Skip to main content
Cha Cantalamessa - Giảng Thuyết Của Đức Giáo Hoàng Phanxicô (AFP)

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Tĩnh Tâm Tuần IV Mùa Chay 2017

CHÚA THÁNH THẦN GIỚI THIỆU CHO CHÚNG TA MẦU NHIỆM VỀ SỰ PHỤC SINH CỦA ĐỨC KITÔ

Trong hai bài suy niệm Mùa Chay đầu tiên, chúng ta đã suy tư về Chúa Thánh Thần là Đấng dẫn dắt chúng ta vào toàn bộ sự thật về con người của Đức Kitô, làm cho Ngài được loan báo là “Chúa” và “Thiên Chúa thật”. Trong bài suy niệm mới nhất chúng ta đi từ hữu thể của Đức Kitô đến công việc của Đức Kitô, từ con người của Ngài đến hành động của Ngài, và đặc biệt trong mầu nhiệm về cái chết cứu chuộc của Ngài. Hôm nay, tôi cho rằng chúng ta sẽ suy tư về mầu nhiệm về Sự Phục Sinh của Ngài và về sự phục sinh của chúng ta.

Thánh Phaolô đã diễn tả những nét đặc tính của sự phục sinh của Chúa Giêsu từ cõi chết đến công việc của Chúa Thánh Thần. Ngài nói rằng Đức Kitô là “Ðấng đã từ cõi chết sống lại nhờ Thánh Thần, Người đã đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng” (Rm 1:4). Trong Đức Kitô là sự thành toàn của lời tiên báo quan trọng mà Êdêkien đã nói về Thần Khí là Đấng đi vào trong những bộ xương khô, làm cho những bộ xương này sống lại từ các nấm mồ, và làm cho vô số sự chết này trở thành “một nơi chứa đựng hết sức lớn lao” của những người được phục sinh trở về với sự sống và niềm hy vọng (x. Ed 37:1-14).

Nhưng đây không phải là dòng tư tưởng mà tôi muốn tiếp tục trong bài suy niệm này. Làm cho Chúa Thánh Thần trở thành một tác nhân khích lệ chónh cho tất cả mọi nền thần học (điều này có ý định về điều được gọi là “Thần Học Ngôi Ba”) không có nghĩa là buộc đưa Chúa Thánh Thần vào trong mọi sự khẳng định, đề cập Ngài ở mọi điểm nhấn. Điều này không có nghĩa là trong bản tính của Đấng Bảo Trợ, Đấng giống như ánh sáng, soi sáng hết mọi sự trong khi, có thể nói, chính Ngài vẫn ở trong bối cảnh như thể phía sau hậu trường. Hơn cả việc nói “về” Thần Khí, Thần Học Ngôi Ba có liên hệ đến việc nói “trong” Thần Khí, bằng tất cả mọi sự vốn là sự thay đổi đơn giản này về giới từ kèm theo.

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Tĩnh Tâm Tuần I Mùa Chay 2017

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Tĩnh Tâm Tuần II Mùa Chay 2017

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Tĩnh Tâm Tuần III Mùa Chay 2017

1. Sự Phục Sinh Của Đức Kitô: Một Cách Tiếp Cận Lịch Sử

Trước hết, chúng ta hãy nói một điều gì đó về sự phục sinh của Đức Kitô như là một “sự kiện” lịch sử. Chúng ta có thể định nghĩa sự phục sinh như là một sự kiện lịch sử theo nghĩa bình thường của từ này – một điều gì đó thật sự đã xảy ra – cho đến giờ như một lịch sử trái lại với thần thoại hay huyền thoại? Để diễn tả nó bằng những từ của cuộc tranh cãi gần đây: Liệu Chúa Giêsu có sống lại chỉ trong nghĩa truyền giáo, nghĩa là, trong viêc loan báo của Giáo Hội (như một số đã khẳng định trong sự xuất hiện của Rudolf Bultmann), hoặc liệu Ngài cũng sống lại trong thực tế và trong lịch sử không? Nói cách khác, có phải Ngài, là con người của Chúa Giêsu, thực sự sống lại, hoặc liệu đó chỉ là căn nguyên của Ngài sống lại – theo nghĩa ẩn dụ mà trong đó “sống lại” có nghĩa là sự sống sót hoặc là sự tái xuất hiện vinh thắng của một ý tưởng sau khi chết của một người được cho là đã chết?

