Skip to main content
Cha Raniero Cantalamessa, Vị Giảng Thuyết Phủ Giáo Hoàng (Vatican Media)

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Tĩnh Tâm Tuần IV Mùa Chay 2018

“Mỗi người phải phục tùng chính quyền”

Sự Vâng Phục Kitô Giáo

1. Sợi Chỉ Trung Tâm Đi Xuống

Trong khi phác họa ra những dấu vết, hay những nhân đức, vốn sẽ chiếu sáng trong đời sống của những người được tái sinh trong Thần Khí, Thánh Phaolô, sau khi đã nói về lòng bác ái và sự khiêm nhường, giờ đây nói về sự vâng phục trong Chương 13 của Thư Gửi Tín Hữu Rôma:

Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập (Rm 13:1tt).

Phần còn lại của chương này, mà trong đó Ngài nói về những lưỡi gươm và những khoản thuế, cùng với những bản văn khác của Tân Ước về cùng một chủ đề (x. Tt 3:1; 1 Pr 2:13-15), rõ ràng cho thấy rằng vị tông đồ không nói về quyền bính cách chung và về mọi kiểu quyền bính mà chỉ là về quyền bính dân sự của nhà nước. Thánh Phaolô đang nói đến một trong những diện mạo cụ thể của sự vâng phục vốn đặc biệt được yêu thích vào thời điểm mà trong đó Ngài đang viết và có lẽ thậm chí là cho cộng đoàn mà Ngài viết cho.

Đó là một thời điểm mà trong đó, ngay tại trung tâm của Đạo Do Thái Palestine, có cuộc nổi loạn của những người nhiệt thành chống lại Rôma đang diễn tiến, một cuộc cách mạng kết thúc một vài năm sau đó trong việc phá hủy thành Jerusalem. Kitô Giáo được khai sinh từ Do Thái Giáo; nhiều thành viên của cộng đoàn Kitô Giáo tại Rôma là những người Do Thái cải đạo. Vấn đề về việc vâng phục nhà nước Rôma hay không một cách trực tiếp là vấn đề cho cả người Kitô Hữu nữa.

Giáo Hội tông truyền đang đối diện với một chọn lựa mang tính quyết định. Thánh Phaolô, giống như toàn bộ các tác giả Kinh Thánh Tân Ước, giải quyết vấn đề dưới ánh sáng của thái độ và lời của Chúa Giêsu, đặc biệt những lời của Ngài khi nói về hoàng đế Caesar (x. Mc 12:17). Nước Trời mà Chúa Giêsu rao giảng thì “không thuộc về thế gian này”, nó không thuộc về một bản chất quốc gia hay chính trị. Do đó, nó có thể tồn tại dưới bất cứ một thể chế chính trị nào, chấp nhận những thuận tiện của nó (như quyền công dân Rôma) cũng như luật pháp của thể chế ấy. Vấn đề, tắt một lời, được giải quyết theo nghĩa là sự vâng phục nhà nước.

Sự phục tùng nhà nước là một kết quả và là một khía cạnh của một sự vâng phục quan trọng và dễ hiểu hơn mà vị tông đồ gọi là “sự vâng phục trước phúc âm” (x. Rm 10:16). Lời cảnh báo nghiêm ngặt của vị tông đồ cho thấy việc trả thuế các khoản và việc chu toàn bổn phận của một người với xã hội nói chung không chỉ là một nghĩa vụ dân sự mà còn là một nghĩa vụ mang tính luân lý và tôn giáo. Đó là một yêu cầu của điều buộc về việc yêu người thân cận của bạn. Nhà nước không phải là một thực thể trừu tượng; đó là một cộng đồng những người tạo nên nó. Nếu tôi không trả các khoản thuế của tôi, nếu tôi phá hủy môi trường, nếu tôi vi phạm luật giao thông, thì tôi đang gây hại và cho thấy việc thù ghét người thân cận của tôi. Về điểm này chúng ta là những người Ý (và có lẽ không chỉ chúng ta) sẽ cần phải thêm một số câu hỏi cho việc xét lại lương tâm của chúng ta.

