Skip to main content
Cha Raniero Cantalamessa, Vị Giảng Thuyết Phủ Giáo Hoàng (Vatican Media)

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Tĩnh Tâm Tuần III Mùa Chay 2018

“Đừng đi quá mức khi đánh giá mình”

Khiêm Nhường Kitô Giáo

Giáo huấn về bác ái mà chúng ta đã nghe từ Thánh Phaolô trong bài suy niệm tuần trước được khép lại trong hai giáo huấn vắn gọn về sự khiêm nhường mà rõ ràng là dành cho mỗi người chúng ta theo một cách thế như để hình thành một kiểu khuôn mẫu cho giáo huấn về lòng bác ái. Nếu các giáo huấn này được đọc theo trình tự, trong khi bỏ đi điều diễn ra giữa hai giáo huấn, thì hai giáo huấn này nói thế này:

“Tôi nói với mỗi người trong anh em đừng đi quá mức khi đánh giá mình, nhưng hãy đánh giá mình cho đúng mức... Đừng tự cao tự đại, nhưng ham thích những gì hèn mọn. Anh em đừng cho mình là khôn ngoan” (Rm 12:3, 16).

Không có những đề nghị mang tính đánh đố đối với sự tiết độ và khiêm tốn! Trong một vài từ này, giáo huấn của vị tông đồ mở ra cho chúng ta một của ngõ bao la của nhân đức khiêm nhường. Bên cạnh bác ái Thánh Phaolô xác định sự khiêm nhường là giá trị thứ hai nền tảng nhất, lãnh vực thứ hai cần phải xét đến khi nhìn lại cuộc đời một người trong Thần Khí và xây dựng cộng đoàn.

Không ở trong lãnh vực nào hơn nhân đức này mà các nhân đức Kitô Giáo xuất hiện để hình thành ở nơi chúng ta “tư tưởng có ở nơi Chúa Giêsu Kitô”. Thánh Tông Đồ nhắc lại ở nơi khác rằng Chúa Giêsu, là Thiên Chúa trong bản tính, “đã tự khiêm hạ bằng việc vâng phục đến mức chịu chết, chết trên thập giá” (x. Pl 2:5-8). Và Chúa Giêsu nói cùng một điều với các môn đệ của Ngài, “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (x. Mt 11:29). Sự khiêm nhường có thể được thảo luận từ nhiều cách tiếp cận, mà chúng ta thấy vị tông đồ thực hiện, nhưng theo nghĩa sâu sắc nhất thì sự khiêm nhường chỉ thuộc về Chúa Giêsu. Người khiêm nhường thật sự là người nỗ lực để có một tâm hồn của Chúa Giêsu.

1. Khiêm Nhường Là Sự Đánh Giá Điều Độ

Trong những giáo huấn của Thư Gửi Tín Hữu Rôma của Ngài, Thánh Phaolô áp dụng giáo huấn kinh thánh truyền thống về sự khiêm nhường cho đời sống của cộng đoàn Kitô Hữu. Giáo huấn này được nói lặp đi lặp lại qua một lối ẩn dụ mang tính không gian là “nâng mình lên” và “hạ mình xuống”, khuynh hướng đi lên và khuynh hướng đi xuống. Chúng ta có thể “hướng đến những sự quá cao vời với chúng ta” (x. Tv 131:1) hoặc cả với tư tưởng của chúng ta, qua sự tò mò thái quá vốn không xét gì đến những giới hạn của chúng ta khi đối diện với mầu nhiệm, hoặc chúng ta có thể làm điều đó bằng ý muốn của chúng ta, nỗ lực vươn tới những vị thế và chức vị cao quý. Vị tông đồ có trong tư tưởng cả hai khả năng này, và những lời của Ngài nhắm vào cả sự giả định của tư tưởng và tham vọng của ý muốn.