Do đó, chúng ta hãy xem, theo nghĩa nào có thể có một cách tiếp cận lịch sử đối với sự phục sinh của Đức Kitô. Không phải một số chúng ta ở đây cần được thuyết phục về điều đó, mà là, như Luca nói ngay khởi đầu của Tin Mừng của Ngài, “để ngài sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc” (Lc 1:4) và liên quan đến điều mà chúng ta thông truyền cho người khác.

Đức tin của các môn đệ, với một vài ngoại trừ (Gioan và người phụ nữ nhiệt thành), không nhất quán dưới cuộc thử thách về kết cục bi đát của Chúa Giêsu. Sau cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài, một tấm màn bao phủ hết mọi sự. Tình trạng nội tâm của các môn đệ cho thấy qua những lời của hai môn đệ trên đường đi Emmau: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người... Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi” (Lc 24:21. Đức tin bị bế tắc. Vụ án của Chúa Giêsu bị coi là đóng lại.

Giờ đây – vẫn từ quan điểm của sử gia – chúng ta hãy tiến về phía trước một năm, hay thậm chí vài tuần sau đó. Chúng ta thấy điều gì? Một nhóm người, cùng là những người đã ở cùng Chúa Giêsu, những người hiệ đang lặp lại cách lớn tiếng rằng Chúa Giêsu Nazareth là Đấng Messia, Chúa, Con Thiên Chúa, rằng Ngài sống lại và sẽ lại đến để phán xét thế gian. Vụ án của Chúa Giêsu không chỉ được mở lại, mà trong một khoảng thời gian ngắn vụ án này cũng được chuyển sang một chiều kích tuyệt đối và hoàn vũ. Con người này giờ thuộc về sự hứng thú bây giờ không chỉ là với người dân Israen mà còn cho tất cả mọi người ở mọi thời đại. “Viên đá người thợ xây loại bỏ”, Thánh Phêrô, “đã trở thành viên đá góc tường” (1 Pr 2:7), đó là, sự khởi đầu của một nền nhân loại mới. Từ giờ trở đi, bất cứ ai biết hay không biết, thì không có danh nào dưới gầm trời này lại được ban cho con người mà qua đó họ được cứu trừ danh của Đức Giêsu Nazareth (x. Cv 4:12).

Điều gì tạo nên một sự thay đổi như thế ở nơi những con người cũ này là những người trước đó đã chối bỏ Chúa Giêsu hoặc chạy trốn nhưng giờ thành những người loan báo những điều này cách công khai, những thiết lập những giáo hội, và những người giờ đây thậm chí để cho chính bản thân họ bị giam tù, đánh đòn, và bị giết vì Ngài? Tất cả họ đều trả lời trong sự hiệp nhất: “Ngài sống lại rồi! Chúng tôi đã thấy Ngài!” Hành động cuối cùng mà một sử gia có thể thực hiện, trước việc chạm tới sàn của niềm tin, là xác định câu trả lời này.

Phục sinh là một biến cố lịch sử theo một nghĩa rất đặc biệt. Nó ở bên trong ranh giới của lịch sử, giống như một đường chia cách giữa biển và đất liền. Nó ở bên trong và đồng thời ở bên ngoài của lịch sử. Cùng với sự phục sinh, lịch sử tự mở ra chính nó cho điều vượt quá lịch sử, đến cánh chung. Do đó, sự phục sinh tượng trưng, theo một nghĩa nhất định, cho một sự chi tạy với lịch sử và một sự dịch chuyển vượt ra khỏi lịch sử, giống như công trình tạo dựng đã tạo ra ngay từ khởi đầu của nó. Điều này làm cho sự phục sinh và thậm chí cả điều đó không thể được chứng thực và đi vào trong chính nó bởi những kiểu suy tư của chúng ta vốn toàn toàn bị trói buộc vào kinh nghiệm của chúng ta về thời gian và không gian. Không ai thực sự hiện diện vào thời khắc mà Chúa Giêsu đã phục sinh. Không ai có thể nói rằng họ thấy Chúa Giêsu được phục sinh nhưng chỉ nói rằng họ thấy Ngài khi Ngài đã phục sinh. Nhưng họ thấy ngôi mộ trống của Ngài.