Tất cả điều này, như chúng ta có thể thấy, là rất phù hợp, nhưng chúng ta không thể giới hạn việc bàn luận của chúng ta về sự vâng phục chỉ trước khía cạnh vâng phục nhà nước. Thánh Phaolô chỉ ra vị trí cho cuộc thảo luận Kitô Giáo về sự vâng phục, nhưng Ngài không nói chúng ta mọi sự có thể được nói về nhân đức này chỉ trong bản văn này. Ngài đưa ra những những kết quả ở đây về những nguyên tắc đã được trình bày trước đó trong Thư Gửi Tín Hữu Rôma và nơi khác, và chúng ta cần phải tìm kiếm những nguyên tắc đó để có một cuộc bàn luận về sự phục tùng vốn hữu ích và phù hợp cho chúng ta ngày nay.

Chúng ta cần phải khám phá ra sự vâng phục “nền tảng”, sự vâng phục mà từ đó mọi kiểu vâng phục đều xuất phát ra, gồm cả sự vâng phục các cấp quyền bính dân sự. Đó là một sự vâng phục áp dụng cho tất cả chúng ta – những người giám sát và những người phụ thuộc, tu sĩ và giáo dân – và đó là một sự vâng phục quan trọng nhất của tất cả mọi sự vâng phục. Sự vâng phục này kiểm soát và tạo sức mạnh cho tất cả các kiều vâng phục khác. Đó không phải là sự vâng phục của một con người nhân loại trước người khác mà là của con người trước Thiên Chúa.

Sau Công Đồng Vatican II có người đã viết, “Nếu có một vấn đề về sự vâng phục ngày nay thì đó không phải là vấn đề ngoan ngoãn trước Thần Khí – Đấng mà mọi người tuyên xưng sự sẵn sàng để phục tùng – mà là vấn đề về sự phục tùng trước một phẩm trật, một lề luật, trước một quyền bính theo cách diễn tả con người”. Tôi tin rằng đây là trường hợp. Nhưng chúng ta phải bắt đầu bằng sự vâng phục Thiên Chúa và Thần Khí của Ngài một cách cụ thể để một lần nữa làm cho việc vâng phục cụ thể trước lề luật và quyền bính hữu hình nên khả thể.

Sự vâng phục Thiên Chúa thì giống như “sợi chỉ trung tâm từ trên xuống” vốn trợ giúp cho một cái màng nhện thật đẹp đang treo trên một hàng rào. Đi từ trên cao xuống qua sợi chỉ này mà nó tạo ra, con nhện thêu dệt nên một cái màng hoàn hảo và căng ở mọi góc. Một khi công việc của con nhện hoàn tất, thì sợi chỉ trung tâm này đước sử dụng cái màng sẽ không bị gỡ bỏ đi mà vẫn ở yên đó. Thực vậy, sợi trung tâm là điều nối kết hết mọi sự đan dệt của con nhện; mà không có nó thì mọi sự sẽ sụp đổ. Nếu một trong những sợi vệ tinh mà đứt (tôi đã thử rồi), thì con nhện sẽ mau chóng sửa lại cái màng của nó, nhưng nếu sợi trung tâm ấy từ trên cao bị đứt, thì con nhện sẽ bỏ đi vì chẳng có gì được hoàn tất hơn nữa.

Một điều gì đó tương tự sẽ xảy ra với mạng lưới những sự phục tùng trong một xã hội, trong một dòng tu, và trong Giáo Hội. Mỗi người chúng ta đang sống trong một mạng lưới được đan dệt cách chặt chẽ của sự phục tùng những thẩm quyền dân sự và thẩm quyền giáo hội – trong trường hợp của Giáo Hội, trước bề trên địa phương, trước giám mục, trước Bộ Giáo Sĩ hay Bộ Tu Sĩ, và với Đức Giáo Hoàng. Sự vâng phục Thiên Chúa là sợi chỉ trung tâm đi từ trên xuống: mọi sự được xây dựng quanh đó, nhưng sợi chỉ ấy không thể bị lãng quên sau khi việc xây dựng tổng thể được hoàn tất. Bằng không thì mọi sự sẽ sụp đổ và người ta không còn hiểu vì sao họ cần phải vâng phục nữa.