Tuy nhiên, trong việc truyền tải giáo huấn kinh thánh truyền thống về sự khiêm nhường, Thánh Phaolô mang lại một động cơ cho nhân đức này vốn vừa mới mẻ vừa nguyên gốc. Trong Cựu Ước thì động cơ hay lý do cho sự khiêm nhường là “Chúa chế giễu đứa hay nhạo báng, nhưng thi ân cho kẻ khiêm nhường” (Cn 3:34; x. Gióp 22:29), và rằng “CHÚA tuy thật cao cả, nhưng vẫn nhìn đến kẻ thấp hèn; đứa ngạo mạn ngông nghênh, từ xa Ngài đã biết” (Tv 138:6). Chúng ta không được giải thích, hay ít nhất cũng không cụ thể, lý do vì sao Thiên Chúa lại làm thế, vì sao mà Ngài “nâng cao kẻ khiêm nhường và hạ bệ kẻ kiêu căng”. Những lời giải thích khác nhau có thể được đưa ra cho điều đó, chẳng hạn, lòng ghen tương hay “sự ghen tương của Thiên Chúa” (phthonos Theou), như một số tác giả Hy Lạp đã nghĩ, hoặc chỉ đơn giản là ý muốn của Thiên Chúa sẽ trừng phạt sự kiêu ngạo con người, hubris.

Khái niệm mang tính quyết định mà Thánh Phaolô giới thiệu trong phần diễn từ của Ngài về sự khiêm nhường là khái niệm về sự thật. Thiên Chúa yêu mến người khiêm nhường vì người khiêm nhường sống theo sự thật: người ấy là chân thành, chính trực. Thiên Chúa phạt kẻ kiêu căng vì sự kiêu căng thậm chí còn hơn cả sự kiêu ngạo, là một sự dối trá. Thực vậy, mọi sự không khiêm nhường nơi một người là một sự dối trá.

Điều này giải thích vì sao các triết gia Hy Lạp, những người thân thuộc với và ngợi khen hầu hết mọi nhân đức khác, thì lại không biết về sự khiêm nhường. Từ “khiêm nhường” (tapeinosis) luôn có một ý nghĩa tiêu cực thắng thế đối với họ là tính cách xấu, nhỏ mọn, không tử tế, và hèn nhát. Các triết gia Hy Lạp không biết về hai nền tảng sẽ giúp họ liên hệ sự khiêm nhường với sự thật: ý tưởng về sự tạo dựng và ý tưởng kinh thánh về tội lỗi. Ý tưởng về tạo dựng là nền tảng cho sự chắc chắn là mọi sự đều tốt đẹp và tuyệt với nơi con người đến từ Thiên Chúa, không có ngoại lệ. Ý tưởng kinh thánh về tội là nền tảng cho sự chắc chắn là mọi sự đều là sự dữ, theo nghĩa luân lý, xuất phát từ con người, từ sự tự do của họ, từ chính bản thân họ. Con người kinh thánh được đẩy đến sự khiêm nhường bởi cả sự tốt lành và sự dữ mà người ấy khám phá từ bên trong.

Nhưng hãy hướng đến tư tưởng của vị tông đồ. Lối diễn tả mà Ngài sử dụng trong bản văn của chúng ta để chỉ ra sự khiêm nhường – sự thật là “sự đánh giá điều độ”. (Sophrosune) Ngài giáo huấn người Kitô Hữu để đừng mắc vào một sai lầm hay cường điệu cảm giác về chính hộ nhưng thay vào đó là – chúng ta có thể nói là mục tiêu – một sự đánh giá chính xác, điều độ về chính họ. Thánh Phaolô lặp lại giáo huấn này một lần nữa trong câu 16, đoạn “đừng cho mình là khôn ngoan”, cho thấy sự tương thích của nó trong lối diễn tả “liên hệ với người khiêm hạ”. Với điều đó Thánh Phaolô đang nói rằng người ta khôn ngoan khi người ta khiêm nhường và người ta khiêm nhường khi họ khôn ngoan.

Bằng việc tự khiêm hạ chính mình, người ta đến gần với chân lý hơn. “Thiên Chúa là ánh sáng”, Thánh Gioan nói (1 Ga 1:5); Ngài là sự thật, vì thế Ngài không thể gặp một người không ở trong sự thật. Ngài ban ân sủng của Ngài cho người khiêm nhường vì chỉ người khiêm nhường thì mới có thể nhận ra ân sủng. Người ấy không hề nói, “Bởi bàn tay mạnh mẽ của tôi mà tôi đã thực hiện điều đó!” (Is 10:13; x. Đnl 8:17). Thánh Teresa Avila viết,

Tôi đã từng tự hỏi Thiên Chúa chúng ta lại quá yêu thích nhân đức khiêm nhường này; và ngay lập tức – tôi tin, chưa từng có một suy nghĩ trước đó về điều này – thì lý do sau đây xuất hiện trong tư tưởng tôi: đó là vì Thiên Chúa là Sự Thật Tối Cao và khiêm nhường là bước đi trong sự thật.[1]

2. “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?”