Do đó, sự phục sinh được biết đến là sự đến sau, sau sự thật. Điều đó giống như là sự hiện diện thể lý của Ngôi Lời nơi Đức Maria sau đó thể hiện sự Nhập Thể của Ngài; Điều đó cũng giống như sự hiện diện tinh thần của Đức Kitô trong cộng đoàn sau đó, được chứng thực bởi những lần hiện ra của Ngài, vốn cho thấy Ngài đã phục sinh. Điều này giải thích vì sao không một sử gia thế tục nào lại nói một lời về sự phục sinh của Ngài. Tacitus, một người thực sự ghi lại cái chết của một “Đức Kitô” vào thời Quan Phong-xi-ô Phi-la-tô,[1] im tiếng về sự phục sinh. Biến cố đó không có sự tương thích hay ý nghĩa trừ khi người ta kinh nghiệm sau đó trong cộng đoàn.

Vậy thì chúng ta nói về cách tiếp cận lịch sử đối với sự phục sinh theo nghĩa nào? Hai sự thật được đưa ra để suy xét đối với các sử gia vốn giúp cho họ nói về sự phục sinh: trước hết, niềm tin đột ngột và không thể giải thích của các môn đệ, một niềm tin quá cứng đầu đến nỗi nó đứng vững ngay cả trước sự tử đạo; thứ hai, sự giải thích về một niềm tin như vậy đã được để lại cho chúng ta bởi những người có liên quan. Một nhà chú giải cao siêu đã viết, “Trong giờ khủng hoảng [sau khi Chúa Giêsu bị đóng đinh] các môn đệ không có...sự chắc chắn [về sự phục sinh]. Họ đã bỏ chạy (Mc 14:50), và đã đầu hàng vụ án của Chúa Giêsu cho sự mất mát (Lc 24:19-21). Một điều gì đó phải xảy ra ở giữa, điều mà trong một thời gian ngắn kh6ong chỉ tạo nên một cú lội ngược dòng ngoạn mục về thái độ của họ và còn giúp họ tham gia vào một hoạt động được đổi mới và thiết lập nên cộng đồng Kitô Giáo đầu tiên. ‘Điều gì đó’ này là hạt nhân lịch sử của niềm tin Phục Sinh”.[2]

Người ta đã quan sát cách đúng đắn rằng nếu tính cách lịch sử và khách quan của sự phục sinh bị chối bỏ, thì sự khai sinh của niềm tin và của Giáo Hội sẽ là một mầu nhiệm thậm chí còn không thể giải thích được hơn nhiều so với chính sự phục sinh: “Giả định rằng toàn bộ thời gian lớn lao của lịch sự Kitô Giáo là một hình chóp ngược được cân bằng trên đỉnh của một sự xuất hiện nhỏ thì chắc chắn là một điều ít khả năng hơn là toàn bộ sự kiện ấy, sự xuất hiện cộng thêm ý nghĩa rõ ràng trong đó, thật sự chiếm một vị trí trong lịch sử ít nhất là so sánh được với điều mà Kinh Thánh Tân Ước gán cho nó”.[3]

Do đó đâu là điểm cuối mà cuộc nghiên cứu lịch sử có thể chạm đến liên quan đến sự phục sinh? Chúng ta có thể tìm thấy điều đó trong những lời của các môn đệ trên đường Emmaus. Một số các môn đệ vào buổi sáng Phục Sinh đã đi ra mộ của Chúa Giêsu và thấy rằng mọi thứ như những người phụ nữ tường luật lại khi họ ở đó trước đó, “nhưng Ngài thì họ không thấy” (Lc 24:24). Lịch sử cũng đi đến mộ của Chúa Giêsu và phải đạt được những điều vốn như là những chứng nhân đã nói. Nhưng Ngài, Đấng Phục Sinh, lịch sử không thấy. Thật chưa đủ để đạt được những sự thật một cách lịch sử; cũng cần có một việc thấy Đấng Phục Sinh, và lịch sử không thể mang lại điều đó; chỉ niềm tin mới có thể.[4] Một người đi từ đất liền để ra bở biển phải dừng lại ngay; người ấy không thể tiến bước bằng cái nhìn của Ngài, chứ không phải với đôi chân của Ngài.