2. Sự Vâng Phục Của Đức Kitô

Thật khá đơn giản để khám phá ra bản chất và nguồn gốc của sự vâng phục Kitô Giáo: chúng ta chỉ cần hiểu khái niệm cụ thể về sự vâng phục mà qua đó Chúa Giêsu được xác định trong Kinh Thánh là “Đấng Vâng Phục”. Chúng ta sẽ nhanh chóng khám phá trong khi thực hiện việc này là nền tảng thật sự cảu sự vâng phục Kitô Giáo không phải là một ý tường về sự vâng phục mà là một hành động vâng phục. Đó không phải là một nguyên tắc trừu tượng từ Aristotle mà theo ông “người bên dưới phải phục tùng người trên” nhưng thay vào đó là một sự kiện. Sự vâng phục không được thiết lập trong “lý do chính đáng” mà là trong sự truyền giảng, và nền tảng của nó là Đức Kitô “đã vâng phục cho đến chết” (Pl 2:8), và rằng “Dầu là Con Thiên Chúa, người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5:8-9).

Trung tâm sáng láng vốn chiếu ánh sáng trên toàn bộ việc bàn về sự vâng phục là trong Thư Gửi Tín Hữu Rôma, là Rôma 5:19: “Thật vậy, cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thanh người công chính”. Bất cứ ai biết vị thế mà sự công chính đang được đặt trong Thư Gửi Tín Hữu Rôma đều có thể hiểu nơi mà sự vâng phục này đang được đặt để!

Chúng ta hãy tìm cách hiểu bản chất của hành động vâng phục này mà trên đó một trật tự mới được thiết lập; nói cách khác, chúng ta hãy nỗ lực hiểu sự vâng phục giống như Đức Kitô nghĩa là gì. Khi là một trẻ nhỏ, Chúa Giêsu vâng phục cha mẹ của Ngài; rồi là một người lớn Ngài phục tùng Luật Môsê, Hội Đường, và Philatô. Tuy nhiên, Thánh Phaolô không nghĩ về bất cứ một kiểu vâng phục nào trong số này. Thay vào đó, Ngài nghĩ về sự vâng phục của Đức Kitô với Chúa Cha.

Sự vâng phục của Đức Kitô được coi là phản đề chính xác của sự bất phục tùng của Adam: “Thật vậy, cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thanh người công chính” (Rm 5:19; x. 1 Cr 15:22). Nhưng Adam đã không vâng phục ai? Chắc chắn không phải là cha mẹ ông, nhà nước, hay lề luật. Ông không vâng phục Thiên Chúa. Ở cội nguồn của tất cả mọi sự không vâng phục là sự không vâng phục Thiên Chúa, và cội nguồn của tất cả mọi sự vâng phục là sự vâng phục Thiên Chúa.

Sự vâng phục lấp đầy toàn bộ đời sống của Chúa Giêsu. Mặc dù Thánh Phaolô và Thư Gửi Tín Hữu Do Thái nhấn mạnh về vai trò của sự vâng phục trong cái chết của Chúa Giêsu, thì Thánh Gioan và Tin Mừng Nhất Lãm lại làm cho bức họa được hoàn tất bằng việc nhấn mạnh đến vị thế của sự vâng phục trong đời sống của Chúa Giêsu, trong hoạt động thường nhật của Ngài. “Lương thực của Thầy”, Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng Gioan, “là thi hành ý muốn của Ðấng đã sai Thầy”, và “tôi hằng làm những điều đẹp ý Người” (Ga 4:34, 8:29). Cuộc đời của Chúa Giêsu như thể được dẫn dắt bởi một con đường sáng láng đã được hình thành bởi những lời đã được viết về Ngài trong Kinh Thánh. “Điều đã được viết...Điều đã được viết...” Đây là cách mà Ngài đã vượt thắng những cơn cám dỗ trong hoang địa. Chúa Giêsu qui tụ từ Kinh Thánh “điều phải là” (dei) vốn dẫn dắt toàn bộ đời sống của Ngài.