Vị tông đồ không để lại mọi sự mơ hồ hay hời hợt cho chúng ta khi nói về sự thật này về bản thân chúng ta. Một số lời nói rất rõ ràng của Ngài, được thấy nơi các thư khác và điều theo sau cùng một kết quả của những ý tưởng, có sức mạnh gỡ bỏ mọi “nền móng” khỏi chúng ta và làm cho chúng ta thật sự đi đến tận đáy của mói sự để khám phá sự thật.

Một bản văn như thế đặt câu hỏi, “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh?” (1 Cr 4:7). Chỉ có một điều mà tôi đã không lãnh nhận, một điều hoàn toàn thuộc về tôi, và đó là tội lỗi. Tôi biết và kinh nghiệm rằng tội lỗi xuất phát từ tôi, rằng tội lỗi có cội nguồn ở nơi chính tôi, hoặc trong bất cứ trường hợp nào trong bản tính con người và trong thế giới, chứ không ở nơi Thiên Chúa. Mặt khác, mọi thứ khác – gồm cả sự thật của việc nhận biết rằng tội lỗi xuất phát từ tôi – là từ Thiên Chúa. Câu khác nói, “Thật vậy, ai tưởng mình là gì mà kỳ thực không là gì hết, thì là lừa gạt chính mình” (Gl 6:3).

“Sự đánh giá thật” về bản thân chúng ta do đó đối với chúng ta để nhận ra sự hư không của mình! Đây là nền tảng vững vàng mà sự khiêm nhường nhắm tới! Đó là niềm xác tín rõ ràng là chân thành và bình an là tự thân chúng ta, chúng ta chẳng là gì, chúng ta chẳng thể nghĩ được gì, chúng ta chẳng thể làm được gì. “Không có thầy anh em không thể làm gì được”, Chúa Giêsu nói (Ga 15:5), và vị tông đồ nói thêm, “Không phải vì tự cho chúng tôi, chúng tôi có khả năng để nghĩ rằng mình làm được gì...” (x. 2 Cr 3:5). Chúng ta có thể sử dụng một trong hai câu nói này, tùy theo hoàn cảnh, như là “lưỡi gươm thật sự của Thần Khí” để cắt đi một cơn cám dỗ, một tư tưởng, bất cứ một sự tự mãn nào. “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?” Hiệu quả của lời Thiên Chúa được kinh nghiệm trước hết là khi chúng ta áp dụng lời ấy cho bản thân chúng ta hơn là khi chúng ta áp dụng lời ấy cho người khác.

Bằng cách này chúng ta bắt đầu khám phá ra bản chất thật về tình trạng hư không của chúng ta, vốn không phải là sự hư không thuần túy và giản đơn, “một sự hư không vô tội”. Chúng ta có thể nắm bắt được mục tiêu tối hậu mà lời của Thiên Chúa muốn dẫn chúng ta đến, vốn là nhận biết chúng ta thật sự là gì: một sự chẳng là gì kiêu ngạo! Tôi là người ấy “người tin rằng mình là một điều gì đó” trong khi tôi chẳng là gì; tôi là người chẳng có gì mà tôi lại không nhận lãnh nhưng là người luôn luôn huênh hoang – hoặc bị cám dỗ để huênh hoang – về một điều như thể là tôi đã không nhận lãnh.

Đây không phải là một hoàn cảnh chỉ đối với một số người mà là một sự bất hạnh đối với tất cả chúng ta. Đây là một lối định nghĩa về “con người cũ”, một người chẳng là gì mà lịa nghĩ mình là gì đó, một sự chẳng là gì ngạo mạn. Chính bản thân vị tông đồ thú nhận điều mà Ngài khám phá ra khi Ngài đi xuống tận đáy tâm hồn mình. “Tôi đã khám phá”, Ngài nói, “một luật khác ở nơi tôi... Tôi khám phá ra sự tội ở trong tôi.... Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải tháot tôi khỏi thân xác phải chết này?” (x. Rm 7:14:25). “Luật khác” ấy, “tội đang ở trong tôi” ấy, đối với Thánh Phaolô, như chúng ta biết, là sự tự tôn vinh, sự ngạo mạn, sự khoác lác ở trong chính bản thân chúng ta.