2. Ý Nghĩa Tông Đồ của Sự Phục Sinh

Khi chúng ta đi từ lịch sử đến niềm tin, thì cách nói về sự phục sinh cũng thay đổi. Ngôn ngữ của Tân Ước và phụng vụ của Giáo Hội mang tính xác định, thẩm quyền, và không dựa chính nó trên những thể hiện mang tính biện chứng. “Ðức Kitô đã chỗi dậy từ cõi chết” (1 Cr 15:20), Thánh Phaolô nói. Giai đoạn. Giờ đây chúng ta đi đến mức độ của niềm tin và không còn ở mức độ của tranh luận lịch sử nữa. Đó là điều mà chúng ta gọi là truyền giáo (kerygma). “Scimus Christum surrexisse a mortuis vere,” Phụng Vụ ngày Phục Sinh nói: “Chúng ta biết rằng Đức Kitô thực sự sống lại từ cõi chết”. Không chỉ chúng ta tin điều đó, dù đã tin điều đó, mà chúng ta cũng biết điều đó là thật, và chúng ta chắc chắn về điều đó. Chứng cứ chắc chắn nhất của sự phục sinh xuất hiện sau khi chúng ta đã tin, không phải trước đó, vì chính tại điểm đó mà chúng ta kinh nghiệm rằng Chúa Giêsu đang sống.

Nhưng sự phục sinh chính xác là gì từ quan điểm của đức tin? Đó là việc làm chứng của Thiên Chúa về Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa là Cha, Đấng đã làm chứng cho Đức Giêsu Nazareth trong suốt đời Ngài qua các dấu chỉ và các dấu lạ, giờ đây đưa ra một tấm niêm phong vĩnh viễn cho sự cổ võ của Ngài dành cho Đức Giêsu bằng việc phục sinh Ngài từ cõi chết. Thánh Phaolô, trong diễn từ của Ngài tại Athens, thiết lập nên điều này theo cách này: “Qua việc phục sinh Ngài từ cõi chết, Thiên Chúa đã đảm bảo về Ngài cho hết mọi người” (x. Cv 17:31). Sự phục sinh là tiếng “có” mạnh mẽ của Thiên Chúa, và “tiếng Amen” của Ngài trước sự sống của Chúa Giêsu Con Ngài.

Cái chết của Đức Kitô tự thân nó chưa đủ để làm chứng cho sự thật về căn nguyên của Ngài. Nhiều người – và chúng ta có một chứng cứ bi đát về những ngày ấy này – chết vì những căn nguyên lầm lạc, và ngay cả cho những căn nguyên sự dữ. Những cái chết của họ không làm cho căn nguyên của họ nên đúng; những cái chết của họ chỉ chứng minh rằng họ đã tin vào sự thật của căn nguyên ấy. Cái chết của Đức Kitô không phải là một sự đảm bảo cho sự thật của Ngài mà là về tình yêu của Ngài, bởi vì “Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu” (Ga 15:13).

Do đó, chỉ sự phục sinh mới thiết lập nên ấn niêm phong cho sự thánh thiêng đúng đắn của Đức Kitô. Đây là lý do vì sao mà một ngày kia Chúa Giêsu trả lời cho những người đòi hỏi Ngài một dấu chỉ, “Hãy cứ phá huỷ đền thờ này đi, và nội trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại” (x. Ga 2:18 tt), và ở một nơi khác Ngài nói, “Không có một dấu lạ nào được ban cho thế hệ này trừ dấu lạ ông Giôna, một người sau ba ngày trong bụng cá mập, đã thấy ánh sáng trở lại (x. Mt 16:4). Thánh Phaolô thật đúng khi xây dựng toàn bộ lâu đài đức tin trên nền tảng sự phục sinh: “Nếu Ðức Kitô đã không chỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng. Thế ra chúng tôi là những chứng nhân giả của Thiên Chúa... chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (1 Cr 15:14-15, 19). Chúng ta hiểu vì sao Thánh Augustine có thể nói rằng “niềm tin của người Kitô Hữu hệ tại ở nơi sự phục sinh của Đức Kitô”; mọi người, ngay cả dân ngoại, tin rằng Đức Kitô đã chết, nhưng chỉ người Kitô Hữu tin rằng Ngài sống lại, và không có một người Kitô Hữu nào lại không tin điều đó.[5]

