự sống để vui mà là một sự thanh luyện. Một linh hồn tái nhập thể vì nó vẫn còn có điều cần phải đền bù, và nếu một người phải thực hiện việc đền tội, thì người ta sẽ phải chịu đau khổ. Lời Chúa cắt đứt hết tất cả mọi nẻo đường ảo tưởng của sự trốn chạy: “Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét” (Dt 9:27). Chỉ một lần! Giáo thuyết về sự tái nhập thể do đó không phù hợp với đức tin của người Kitô Hữu.

Những phương dược khác đã xuất hiện trong thời đại của chúng ta. Có một phong trào quốc tế gọi là “thuyết chuyển hoá con người”. Nó có nhiều khía cạnh, không phải tất cả đều tiêu cực, nhưng ngay tại cốt lõi của nó là niềm xác tín là con người, nhờ vào sự tiến bộ công nghệ, đang trên hành trình vượt qua chính nó cách triệt để, đến mức sống hàng nhiều thế kỷ hoặc có lẽ mãi mãi!Theo một trong những đại diện nỗi tiếng nhất của học thuyết này, Zoltan Istvan, mục tiêu cuối cùng sẽ là “trở nên giống như Thiên Chúa và chinh phục sự chết”. Một người Do Thái Giáo hoặc Kitô Giáo không thể chịu được nhưng ngay lập tức nghĩ về những lời xác định ngay từ khởi đầu của lịch sử nhân loại: "Ngươi sẽ không chết...Ngươi sẽ nên giống như Thiên Chúa” (St 3:4-5), với kết quả mà chúng ta đã biết.

3. Sự Chết Đã Bị Nuốt Chửng Trong Sự Chiến Thắng

Chỉ có một phương dược thật cho sự chết, và chúng ta là các Kitô Hữu đang cướp đi thế giới nếu chúng ta không loan báo điều đó bằng những lời nói và đời sống của chúng ta. Chúng ta hãy nghe cách mà Tông Đồ Phaolô thông báo sự thay đổi này cho thế giới:

Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Ðức Giêsu Kitô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người... Nếu chỉ vì một người, một người duy nhất sa ngã, mà sự chết đã thống trị, thì điều Thiên Chúa làm qua một người duy nhất là Ðức Giêsu Kitô, lại còn lớn lao hơn biết mấy” (Rm 5:15-17).

Sự chiến thắng của Đức Kitô trước sự chết được mô tả bằng một sự nhiệt thành lớn lao trong Thư Thứ Nhất Gửi Tín Hữu Côrintô:

Tử thần đã bị chôn vùi. Ðây giờ chiến thắng! Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi? Tử thần có độc là vì tội lỗi, mà tội lỗi có mạnh cũng tại có Lề Luật. Nhưng tạ ơn Thiên Chúa, vì Người đã cho chúng ta chiến thắng nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. (1 Cr 15:54-57)

Yếu tố quyết định xảy ra vào thời điểm chết của Đức Kitô: “Ngài đã chết cho mọi người” (2 Cr 5:15). Nhưng điều gì lại quá mang tính quyết định vào thời điểm ấy đến nỗi thay đổi cả bản chất rất quan trọng của sự chết? Chúng ta có thể hình dung về điều đó cách này. Con Thiên Chúa đã xuống mồ, giống như một nhà tù tăm tối, nhưng Ngài lại đi ra ở một phía đối diện. Ngài không trở lại nơi mà Ngài đã đi vào, như Ladarô đã thực hiện và rồi ông lại phải chết. Không, Ngài mở ra một kẽ hở hở phía bên kia mà qua đó tất cả mọi người tin vào Ngài có thể đi theo Ngài.

Một Giáo Phụ xưa viết, “Ngài đã mang lấy ở nơi chính bản thân Ngài nỗi thống khổ của con người, nỗi thống khổ trong một thân xác vốn có thể chịu đau khổ, nhưng nhờ Thần Khí không thể chết Ngài tiêu diệt sự chết vốn đang tiêu diệt con người”[9] Thánh Agustine nói, “Qua cuộc khổ nạn của Chúa chúng ta đã từ từ sự chết đến sự sống và mở ra một con đường cho chúng ta là những người tin vào sự phục sinh của Ngài mà quá nhiều người chúng ta đi qua từ cõi chết đến sự sống”[10] Sự chết trở thành một lối đi, và đó là một một lối đi đến điều sẽ không qua đi nữa! Thánh Gioan Chrysotom nói điều này rất hay:

Chúng ta thật sự cần phải chết, nhưgn chúng ta không tiếp tục trong sự chết: là điều sẽ không phải chết nữa. Đối với sự tàn bạo của sự chết, và thực ra là sự chết, thì khi một người chết đi thì sẽ không còn cho phép trở lại sự sống nữa. Nhưng ngay sau khi chết là sống, và sự sống tốt lành hơn ấy, đây không phải là sự chết nữa, mà là một giấc ngủ.[11]

Tất cả những cách giải thích này về ý nghĩa cái chết của Đức Kitô là thật, nhưng chúng không phải là một cách giải thích sâu sắc nhất. Lời giải thích này được tìm thấy ở nơi điều mà Đức Kitô, qua cái chết của Ngài, đến để mang đến cho hoàn cảnh con người, nhiều hơn là điều mà Ngài đến để lấy đi khỏi đó: điều ấy được tìm thấy ở nơi tình yêu của Thiên Chúa, chứ không phải ở nơi tội lỗi của con người. Nếu Chúa Giêsu chịu đau khổ và chết một cái chết tàn bạo đã áp đặt trên ngài bởi lòng hận thù, thì Ngài không làm điều đó chỉ thuần tuý là để trả một món nợ chưa giải quyết bị mắc nợ bởi con người (món nợ 10,000 nén trong dụ ngôn mà được vị vua bỏ qua!); Ngài chết bởi việc chịu đóng đính để nỗi thống khổ và sự chết của con người được cư ngụ bởi tình yêu!

Con người bị kết án chết một cái chết hoàn toàn ngớ ngẩn, nhưng khi đi vào cái chết họ khám phá ra rằng giờ đây nó được vận hành bởi tình yêu của Thiên Chúa. Tình yêu không thể phân chia với sự chết vì sự tự do của con người: tình yêu của Thiên Chúa không thể loại bỏ thực tại bi đát của sự dữ và sự chết bằng việc phẩy một chiếc đũa thần. Tình yêu của Ngài bị giới hạn lại để giúp cho nỗi thống khổ và sự chết có tiếng nói của nó. Nhưng một khi tình yêu đã thâm nhập vào sự chết và đã lấp đầy nó bằng sự hiện diện thánh, thì giờ đây tình yêu có tiếng nói chung cuộc.

4. Điều Đã Làm Thay Đổi về Sự Chết

Vậy thì điều gì đã làm thay đổi về sự chết vì Chúa Giêsu? Không có gì và có tất cả! Không có gì theo nghĩa là lý luận của chúng ta, nhưng là tất cả theo nghĩa của đức tin. Sự cần thiết của việc đi vào trong mồ đã không thay đổi, nhưng giờ đây có một khả năng thoát ra khỏi đó. Đây là điều mà biểu tượng về sự phục sinh của Giáo Hội Chính Thống minh hoạ một cách quá mạnh mẽ, và chúng ta có thể thấy một sự giải thích hiện đại về biểu tượng này ở bên trường trái của Nhà Nguyện Redemptoris Mater này. Đấng Phục Sinh đi xuống lâm bô và đưa Adam và Eva ra với Ngài và phía sau họ là tất cả mọi người đã gắn kết với Ngài trong những khu vực luyện tội của thế giới ấy.

Phaolô không kêu gọi họ hãy than khóc về những cái chết này nhưng nói với họ “đừng than khóc như những người khác”, như những người không có niềm tin thực hiện. Sự chết không phải là kết thúc sự sống đối với người có niềm tin mà là khởi đầu của một sự sống thật sự; đó không phải là một bước đi vào trong hư vô mà là một bước đi vào trong vĩnh cửu. Đó là một sự hạ sinh và là một phép rửa. Đó là sự hạ sinh vì chi khi đó thì sự sống thật mới bắt đầu, sự sống vốn không dẫn đến sự chết mà tồn tại mãi mãi. Vì lý do này Giáo Hội không cử hành lễ các thánh vào ngày sinh thể lý của các vị mà là vào ngày sinh của các Ngài trên thiên đàng, ‘dies natalis’ của các Ngài. Sự kết nối giữa cuộc sống trần thế của niềm tin và sự sống đời đời thì tương đương với sự kết nối giữa sự sống của một phôi thai trong lòng một người mẹ và đời sống của em bé khi được sinh ra. Nicholas Cabasilas viết,

Đó là một thế giới vốn ở trong tình trạng đớn đau với con người nội tâm ấy vốn “được tạo thành giống như Thiên Chúa”. Khi người ấy đã được thành hình và tạo nên ở đây do đó người ấy được sinh cách hoàn hảo vào trong thế giới hoàn hảo ấy vốn không bao giờ trở nên già nua. Như tự nhiên chuẩn bị bào thai, trong khi nó ở trong bóng tối và đời sống chất lỏng, vì sự sống ấy vốn đang ở trong ánh sáng..., vì thế giống như thế điều ấy cũng xảy ra với các thánh.[12]