Ở cuối hành trình đi xuống nội tại của chúng ta, do đó, chúng ta không khám phá ra sự khiêm nhường ở nơi chính bản thân chúng ta mà là sự kiêu ngạo. Tuy nhiên, sự khám phá rất quan trọng mà chúng ta lại tự hào cách triệt để - và đó là sai lỗi của chúng ta, chứ không phải của Thiên Chúa, vì chúng ta trở nên kiêu ngạo qua việc sử dụng sai sự tự do của chúng ta – mà ở trong chính nó là sự khiêm nhường vì đó là sự thật. Khi đã khám phá ra điều đặt ra ở cuối hành trình này, hay ngay cả chỉ mới thoáng nhìn thấy nó từ xa qua lời của Thiên Chúa, là một ân sủng lớn lao. Sự khám phá ấy mang lại cho chúng ta một sự bình an mới, giống như một người trong thời chiến khám phá ra rằng bên dưới ngôi nhà của mình, thậm chí là chưa rời bỏ nó, có một nơi cư ngụ an toàn mà bom đạn không thể xâm phạm vào.

Một bậc thầy thiêng liêng vĩ đại, Thánh Angela Foligno, khi Ngài gần qua đời, đã thốt lên, “Ôi một sự hư không chưa biết đến! Ôi một sự hư không chưa biết đến! Thật sự một linh hồn không thể có một sự nhận biết rõ ràng trong thế gian này hơn là biết đến tình trạng hư không của chính nó và ở trong chính nơi cư ngụ của nó”.[2] Vị thánh ấy đã dạy cho những người con thiêng liêng của mình hãy làm bất cứ điều gì cần thiết để đi vào lại trong căn phòng ấy càng nhanh càng tốt bất cứ khi nào họ đã rời khỏi đó vì bất cứ lý do nào. Chúng ta cần phải làm điều mà các thọ tạo nhỏ bé thực hiện là những thọ tạo không bao giờ rời khỏi lối vào hang của chúng như là để đi vào lại một cách nhanh chóng trước dấu hiệu đầu tiên của sự rắc rối.

Có một bí mật tuyệt vời kín ẩn trong lời khuyên này, một sự thật nhiệm mầu được kinh nghiệm khi chúng ta thử. Chúng ta khám phá ra rằng một căn phòng thật sự tồn tại là chúng ta có thể thật sự đi vào bất cứ khi nào chúng ta muốn. Nó hệ tại trong sự thinh lặng, tư tưởng thanh bình của việc chẳng là gì, một sự chẳng là gì kiêu hãnh. Khi chúng ta ở trong căn phòng ấy thì chúng ta không còn thấy những khiếm khuyết ở nơi người thân cận của chúng ta, hoặc chúng ta sẽ nhìn họ dưới một ánh sáng khác. Chúng ta hiểu rằng, với ân sủng và thực hành, thì hoàn toàn có thể đạt được điều mà vị tông đồ nói, mặc dù điều đó dường như là thái quá ngay lúc đầu “hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình” (Pl 2:3) – ít nhất giờ đây chúng ta có thể hiểu điều này là khả thi thế nào đối với các vị thánh.

Tuy nhiên, khép kín bản thân vào trong căn phòng này thì hoàn toàn khác với việc khép lại ở nơi chính mình: thay vào đó thì đây là một việc mở bản thân ra cho người khác, cho việc là, cho việc là đối tượng của mọi sự vốn ngược lại với điều mà các kẻ thù của sự khiêm nhường Kitô Giáo vẫn luôn nghĩ. Đó là một sự khép lại bản thân cho tình trạng qui ngã, chứ không phải là một sự khép bản thân trong tình trạng qui hướng về bản thân. Đó là một sự chiến thắng trước một trong những sự dữ mà ngay cả nền tâm lý học hiện đại phán quyết là chết chóc đối với một con người: chủ nghĩa tự yêu mình.