3. Ý Nghĩa “Mầu Nhiệm” của Sự Phục Sinh Của Đức Kitô

Cho đến giờ thì nghĩ nghĩa tông đồ của sự phục sinh của Đức Kitô nhằm thiết lập sự đúng đắn cho sứ mạng và tính hợp pháp của sự mạng của Đức Kitô về lợi tuyên bố về thần tính của Ngài. Chúng ta cần phải thêm vào điều này một ý nghĩa hoàn toàn mới mà chúng ta có thể gọi là khía cạnh mầu nhiệm hay cứu chuộc ở điều có liên quan đến chúng ta là những tín hữu. Sự phục sinh của Đức Kitô có liên quan đến chúng ta và là một mầu nhiệm “đối với chúng ta” vì đó là nền tảng cho niềm hy vọng của chúng ta đối với sự phục sinh của chúng ta từ cõi chết:

Lại nữa, nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới (Rm 8:11).

Niềm tin vào một cuộc sống ở thế giới bên kia dường như theo một cách rõ ràng và cụ thể thì chỉ hướng về phần kết của Cựu Ước. Sách Macabê Quyển Thứ II thiết lập nên một chứng tá phát triển nhiều nhất của niềm tin này:  “Vua vũ trụ, Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời” (2 Mac 7:9; x. 2:1-14). Nhưng niềm tin này không xuất hiện cách đột ngột thuộc bất cứ nơi nào; nó được bén rễ chủ yếu trong mạc khải kinh thánh trước đó và đại diện cho kết luận tự nhiên và hoa cái càng trưởng thành hơn, có thể nói vậy.

Hai sự chắc chắn đặc biệt dẫn dân Israen đến với sự kết luận này: sự chắc chắn về sự toàn năng của Thiên Chúa và sự chắc chắn về sự không đủ và sự bất công của sự đề bù của thế gian. Dường như ngày càng có bằng chứng rõ ràng hơn – đặc biệt là sau kinh nghiệm lưu đày – mà số phận của người tốt trên thế giới này là như thế, không có niềm hy vọng về một phần thưởng khác dành cho người công chính sau khi chết, thật không thể để không rơi vào tình trạng tuyệt vọng. Thực vậy, trong cuộc sống này, những điều tương tự đã xảy ra cho người công chính và người hèn mạt, bất luận là hạnh phúc hay bất hạnh. Sách Giảng Viên trình bày sự thể hiện rõ ràng nhất về kết luận đắng cay này (x. Gv 7:15).

Suy tư của Chúa Giêsu về vấn đề này được thể hiện ở trong phần thảo luận của Ngài với những người Sa-đốc về số phận của người phụ nữ có bảy đời chồng (x. Lc 20:27-38). Trong khi tiếp tục bằng sự mạc khải kinh thánh xa xưa nhất, sự mạc khải của Mô-sê, những người Sa-đốc đã không chấp nhận giáo lý về sự phục sinh kẻ chết và coi đó là một sự sáng tạo vô căn cứ. Nói đến luật Mô-sê có liên hệ đến hôn nhân theo Lê-vi (x. Ds 25, đoạn mà một người goá không có con trai sẽ kết hôn với em chồng của bà), họ suy đoán về trường hợp giả định về một người phụ nữ đã cưới bảy đời chồng một cách liên tiếp dựa trên luật ấy. Cuối cùng, tin vào việc đã thể hiện sự ngu dốt về sự phục sinh, họ hỏi, “Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ?" (Lc 20:33).

Không rời xa khỏi luật Mô-sê, nền tảng đã được những người chống đối Ngài chọn, Chúa Giêsu mạc khải trong một vài lời trước hết là sai lỗi của những người Sa-đốc và rồi chỉnh sửa nó; sau đó, Ngài đưa ra một nền tảng sâu sắc nhất và thuyết phục nhất đối với niềm tin vào sự phục sinh. Chúa Giêsu đưa ra quan điểm của Ngài về hai điều: tính cách sự thật về sự phục sinh. Về phía sự thật thì sẽ có sự phục sinh cho người chết, Chúa Giêsu gợi nhắc lại cảnh tượng bụi gai bốc cháy khi Thiên Chúa xác định chính Ngài là “Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, và Thiên Chúa của Gia-cóp”. Nếu Thiên Chúa tự xác định Ngài là “Thiên Chúa của Abraham, Isaac, và Gia-cóp” khi ba người này đã chết cho nhiều thế hệ và nếu, ngoài ra, “Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống chứ không phải của kẻ chết”, thì điều đó có nghĩa là Abraham, Isaac và Gia-cóp đang sống ở đâu đó!