Sự cao cả của sự vâng phục của Chúa Giêsu được đo lường một cách khách quan “bởi những điều mà Ngài đã phải chỉu đau khổ” và một cách chủ qun bởi tình yêu và sự tự do mà qua đó Ngài đã vâng phục. Sự vâng phục con thảo được làm gương ở mức cao nhất nơi Ngài. Ngay cả trong thời khắc cực độ nhất của Ngài, khi Chúa Cha trao cho Ngài chén khổ nạn mà Ngài phải uống, thì tiếng kêu con thảo của Ngài vẫn chưa bao giờ rời khỏi môi miệng Ngài: “Lạy Cha, Lạy Thiên Chúa của tôi, Thiên Chúa của tôi, sao Cha nỡ bỏ con?”, Ngài thốt lên trên thập giá (x. Mt 27:46), nhưng, theo Thánh Luca, thì Ngài nhanh chóng thêm vào những lời, “Lạy Cha, con xin phó linh hồn con trong tay Cha!” (Lc 23:46). Trên thập giá “Chúa Giêsu đã trao phó chính bản thân Ngài cho Thiên Chúa là Đấng đã bỏ mặc Ngài” (bất luận là sự bỏ mặc này là ý gì từ Chúa Cha). Sự vâng phục đến chết của Ngài là “đá tảng cho ơn cứu độ của chúng ta”.

3. Sự Vâng Phục Là Ân Sủng: Phép Rửa

Trong chương 5 của Thư Gửi Tín Hữu Rôma, Thánh Phaolô trình bày Đức Kitô cho chúng ta như một người đứng đầu về sự vâng phục trong sự đối nghịch với Adam là người đứng đầu của sự bất phục tùng. Trong chương kế tiếp, Chương 6, vị tông đồ làm rõ cách thế mà trong đó chúng ta đi vào trong thực tại của biến cố này: đó là qua phép rửa. Thánh Phaolô đưa ra một nguyên tắc vượt trên hết mọi sự: nếu bạn đặt bản thân mình một cách tự do dưới thẩm quyền của ai đó thì do đó bạn buộc phải phục vù và vâng phục họ.

Anh em không biết sao? Khi đem thân làm nô lệ để vâng phục ai, thì anh em là nô lệ của người mà anh em vâng phục: hoặc làm nô lệ tội lỗi, thì sẽ phải chết; hoặc làm nô lệ phục vụ Thiên Chúa, thì sẽ được nên công chính (Rm 6:16).

Giờ đây khi đã thiết lập nguyên tắc này, Thánh Phaolô nhắc lại một sự thật là các Kitô Hữu đã thật sự tự do đặt bản thân họ dưới thẩm quyền của Đức Kitô vào ngày mà họ chấp nhận Ngài trong phép rửa như là Chúa của họ: “Trước kia anh em làm nô lệ tội lỗi, nhưng nay anh em đã hết lòng vâng theo quy luật đạo lý đã đào tạo anh em. Anh em đã được giải thoát khỏi ách tội lỗi mà trở thành nô lệ sự công chính” (Rm 6:17-18). Với phép rửa thì xuất hiện một sự thay đổi các vị chủ, một sự thay đổi các vương quốc: từ tội lỗi đến sự công chính, từ sự bất phục tùng đến sự vâng phục, từ Adam đến Đức Kitô. Phụng vụ của phép rửa đã diễn tả tất cả điều này trong những lời tuyên xưng mang tính tương phản: “Tôi từ bỏ - Tôi tin”.

Do đó, sự vâng phục là một điều gì đó thiết yếu trong đời sống Kitô Giáo: nó là một sự áp dụng mang tính thực tế và cần thiết về quyền Làm Chúa của Đức Kitô. Sẽ không có Quyền Làm Chúa hiện diện nếu không có sự vâng phục về phía con người. Trong phép rửa chúng ta chấp nhận một Thiên Chúa, một Đức Kitô, nhưng là một Chúa “vâng phục”, một Đấng trở thành Chúa rõ ràng vì sự vâng phục của Ngài (x. Pl 2:8-11), một Đấng mà Quyền Làm Chúa của Ngài được làm cho thiết yếu, có thể nói, bởi sự vâng phục. Sự vâng phục ở đây không nói quá nhiều đến sự thuần phục hơn là sự nên giống: vâng phục một Thiên Chúa như thế có nghĩa là trở nên giống như Ngài, vì rõ ràng là qua sự vâng phục cho đến chết của Ngài mà Ngài đã đạt được danh hiệu Chúa, vốn vượt trên hết mọi danh hiệu (x. Pl 2:8-9).

Chúng ta khám phá từ điều này là trước khi là một nhân đức, thì sự vâng phục là một quà tặng, trước khi là luật, thì đó là một ân sủng. Sự khác biệt giữa hai điều là lề luật nói cho chúng ta biết điều phải làm trong khi ân sủng mang lại cho chúng ta khả năng thực hiện điều đã được ra lệnh. Sự vâng phục trước hết là hoạt động của Thiên Chúa ở nơi Đức Kitô mà do đó vốn kết thúc như là một khuôn mẫu cho những người tin để đến lượt họ có thể diễn tả nó trong đời sống của mình qua sự noi gương trung tín. Nói cách khác, chúng ta không chỉ có nghĩa vụ phải vâng phục, mà chúng ta còn có ân sủng để vâng phục!