Hơn thế, kẻ thù không thể xâm nhập vào căn phòng này. Một ngày kia Thánh Anthony Cả có một thị kiến mà trong đó trong một khoảnh khắc Ngài đã thấy biết bao nhiêu cái bẫy mà kẻ thù đã giăng ra trên khắp thế giới và càm ràm “Điều gì có thể vượt qua được những cái bẫy này?’ Rồi tôi nghe một tiếng nói với tôi, ‘Sự khiêm nhường’”.[3]

Tin mừng trình bày cho chúng ta với một khuôn mẫu vượt quá sự khiểu biết này về sự khiêm nhường – sự thật, và đó là Mẹ Maria. Trong Kinh “Magnificat” Mẹ Maria nói rằng Thiên Chúa “nhìn đến phận hèn tôi tớ Chúa” (Trong tiếng Latinh Vulgate, humilitatem, sự khiêm nhường!] (x. Lc 1:48). Nhưng Đức Trinh Nữ Diễm Phúc có ý gì với từ “khiêm nhường” (tapeinosis)”? Không liên quan gì đến nhân đức khiêm nhường cả mà về tình trạng khiêm nhường của Mẹ, hay ít nhất là Mẹ thuộc vào nhóm người khiêm nhường và người nghèo mà trong bài ngợi khen của Mẹ nói đến sau đó. Điều này được xác định bởi sự tham chiếu cụ thể với bài ca của bà Hannah, mẹ ông Samuel, đoạn có cùng một từ được sử dụng (tapeinosis), và từ đó rõ ràng nói đến ở đó là nỗi thống khổ và tình trạng vô sinh của bà Hannah, tình trạng thấp hèn của bà, chứ không phải về thái độ khiêm nhường.

Sự khác biệt giữa nhân đức và tình trạng thì rõ hiển nhiên. Làm sao lại có thể khi nghĩ rằng Mẹ Maria đang tôn vinh sự khiêm nhường của Mẹ mà từ đó lại không phá hủy sự khiêm nhường của Mẹ? Làm thế nào mà có thể nghĩ rằng Mẹ Maria đang gán sự chọn lựa mà Thiên Chúa dành cho Mẹ với sự khiêm nhường của Mẹ mà lại không phá hủy sự nhưng không của sự chọn lựa ấy và làm cho toàn bộ đời sống của Mẹ Maria trở nên không thể hiểu nổi, khởi đầu với Sự Trinh Thai của Mẹ? Để nhấn mạnh tầm quan trọng của sự khiêm nhường, ai đó đã viết một cách xuẩn ngốc rằng Mẹ Maria “không nhận ra ở nơi bản thân Mẹ bất cứ một nhân đức nào trừ đức khiêm nhường”, như thể bằng cách này chúng ta đang dành danh dự lớn lao cho nhân đức ấy hơn là tạo nên mối nguy hại cho nhân đức này. Nhân đức khiêm nhường có một tình trạng đặc biệt: người thủ đắc nó thì không tin là họ đã thủ đắc nó, và người nghĩ rằng họ có nhân đức này thì lại không có nó. Chỉ một mình Chúa Giêsu mới có thể tự tuyên bố chính bản thân Ngài là “khiêm nhượng trong lòng” và thật sự là thế. Đây là nét đặc trưng độc nhất và có một không hai của sự khiêm nhường nơi Thiên-Chúa-Làm-Người.

Do đó, Đức Maria không có nhân đức khiêm nhường sao? Dĩ nhiên là Mẹ có, và Mẹ có nó ở mức độ cao nhất, nhưng chỉ một mình Thiên Chúa biết điều đó, không phải Mẹ Maria. Rõ ràng là điều này, thực ra, tạo nên một giá trị vô song của sự khiêm nhương thật: hương thơm của nhân đức này được chỉ một mình Thiên Chúa tiếp nhận, chứ không phải bất cứ ai phát ra hương thơm ấy. Linh hồn Mẹ Maria, thoát khỏi mọi nhục dục thật và tội lỗi, khi đối diện với hoàn cảnh mới được tạo ra bởi tình mẫu tử thánh của Mẹ, đã nhanh chóng và tự nhiên đi đến một điểm của sự thật – tình trạng hư không của Mẹ - và không có sự gì và không một ai đã có thể tách lìa Mẹ ra khỏi điều đó.