Tuy nhiên, hơn nữa về câu trả lời này của Ngài đối với người Sa-đốc, niềm tin vào sự phục sinh dựa trên sự thật về sự phục sinh của Chúa Giêsu từ cõi chết. “Nếu chúng tôi rao giảng rằng Ðức Kitô đã từ cõi chết chỗi dậy”, Thánh Phaolô thốt lên, t”hì sao trong anh em có người lại nói: không có chuyện kẻ chết sống lại? Nếu kẻ chết không sống lại, thì Ðức Kitô đã không chỗi dậy” (1 Cr 15:12-13). Thật ngớ ngẩn khi nghĩ về một thân xác mà phần đầu của thân xác ấy đã ngự trị vinh hiển trên thiên đàng và phần thân của nó lại bị hư hoại vĩnh viễn trên cõi đất hoặc kết thúc trong sự hư vô.

Hơn nữa, niềm tin Kitô Giáo vào sự phục sinh người chết đáp trả lại một lòng khao khát cố hữu nhất của tâm hồn con người. Thánh Phaolô nói rằng chúng ta không muốn bị “không có áo mặc” cho thân xác của chúng ta mà muốn được “mặc hơn nữa”, đó là, chúng ta không muốn chỉ một phần của hữu thể của chúng ta – linh hồn của chúng ta – đi vào cõi sống mà tất cả toàn bộ con người chúng ta, linh hồn và thân xác chúng ta. Do đó, chúng ta không muốn thân xác phải chết của chúng ta bị tiêu huỷ mà muốn được “bị sự sống nuốt chửng”, và “mặc lấy sự bất tử” (x. 2 Cr 5:1-5; 15:51-53).

Trong cuộc sống này chúng ta không chỉ có một lời hứa về sự sống vĩnh cửu, chúng ta còn có “những hoa trái đầu mùa” và “phần đầu tiên”. Chúng ta sẽ không bao giờ dịch từ Hy Lạp arrabon được Thánh Phaolô sử dụng về Thần Khí (x. 2 Cr 1:22; 5:5; Ep 1:14) như là “lời hứa” (pignus) nhưng chỉ là “phần đầu tiên” hay “đặt cọc” (arra). Thánh Agustine giải thích sự khác biệt cách rõ ràng. Một lời hứa, Ngài nói, không phải là khởi đầu của việc trả mà là khoản tiền được trao để đảm bảo sự thanh toán tương lai. Một khi phần thanh toán được thực hiện, thì lời hứa trở lại. Đó không phải là vấn đề với một khoản đặt cọc. Một khoản đặt cọc thì không trả lại khi việc thanh toán được thành toàn vì nó đã là một phần của việc thanh toán. Nếu Thiên Chúa qua Thần Khí của Ngài đã ban cho chúng ta tình yêu như là phần đầu tiên, khi Ngài mang lại sự thành toàn của điều mà Ngài đã hứa, thì liệu Ngài có lấy lại phần đầu tiên mà Ngài đã trao cho chúng ta không? Dĩ nhiên là không; thay vào đó Ngài sẽ mang lại sự thành toàn của điều đã được trao ban.[6]

Giống như “những hoa quả đầu mùa” loan báo một mùa gặt trọn vẹn và là một phần của mùa gặt ấy, thì cũng vậy phần đầu tiên là một sự thủ đắc trọn vẹn của Thần Khí. Chính “Thần Khí là Đấng ngự trong chúng ta” (x. Rm 8:11) – nhiều hơn cả sự bất tử của linh hồn – điều đó, như chúng ta thấy, đảm bảo sự tiếp nối giữa đời sống hiện tại và đời sống tương lai của chúng ta.

Liên quan đến tính cách của sự phục sinh, về cùng một dịp này với người Sa-đốc, Chúa Giêsu mô tả điều kiện thiêng liêng của người được phục sinh: “Những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại” (Lc 20:35-36).