Sự chết cũng là một phép rửa. Đó là cách mà Chúa Giêsu mô tả về cái chết của Ngài: “Thầy còn một phép rửa phải chịu” (Lc 12:50). Thánh Phaolô nói về phép rửa như là “được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người” (Rm 6:4). Vào thời xưa, vào lúc làm phép rửa cho một người đã được hoàn toàn nhận vào trong nước; tất cả mọi tội lỗi của người ấy và bản tính con người sa ngã của người ấy đã được chôn trong nước, và người ấy trở lên một tạo vật mới, tượng trưng bằng dây lưng trắng mà người ấy mang. Điều tương tự xảy ra trong cái chết: khi cái kén chết, thì con bướm được sinh ra. Thiên Chúa “sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ biến mất" (Kh 21:4). Tất cả những điều này sẽ được chôn vùi mãi mãi.

Trong nhiều thế kỷ khác nhau, đặc biệt là từ thế kỷ 17 trở đi, một khía cạnh quan trọng của nền khổ hạnh Công Giáo hệ tại ở nơi “sự chuẩn bị chết”,[13] đó là, trong sự suy tư về cái chết và về sự mô tả hình ảnh về những giai đoạn khác nhau của nó và tiến trình không thể dừng lại của nó từ vùng ngoại biên của thân xác đến tâm hồn. Hầu hết tất cả mọi mô tả của các thánh trong giai đoạn này cho các vị thấy bằng một chiếc đầu sọ gần đó, ngay cả Thánh Phanxicô Assisi là người đã gọi sự chết là “chị”.

Một trong những cuốn hút du lịch tại Rôma tiếp tục sẽ là cụm nhà nguyện Capuchin Crypt ở Via Veneto. Người ta không thể chối bỏ rằng tất cả công trình này có thể đóng vai trò như một lời nhắc vốn đang hữu ích cho một thời đại vốn đang bị tục hoá và thiếu suy tư như thời đại của chúng ta. Điều này đặc biệt đúng nếu người ta đọc thấy dòng chữ khắc trên một trong những bộ xương: “Điều bạn đang là thì chúng tôi đã từng là; điều mà chúng tôi đang là thì bạn sẽ là”.

Tuy nhiên, tất cả điều này đều mang lại cho người ta một cái cớ để nói rằng Kitô Giáo tiến triển bởi phương tiện về sự sợ chết. Nhưng đây là một sai lỗi khủng khiếp. Kitô Giáo, như chúng ta đã thấy, không ở đây để làm gia tăng sự sợ hãi cái chết mà là để loại bỏ nó; Đức Kitô đến, Thư Gửi Tín Hữu Do Thái nói, là để “giải thoát những ai vì sợ chết mà suốt đời sống trong tình trạng nô lệ” (Dt 2:15). Kitô Giáo không tiến bước vì tư tưởng về cái chết của chúng ta mà vì tư tưởng về cái chết của Đức Kitô!

Vì lý do này, thì thật là hiệu năng hơn nhiều khi suy tư về cuộc khổ nạn và cái chết cảu Chúa Giêsu, so với suy tư về cái chết của chúng ta, và chúng ta cần phải nói – dành sự tín nhiệm cho các thế hệ đi trước chúng ta – rằng sự suy tư như thế là lương thực hằng ngày cho thiêng liêng trong những thế kỷ qua.[14] Đó là một sự suy tư tạo nên cảm xúc và lòng biết ơn, chứ không phải sự lo âu; nó giúp chúng ta thốt lên, giống như Tông Đồ Phaolô, Đức Kitô “yêu tôi và đã hiến mạng vì tôi!” (Gl 2:20).

“Một việc thi hành đạo đức” mà tôi muốn đề nghị cho mọi người trong Mùa Chay này là hãy cầm lên một Tin Mừng và đọc toàn bộ đoạn khổ nạn, chậm rãi và theo giọng của quí vị. Sẽ mất ít hơn nửa tiếng. Tôi biết một người phụ nữ trí thức đã tuyên bố là một người vô thần. Một ngày kia bà đã bất ngờ có được một kiểu tin làm cho người ta sững sờ: cô con gái 16 tuổi của bà bị một khối u trong xương. Họ đã phẫu thuật cho cô bé. Cô gái trở về từ phòng phẫu thuật với một bình nước biển đang truyền và tất cả mọi loại ống xuất phát từ cô bé. Cô đã chịu đau khổ khủng khiếp và rên rỉ; cô không muốn nghe bất cứ một lời an ủi nào.