Trong sự tôn trọng này thì sự khiêm nhường của Mẹ Thiên Chúa xuất hiện như một phép lạ độc nhất của ân sủng. Martin Luther đã viết, “Mặc dù Mẹ đã kinh nghiệm một hoạt động vượt quá sự tuyệt vời của Thiên Chúa ở trong chính Mẹ, nhưng Mẹ vẫn chưa bao giờ nghĩ đến việc tôn vinh chính Mẹ vượt trên một sự sống phải chết khiêm tốn nhất...Tinh thần tuyệt vời và thuần khiết của Mẹ Maria thì xứng đáng với cả lời khen ngợi thậm chí lớn lao hơn, vì, khi có những vinh dự choáng ngợp như thế rợp xuống trên đầu Mẹ, thì Mẹ không để cho chúng cám dỗ Mẹ, nhưng hành động như thể Mẹ không hề hay biết điều đó, [và] vẫn ‘luôn đúng đắn trong đường lối’”.[4]

Sự điều độ của Mẹ Maria thì vượt xa khi so sánh ngay cả nơi các thánh. Mẹ có thể xử lý áp lực lớn lao của tư tưởng này: “Ngài là Mẹ của Đấng Thiên Sai, Mẹ Thiên Chúa! Ngài là điều mà hết mọi người phụ nữ giữa dân của Mẹ đã mong đợi trở thành!” Bà Elizabeth đã thốt lên, “Bởi đâu tôi được phúc này là Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi như vậy?” (Lc 1:43), và Mẹ Maria đáp lại, “Ngài đã nhìn đến phận hèn tôi tớ Ngài!” (x. Lc 1:48). Mẹ đã nhận chìm bản thân Mẹ vào trong tình trạng hư không và chỉ được Thiên Chúa “tôn vinh”, khi nói, “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa” (Lc 1:46) – Thiên Chúa, chứ không phải nữ tỳ. Mẹ Maria thật sự là một tuyệt tác của ân sủng Thiên Chúa.

3. Sự Khiêm Nhường và Sự Hạ Nhục

Chúng ta đừng nên tự cám dỗ bản thân chúng ta vào việc nghĩ rằng chúng ta đã đạt được sự khiêm nhường chỉ vì lời của Thiên Chúa và gương của Mẹ Maria đã dẫn chúng ta đến chỗ khám phá ra sự hư không của chúng ta. Mức độ khiêm nhường của chúng ta được thấy khi bước đầu tiên chuyển từ chúng ta sang người khác, đó là, khi chúng ta không chỉ là người nhận ra được những yếu đuối và sai lỗi của chúng ta mà là khi người khác nhận ra – khi chúng ta có khả năng không chỉ là nói với bản thân chúng ta về sự thật mà còn phải sẵn lòng để cho phép người khác nói điều ấy với chúng ta nữa. Nói cách khác, sự khiêm nhường của chúng ta là thật khi chúng ta chấp nhận những lời khiển trách, những sửa lỗi, sự chỉ trích, và những hạ nhục. Tác giả cuốn Gương Đức Kitô nói, “Nhiều lúc vì phần ích của chúng ta mà khi người khác biết được những khiếm khuyết của chúng ta và thậm chí quở trách chúng ta vì những khiếm khuyết ấy vì từ đó chúng giúp chúng ta vẫn luôn khiêm nhường”.[5]

Khi tuyên bố chết đi lòng kiêu hãnh của chúng ta và tự bản thân chúng ta hạ gục nó mà không có bất cứ ai can thiệp vào từ bên ngoài thì giống như việc sử dụng chính tay của mình để đánh phạt bản thân chúng ta: chúng ta sẽ không bao giờ làm tổn thương chính mình. Điều đó giống như việc muốn tự thân chúng ta cắt đi một khối u. Có những người (và tôi chắc chắn nằm trong số họ) có khả năng nói – thậm chí cách chân thành – mọi điều tồi tệ tự tưởng nghĩ về chính họ, những người mà, trong một cử hành sám hối, đưa ra những lời tự tố cáo với sự thẳng thắn và can đảm đáng nể phục. Nhưng nếu có bất cứ ai quanh họ bắt đầu đón nhận sự thú nhận của họ cách nghiêm túc, hoặc nếu họ dám đề cập đến chúng là một phần nhỏ của điều mà họ nói về phần của riêng họ, thì sự bùng nổ xuất hiện. Rõ ràng là vẫn còn cả một con đường dài phía trước để đi đến sự khiêm nhường thật sự và sự thật khiêm nhường.