Người ta có thể nỗ lực để minh hoạ sự chuyển tiếp từ tình trạng thế gian sang tình trạng phục sinh bằng những trường hợp lấy từ thiên nhiên: hạt giống mà từ đó một thân cây mọc lên, bản chất chết chóc vào mùa đông được hồi sinh vào mùa xuân, kén biến đổi thành con bướm. Thánh Phaolô chỉ đơn giản nói: “Việc kẻ chết sống lại cũng vậy: gieo xuống thì hư nát, mà chỗi dậy thì bất diệt; gieo xuống thì hèn hạ, mà chỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà chỗi dậy thì mạnh mẽ, gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà chỗi dậy là thân thể có thần khí” (1 Cr 15:42-44).

Sự thật là mọi thứ có liên quan đến điều kiện của chúng ta trong đời sau vẫn là một mầu nhiệm bất khả xâm phạm. Đó không phải là vì Thiên Chúa muốn giữ cho nó kín ẩn khỏi chúng ta mà vì – giới hạn như chúng ta trong việc phải nghĩ về mọi sự trong khái niệm về thời gian và không gian – chúng ta thiếu công cụ để phác hoạ nó cho chính bản thân chúng ta. Vĩnh cửu không phải là sự vĩnh cựu tồn tại tách biệt và điều đó có thể được xác định trong chính nó, hầu như như thể là nó là một giai đoạn thời gian kéo dài đến vô tận. Đó là phương thức hiện hữu của Thiên Chúa. Sự vĩnh cửu là Thiên Chúa! Để đi vào sự sống vĩnh cửu chỉ đơn giản có nghĩa là được chấp nhận, bởi ân sủng, để thông phần vào phương thực hiện hữu của Thiên Chúa.

Không một điều nào trong điều này lại có thể nếu sự vĩnh cửu đầu tiên đã không đi vào trong thời gian. Điều đó ở nơi Đức Kitô phục sinh, và nhờ Ngài, mà chúng ta có thể mặc lấy bằng phương thức hiện hữu của Thiên Chúa. Thánh Phaolô mô tả điều đợi chờ Ngài sau khi chết là “sự ra đi và ở cùng với Đức Kitô” (x. Pl 1:23). Cùng một điều có thể rút ra từ những lời của Chúa Giêsu nói với người trộm lành: “Ngay hôm nay anh sẽ ở trên Trời với Ta” (Lc 23:43). Thiên Đàng là ở “cùng với Đức Kitô” như là “đồng thừa tự” của Ngài. Sự sống vĩnh cửu là một sự tái hiệp nhất lại các chi thể của đầu để thành một “thân thể” với ngài trong vinh quang, sau khi được hiệp nhất với Ngài trong đau khổ (x. Rm 8:17).

Một câu chuyện thú vị được một nhà văn hiện đại người Đức kể lại sẽ giúp chúng ta có một ý tưởng tốt hơn về sự sống đời đời so với bất cứ một nỗ lực nào ở sự suy tưởng lý trí. Ở một tu viện thời trung cổ có hai tu sĩ đã có một tình bạn thiêng liêng sâu. Một người gọi là Rufus và người kia là Rufinus. Họ dành tất cả thời gian rảnh để nỗ lực tưởng tượng và mô tả sự sống đời đời sẽ giống như thế nào trên Thành Giêrusalem thiên quốc. Rufus là một người thợ xây, vì thế ông hình dung thành này sẽ giống như một thành phố có các cửa bằng vàng được trạm trổ đá quý. Rufinus là một người chơi đàn dương cầm, nên ông hình dung nước trời giống như một bản nhạc thiên quốc trọn vẹn.

Cuối cùng họ thực hiện một giao ước là bất cứ ai trong số họ chết trước thì phải trở về vào đêm hôm sau để đảm bảo với người bạn mình rằng mọi sự thật ra như họ đã tưởng tượng. Một từ có lẽ là đủ. Nếu mọi sự như họ tưởng tượng, thì người ấy chỉ cần nói, “Taliter!”, “Chính xác!” Nếu mọi sự khác – và điều này thì hoàn toàn không thể - thì hãy nói, “Atliter!”  “Khác!”.