Mẹ cô bé, biết con gái bà là đạo đức và có tinh thần tôn giáo và nghĩ rằng điều ấy sẽ làm cho cô vui, đã hỏi cô, “Con có muốn mẹ đọc cho con một điều gì đó từ Tin Mừng không?” “Có, mẹ ơi”. “Con muốn mẹ đọc gì cho con?” “Đọc cho con nghe đoạn khổ nạn”. Người mẹ, một người chưa bao giờ đọc Kinh Thánh, chạy đi mua một cuốn từ các nhà nguyện; bà ngồi cạnh giường con gái mình và bắt đầu đọc. Sau một lục cô con gái thiếp đi, nhưng người mẹ vẫn tiếp tục đọc âm thầm trong bóng tối chập choạng cho đến hết. “Con gái tôi thiếp đi”, bà nói trong một cuốn sách mà bà viết sau cái chết của con gái bà, “và người mẹ thức tỉnh!” Bà thức tỉnh từ tình trạng vô thần của mình. Việc đọc cuộc khổ nạn của Đức Kitô đã làm thay đổi cuộc đời của bà mãi mãi.[15]

Chúng ta hãy kết thúc bằng một lời cầu nguyện đơn sơ nhưng mạnh mẽ từ phụng vụ, “Adoramus te, Christe, et benedicimus tibi, quia per sanctam tuam redemisti mundum,” Chúng con thờ lạy Chúa, lạy Đức Kitô, và chúng con chúc tụng Chúa, vì qua thánh giá Chúa mà Chúa đã cứu chuộc thế giới”.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ ZENIT)

________________________________________

[1] St. Ignatius of Antioch, “Letter to the Ephesians,”17, in Ignatius of Antioch and Polycarp of Smyrna, trans. and comm. Kenneth J. Howell (Zanesville, OH: CHResources, 2009), p. 87.

[2] St. Augustine, “Letter 55,” 1, 2, The Confessions and Letters of St. Augustine , series 1, vol. 1, Nicene and Post-Nicene Fathers, ed. Philip Schaff (New York: Cosimo, 2007), p. 303; see CSEL 34, 1, p. 170.

[3] See St. Augustine, “Sermon 47,” 3, Sermons on Selected Lessons of the New Testament, trans. R. G. MacMullen, series 1, vol. 6, Nicene and Post-Nicene Fathers, ed. Philip Schaff (New York: Christian Literature Publishing, 1886), p. 413; see Sermo Guelf., 12, 3 (Misc. Ag. I, p. 482ff).

[4] St. Augustine, The Confessions of St. Augustine, 1, 6, 7, trans. John K Ryan (Garden City, NY: Image Books, 1960), p. 46.

[5] See Martin Heidegger, Being and Time, #51, trans. Joan Stambaugh (Albany: State University Press of New York, 2010), pp. 242ff.

[6] Giuseppe Ungaretti, “Soldiers” [“Soldati”], trans. Stuart Flynn, Modern Poetry in Translation, New Series no.18 (2001): 185.

[7] Epicurus, “Letter to Menoeceus,” trans. George K. Stodach (New York: Penguin Books, 2012), p. 157.

[8] Horace, , The Odes of Horace, 3, 30, trans. James Michie (New York: Washington Square Press, 1963), p. 203.

[9] See Melito of Sardis, On Pascha, 66, trans. Alistair Stewart-Sykes (Crestwood, NY: St. Vladimir’s Seminary, 2001), p. 54; see SCh 123, p. 96.

[10] St. Augustine, “Psalm 120,” 6, Expositions of the Psalms, trans. Maria Boulding, Part 3, vol. 19, The Works of Saint Augustine (Hyde Park, NY: New City Press, 2003), p. 514.

[11] John Chrysostom, “Homily 17,” 4, Homilies on the Epistle to the Hebrews, vol. 14, Nicene and Post-Nicene Fathers, ed. Philip Schaff (Reprinted by Veritatis Splendor, 2012), pp. 327-328; see PG 63, 129.

[12] Nicholas Cabasilas, The Life in Christ, 1, 2 trans. Camino J. deCatanzaro (Crestwood NY: St. Vladimir’s Seminary, 1974), p. 44.

[13] See St. Alphonsus Ligouri’s 1758 book, Preparation for Death [Apparecchio alla morte] (Charlotte, NC: TAN Books, 1982).

[14] See St. Alphonsus Ligouri’s 1760 book, Reflections and Affections on the Passion of Jesus Christ [Considerazioni sopra la passione di Gesù Cristo], trans. Eugene Grimm, vol. 5, The Ascetical Works (reprint of the 1887 edition by Kassock Brothers publishing, 2014).

[15] See Rosanna Garofalo, Sopra le ali dell’aquila (Milan: Ancora, 1993).