Khi tôi tìm cách nhận vinh quang từ một ai đó cho một điều gì đó tôi nói hay làm, thì hầu như luôn chắc chắn rằng cùng một người ấy đang tìm kiếm nhận lãnh vinh quang từ tôi vì một điều mà người ấy làm hay nói khi đáp trả. Và vì thế cả hai chúng ta đều đang tìm kiếm hoặc vinh quang riêng và cả hai chúng ta đều không đạt được điều ấy. Và nếu, do tình cờ, mà một trong hai chúng ta nhận lãnh được vinh quang, thì chỉ là “hư vinh”, vinh quang trống rỗng mà số phận là bay lên theo khói bay lúc chết. Nhưng kết quả thì thật khủng khiếp. Ngay cả Chúa Giêsu đã liên hệ việc kiếm vinh quang của bản thân với sự không thể tin. Ngài nói với những người Pharisêu, “Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được?” (Ga 5:44).

Khi chúng ta thấy bản thân mình bị dính vào trong những tư tưởng và động lực vì vinh quang con người, thì chúng ta hãy quăng vào trong mớ hỗn độn ấy của những tư tưởng, giống như một ngọn đuốc cháy, lời mà chính Chúa Giêsu đã nói và đã để lại cho chúng ta: “tôi không tìm vinh quang cho mình” (Ga 8:50). Lời này có sức mạnh hầu như mang tính bí tích của việc vượt qua khỏi điều mà lời ấy nói đến và làm tan biến những tư tưởng như thế.

Việc theo đuổi đức khiêm nhường là một trận chiến kéo dài hết cả đời chúng ta và chạm vào mọi lãnh vực của đời sống. Sự kiêu hãnh có khả năng được nuôi dưỡng cả bởi hoặc sự dữ và sự tốt lành và do đó có khả năng tồn tại trong mọi hoàn cảnh và mọi “bầu khí”. Thực vậy, trái lại với mọi tính xấu khác, sự tốt lành, thay vì sự dữ, là mặt trận đẫm máu được yêu thích hơn cả cho loại “virus” khủng khiếp này. Blaise Pascal từng viết,

Sự hư vinh thì bén rễ quá sâu vào trong tâm hồn con người đến nỗi một người lính, một người vô giáo dục, người đầu bếp, một người mở khóa, đều khoác lác và nhiều người có cả những người hâm mộ; và các triết gia cũng mong đợi có những người hâm mộ nữa; và những người viết bài chống lại chúng cũng muốn vui hưởng danh tiếng của việc viết hay; và những người đọc những người viết hay này thì cũng muốn vui hưởng niềm vinh dự của việc đã đọc họ; và tôi, người đang viết điều này, có lẽ có cùng một khát khao; và có lẽ cả những người đọc bài viết này nữa.[6]

Sự hư vinh có khả năng làm biết đổi ngay cả sự nỗ lực đạt tới sự khiêm nhường của chúng ta thành một hành động của lòng kiêu hãnh, nhưng với ân sủng chúng ta có thể thoát ra một cách vinh thắng ngay cả khỏi trận chiến khốc liệt này. Thực ra nếu “con người cũ” của bạn có thể thành công trong việc biến đổi các hành động khiêm nhường của bạn thánh những hành động kiêu hãnh, thì với ân sủng, những hành động kiêu hãnh của bạn sẽ có thể được biến đổi thành hành động khiêm nhường ngang qua việc bạn nhìn nhận chúng – khiêm tốn nhìn nhận rằng bạn đang chẳng tự hào về điều gì cả. Và do đó Thiên Chúa được tôn vinh ngay cả với chính lòng kiêu hãnh vốn rất là bản chất của bạn.

Trong trận chiến này Thiên Chúa thường đến để giúp dân của Ngài bằng một phương dược vốn khá hiệu nghiệm và độc đáo. Thánh Phaolô viết, “để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Xatan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại” (2 Cr 12:7). Để con người “khỏi tự cao tự đại”, Thiên Chúa làm cho chúng ta đứng vững với một kiểu neo: Ngài gán “những gánh nặng lên lưng chúng ta” (Tv 66:11). Chúng ta không biết chính xác “cái dằm đâm vào thân xác” là gì và “thuộc hạ của Xatan” là gì đối với Phaolô, nhưng chúng ta biết rất rõ chúng là gì với chúng ta! Bất cứ ai muốn đi theo Chúa và phục vụ Giáo Hội đều có chúng. Chúng là những hoàn cảnh bị nhục mà chúng ta liên tục bị nhắc nhớ đến, đôi khi là ngày đêm, một điều gợi nhắc lại thực tại đắng cay về điều mà chúng ta là. Đó có thể là một khuyết điểm, một căn bệnh, một yếu đuối, hay một tình trạng bất lực mà Thiên Chúa cho phép chúng ta nhận lãnh bất chấp lời van nài của chúng ta. Đó có thể là một cơn cám dỗ thường trực mang tính hạ nhục và có lẽ rõ ràng là một cơn cám dỗ để kiêu hãnh! Có lẽ đó là một người mà chúng ta sống cùng, mọt người mà, bất chấp thiện chí của cả hai phía, có khả năng làm lộ rõ sự yếu hèn của chúng ta, để loại bỏ sự tự cao tự đại của chúng ta.