Sự vâng phục Kitô Giáo do đó được bén rễ trong phép rửa; trong phép rửa tất cả mọi người Kitô Hữu đều “qui về” sự vâng phục, và theo một nghĩa nhất định là đã thực hiện “lời khấn hứa” ấy. Việc tái khám phá lại sự thật này vốn quen thuộc với hết mọi người và có nền tảng trong phép rửa đáp ứng một nhu cầu thiết yếu đối với người tín hữu trong Giáo Hội. Công Đồng Vatican II đã đưa ra một nguyên tắc về “một lời mời gọi phổ quát cho sự thánh thiện” đối với dân của Thiên Chúa (LG 40). Và bởi vì không có sự thánh thiện nếu không có sự vâng phục, nên khi nói rằng tất cả mọi người đã chịu phép rửa thì được mời gọi đến sự vâng phục, rằng cũng có một lời mời gọi phổ quát đối với sự vâng phục.

4. Sự Vâng Phục là một “Nghĩa Vụ”: Noi Theo Gương Đức Kitô

Trong phần đầu của Thư Gửi Tín Hữu Rôma, Thánh Phaolô trình bày Chúa Giêsu Kitô cho chúng ta là một quà tặng cần phải được nhận lãnh bằng đức tin, trong khi trong phần thứ hai – phần giáo huấn – thì Ngài trình bày Đức Kitô như là một khuôn mẫu cần phải noi theo trong đời sống của chúng ta. Hai khía cạnh này của ơn cứu độ cũng hiện diện trong mỗi một nhân đức hay hoa trái của Thần Khí. Trong mọi nhân đức Kitô Giáo thì có một yếu tố về mầu nhiệm và một yếu tố của nền khổ hạnh, một phần được trao phó cho ân sủng và một phần được trao phó cho sự tự do con người. Giờ đây là thời điểm để suy xét phần thứ hai, sự noi gương tích cực của chúng ta theo sự vâng phục của Đức Kitô, sự vâng phục như là một nghĩa vụ.

Ngay khi chúng ta nỗ lực để tìm kiếm trong toàn bộ Kinh Thánh Tân Ước điều mà nghĩa vụ vâng phục đi kèm, chúng ta thực hiện một sự khám phá kinh ngạc hầu như luôn được thấy như là sự vâng phục Thiên Chúa. Dĩ nhiên là cũng đề cập đến tất cả mọi hình thức khác của sự vâng phục – với cha mẹ, với chủ nhân, với bề trên, với chính quyền dân sự, “với mọi thể chế loài người” (1 Pr 2:13) – nhưng chúng được nhấn mạnh ít thường xuyên hơn và theo một cách ít trọng thể hơn. Tự bản thân danh từ “vâng phục” (hupakoè) luôn được sử dụng để nói đến duy nhất sự vâng phục với Thiên Chúa hoặc, trong bất cứ biến cố nào, những lập trường có liên hệ đến Thiên Chúa trừ một đoạn từ Thư Gửi Ông Phi-lê-mon (c. 21) đoạn nói đến sự vâng phục với vị tông đồ. Thánh Phaolô nói về sự vâng phục với đức tin (Rm 1:5; 16:26), vâng phục với giáo huấn (Rm 6:17), vâng phục với phúc âm (Rm 10:16; 2 Tx 1:8), vâng phục với sự thật (Gl 5:7), và vâng phục với Đức Kitô (2 Cr 10:5). Chúng ta cũng tìm thấy ngôn ngữ xác định ở nơi khác trong Tân Ước (x. Cv 6:7; 1 Pr 1:2, 22).