Khi đang chơi đàn dương cầm vào một đêm kia, thì Rufinus đã chết vì đột quị tim. Bạn của ông là Rufus đã thức suốt cả đêm trong lo lắng, nhưng không thấy gì. Ông đã canh thức và ăn chay nhiều tuần và nhiều tháng, nhưng vẫn không thấy gì. Cuối cùng vào dịp kỷ niệm ngày từ trần của mình, Rufinus đã đi vào phòng của bạn mình vào một đêm nó vây quanh bởi nến. Thấy rằng Rufinus thinh lặng, Rufus, chắc chắn về một câu hỏi khẳng định, đã hỏi bạn mình, “Taliter? Không đúng hả?” Nhưng người bạn của ông đã lắc đầu nói không. Rufus đã kêu lên tuyệt vọng, “Aliter? Khác hả?” Một lần nữa người bạn lại lắc đầu nói không. Cuối cùng thì hai từ đột ngột xuất hiện từ người bạn thinh lặng của ông: “Totaliter aliter” “Hoàn toàn khác!” Rufus hiểu ngay rằng thiên đàng nhất định là khác hơn nhiều so với điều mà họ đã tưởng tượng và không thể mô tả được. Ông chết sau đó không lâu vì lòng muốn của ông đến đó.[7]

Dĩ nhiên, câu chuyện là một truyền thuyết, nhưng nội dung thì mang tính kinh thánh. “Ðiều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người” (1 Cr 2:9). Thánh Symeon Tân Thần Học Gia, một trong những vị thánh được yêu mến nhất của Giáo Hội Chính Thống, một ngày kia có thị kiến. Ngài chắc chắn là Ngài đã nhìn thấy Thiên Chúa và, chắc chắn rằng không có gì có thể lớn lao hơn hoặc vinh quang hơn điều mà Ngài đã thấy, Ngài nói, “Thật đủ cho con để ở trong tình trạng này ngay cả sau khi chết!” Chúa trả lời thánh nhân, “Thật ra con đã quá nản lòng khi hài lòng với điều này. Hãy so sánh với các phúc lành sẽ đến, đây giống như là mô tả thiên đàng trên một tờ giấy...và thấp hơn so với thực tế, vinh quang sẽ được tỏ hiện”[8]

Khi người ta muốn vượt biển, Thánh Agustine nói, điều quan trọng nhất không phải là ở trên bờ và ráng thấy điều gì ở bờ bên kia nhưng là hãy đi lên một chiếc thuyền đưa họ sang bờ bên ấy.[9] Đối với tất cả chúng ta cũng vậy, điều quan trọng nhất không phải là suy tưởng về sự sống đời sẽ như thế nào đối với chúng ta nhưng là hãy làm điều mà chúng ta biết là sẽ dẫn chúng ta tới đó. Chớ gì ngày hôm nay của chúng ta sẽ là một bước nhỏ theo hướng đó.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ ZENIT)

[1] Cornelius Tacitus, The Annals of Imperial Rome, 15, trans. Michael Grant, rev. ed. (New York: Penguin, 1996), p. 365.

[2] Martin Dibelius, Jesus, trans. Charles B. Hedrick and Frederick C. Grant (Philadelphia: Westminster Press, 1949),   p. 141.

[3] Charles H. Dodd, History and the Gospel (London: Nisbet, 1952), p. 109.

[4] See Søren Kierkegaard, Diary, X, 1, A, 481, trans. Peter P. Rohde (New York: Carol Publishing, 1993), pp. 163-165.

[5] St. Augustine, “Psalm 120,” 6, Expositions of the Psalms 99-120, trans. Maria Boulding, part 3, vol. 19, ed. John E. Rotelle (Washington, DC: Catholic University of America Press, 2003), p. 15; see CCL, 40, p. 1791.

[6] See St. Augustine, “Sermon 23,” 9, Sermons II (20-50) on the Old Testament, trans. Edmund Hill, Part 3, vol. 2, The Works of Saint Augustine, ed. John E. Rotelle (Washington, DC: Catholic University of America Press, 1990), p. 60.

[7] Hans Franck, Der Regenbogen: Siebenmalsieben Geschichten (Leipzig: H. Haessel, 1927).

[8] St. Symeon the New Theologian, “Thanksgiving at the Threshold of Total Illumination,” The Discourses, trans. C. J. deCatanzaro (New York: Paulist Press, 1980), p. 375.

[9] St. Augustine, On the Trinity, 4, 15, 20, p. 172; see also Confessions 7, 21, trans. John K. Ryan (New York: Image books, 1963), pp.179-180.