Đôi khi đó là một điều gì đó thậm chí còn nghiêm trọng hơn: có những hoàn cảnh mà trong đó người tôi tớ của Thiên Chúa bị buộc phải chứng kiến một cách bất lực sự thất bại của tất cả những nỗ lực của mình và thấy mọi sự lớn hơn mình vốn làm cho người ấy kinh nghiệm trước hết sự bất lực của mình khi đối diện với sức mạnh của sự dữ và bóng tối. Cách đặc biệt trong những trường hợp này mà người ấy học được “tự khiêm tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa” (x. 1 Pr 5:6) nghĩa là gì.

Sự khiêm nhường quá quan trọng không chỉ cho sự tiến bộ cá nhân trên con đường nên thánh, mà nó còn thiết yếu cho việc thực thi cách đúng đắn đời sống cộng đoàn và cho việc xây dựng Giáo Hội. Tôi tin rằng sự khiêm nhường là một sự cách điện cho đời sống của Giáo Hội. Sự cách điện thì hết sức quan rtongj và thiết yếu cho những tiến bộ trong lãnh vực điện lực. Thực vậy, dòng diện càng căng và càng mạnh khi đi qua một sợi dây, thì sự cách điện càng phải kháng mạnh để ngăn chặn dòng diện bị rò rỉ ra nền đất hay gây ra những vụ chập mạch. Những tiến bộ trong lãnh vực điện lực phải được làm cho phù hợp với cùng những tiến bộ trong công nghệ cách điện. Trong đời sống thiêng liêng, sự khiêm nhường là sự cách điện lớn lao cho phép dòng chảy thánh của ân sủng chảy qua một người mà không bị phát tán hay, tệ hơn, tạo ra những ngọn lửa của sự kiêu hãnh và ganh đua.

Chúng ta hãy kết thúc bằng những lời của một thánh vịnh vốn sẽ giúp cho chúng ta biến thành một lời cầu nguyện giáo huấn mà vị tông đồ đã nói với chúng ta bằng giáo huấn của Ngài về sự khiêm nhường.

Lòng con chẳng dám tự cao,

mắt con chẳng dám tự hào, CHÚA ơi!

Ðường cao vọng, chẳng đời nào bước,

việc diệu kỳ vượt sức, chẳng cầu;

hồn con, con vẫn trước sau

giữ cho thinh lặng, giữ sao thanh bình.

Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ,

trong con, hồn lặng lẽ an vui.

Cậy vào CHÚA, Ít-ra-en ơi,

từ nay đến mãi muôn đời muôn năm.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ ZENIT)

 

[1] Teresa of Ávila, Interior Castle, VI, ch. 10, vol. 2, Complete Works of St. Teresa of Ávila, trans. and ed. Allison Peers (New York: Burns & Oates, Dover, 2002), p. 323.

[2] St. Angela of Foligno, The Book of the Blessed Angela of Foligno (Instructions), in Complete Works, trans. Paul Lachance (Mahwah, NJ: Paulist Press, 1993), pp. 315-316.

[3] St. Anthony the Great, Selections from the Sayings of the Desert Fathers, trans. Benedicta Ward (Kalamazoo, MI: Cistercian Publications, 1975), p. 8.

[4] Martin Luther, “The Magnificat,” trans. A. T. W. Steinhaeuser, vol. 21, Luther’s Works, ed. Jaroslav Pelikan (St. Louis, MO: Concordia, 1956), pp. 308, 311.

[5] Thomas à Kempis, The Imitation of Christ, 2, 1, trans. Joseph N. Tylenda (New York: Vintage Classics, 1998), p. 50.

[6] Blaise Pascal, Pascal’s Pensées, trans. Martin Turnell (New York: Harper & Brothers, 1962), p. 134;  Braunschweig ed., #150.