Nhưng liệu có thể và liệu việc ấy có ý nghĩa gì vào thời này khi nói về sự vâng phục Thiên Chúa theo ý muốn mới mẻ và sống động của Thiên Chúa, được tỏ hiện nơi Đức Kitô, đã được thể hiện trọn vẹn và thiết lập trong toàn bộ các lề luật và phẩm trật không? Liệu có được phép khi nghĩ rằng sau tất cả mọi điều này, vẫn có “những ý muốn mới mẻ” của Thiên Chúa mà chúng ta có thể cần phải nhận lãnh và chu toàn không? Có, chắc chắn nhất! Nếu ý muốn sống động của Thiên Chúa có thể bị khép lại và bị trở thành mục tiêu một cách hoàn toàn và dứt khoát trong nhiều thứ lề luật, các qui định và các thể chế theo một “trật tự” đã được thiết lập và xác định một lần và mãi mãi, thì Giáo Hội sẽ mang lấy kết cục là một Giáo Hội hóa thạch.

Việc tái khám phá lại tầm quan trọng của sự vâng phục Thiên Chúa là một kết quả tự nhiên của việc tái khám phá lại chiều kích thuộc thần khí – cùng với chiều kích thuộc phẩm trật – của Giáo Hội và của quyền tối thượng của lời Thiên Chúa trong đó. Sự vâng phục Thiên Chúa, nói cách khác, có thể tiếp nhận được chỉ khi chúng ta khẳng định, như Công Đồng Vatican II đã khẳng định, là “Giáo Hội, mà Thần Khí dẫn dắt theo một đường lối hoàn toàn sự thật và Giáo Hội mà Ngài đã hiệp nhất trong sự hiệp thông với các công việc của sứ vụ, Ngài vừa trang bị vừa hướng dẫn bằng những ơn ban mang tính phẩm trật và đặc sủng và được tô điểm bằng những hoa trái của Ngài. Ngang qua sức mạnh của Tin Mừng mà Ngài làm cho Giáo Hội giữ vững sự tươi mới của sức trẻ. Một cách không ngắt quãng Ngài canh tân Giáo Hội và dẫn Giáo Hội đến sự hiệp nhất hoàn hảo với Hôn Phu của Giáo Hội” (LG 4).

Giá như chúng ta tin vào “Quyền Làm Chúa” hiện tại và cụ thể của Đấng Phục Sinh trên khắp Giáo Hội, giá như chúng ta tin rằng cả ngày nay nữa, như Thánh Vịnh nói, “Thượng Đế chí tôn, Đức Chúa, lên tiếng chứ không nín lặng” (x. Tv 50:1-2), chỉ khi đó chúng ta mới có thể hiểu được sự cần thiết và tầm quan trọng của việc vâng phục Thiên Chúa. Điều đó mời gọi một sự chú tâm lắng nghe Thiên Chúa là Đấng đang nói trong Giáo Hội ngang qua Thần Khí của Ngài là Đấng đang soi sáng cho những lời của Chúa Giêsu và toàn bộ Kinh Thánh, ban thẩm quyền trên chúng và làm cho chúng thành những kênh của ý muốn sống động và hiện tại của Thiên Chúa dành cho chúng ta.

Nhưng cũng như thể chế và mầu nhiệm không được thiết lập trong sự đối nghịch nhau trong Giáo Hội mà thay vào đó là hiệp nhất, thì giờ đây chúng ta cũng phải cho thấy rằng sự vâng phục thiêng liêng ấy với Thiên Chúa không ngăn chặn sự vâng phục với thẩm quyền mang tính hữu hình và mang tính thể chế. Trái lại, sự vâng phục ấy canh tân sự vâng phục thể chế và củng cố nó, mang lại cho nó sự sống đến mức là sự vâng phục con người trở thánh một tiêu chí để phán đoán liệu một người có vâng phục hay không và liệu sự vâng phục Thiên Chúa của người ấy có đúng đắn hay không. Có một phép so sánh giữa sự vâng phục và lòng bác ái. Giới răn thứ nhất là yêu mến Thiên Chúa, nhưng phép thử giới hạn của việc này là yêu người thân cận của chúng ta. Thánh Gioan viết, “Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4:20). Cần phải nói về sự vâng phục với cùng một trật như vậy: nếu anh em không vâng phục bề trên của mình mà anh em thấy, thì làm sao anh em có thể nói là bạn vâng phục Thiên Chúa là Đấng mà anh em không thấy?

Sự vâng phục Thiên Chúa nhìn chung sẽ diễn ra cách này. Thiên Chúa đột ngột làm lóe lên trong tư tưởng bạn hay tâm hồn bạn về ý muốn của Ngài dành cho bạn: đó là một “động lực” vốn thường xuất hiện từ một lời của Thiên Chúa mà bạn đã nghe hay đọc trong khi cầu nguyện. Bạn cảm thấy chính bản thân mình “bị thách đố” bởi từ ấy và động lực ấy. Bạn cảm thấy rằng Thiên Chúa “đang đòi hỏi” một điều gì đó mới mẻ từ bạn, và bạn nói “vâng”. Nếu nó có liên hệ đến một quyết định vốn có những kết quả thực tế, thì bạn không thể hành động đơn lẻ trên nền tảng động lực của bạn. Bạn cần phải đặt lời mời gọi vào trong tay các bề trên của mình hay của những người có thẩm quyền thiêng liêng trên bạn một cách nào đó, tin rằng nếu nó xuất phát từ Thiên Chúa thì Ngài sẽ làm cho các đại diện của Ngài biết đến.

Nhưng bạn sẽ làm gì khi một mâu thuẫn xuất hiện giữa hai kiểu vâng phục, và bề trên con người sẽ yêu cầu bạn làm một điều gì đó khác và trái với điều mà bạn tin là Thiên Chúa đã truyền cho bạn? Chúng ta chỉ cần hỏi chính bản thân mình Chúa Giêsu đã làm gì trong trường hợp như thế. Ngài đã chấp nhận sự vâng phục bên ngoài và tự giao nộp chính bản thân Ngài cho con người; tuy nhiên trong khi làm thế, Ngài đã không chối bỏ sự vâng phục với Chúa Cha mà thay vào đó chu toàn nó. Thực ra đây là điều mà Chúa Cha muốn. Không nhận biết điều này và không sẵn sàng muốn điều này, đôi khi trong một niềm tin tốt lành và đôi khi không, thì những người – như Caipha, Philatô, và đám đông – trở thành những công cụ là những người chu toàn ý muốn của Thiên Chúa, chứ không phải ý mình.

Tuy nhiên, luật này không phải là tuyệt đối. Ở đây tôi đang không nói về sự buộc tích cực của việc không vâng phục khi thẩm quyền chính trị - như trong một vài chế độ độc tài – đòi hỏi một điều gì rõ ràng là vô luân và phạm tội. Vẫn đang ở trong lãnh vực tôn giáo thì ý muốn của Thiên Chúa và sự tự do của Ngài có thể đòi hỏi một người – như Phêrô trước mệnh lệnh của Hội Đường – phải vâng lời Thiên Chúa hơn là người phàm (x. Cv 4:19-20). Nhưng bất cứ ai bắt đầu đi trên con đường này phải chấp nhận, giống như mọi vị ngôn sứ đích thực, chết đi chính mình (và thường về mặt thể lý) trước khi thấy những lời của người ấy trở nên hiệu nghiệm. Trong Giáo Hội Công Giáo thì ngôn sứ thật luôn được đi cùng với sự vâng phục với Đức Giáo Hoàng. Cha Primo Mazzolari và Lorenzo Milani là một trong những gương mẫu của việc ấy.

Việc vâng phục chỉ khi điều một bề trên nói đáp ứng chính xác với những ý tưởng của chúng ta và những chọn lựa của chúng ta thì không vâng phục Thiên Chúa mà là vâng phục chính bản thân chúng ta; đó không phải là thực thi ý muốn của Thiên Chúa mà làm theo ý riêng của chúng ta. Nếu trong trường hợp khác nhau về ý kiến, thì thay vì chất vấn chính bản thân chúng ta thì ngay lập tức chúng ta chất vấn sự biện phân và khả năng của bề trên, chúng ta không còn là một người đang vâng phục mà là người đang chống đối.

5. Một Sự Vâng Phục Luôn Mở Ra Cho Hết Mọi Người

Sự vâng phục Thiên Chúa là sự vâng phục mà chúng ta có thể luôn thực thi. Sự vâng phục trước những mệnh lệnh đầy đòi hỏi từ những thẩm quyền hữu hình chỉ diễn ra thi thoảng, có lẽ ba hay bốn lần trong đời một người. Mặt khác, có nhiều dịp để vâng phục Thiên Chúa, và người ta càng vâng phục, thì các mệnh lệnh của Thiên Chúa càng nhân rộng gấp lần hơn, vì Ngài biết rằng đây là quà tặng tốt nhất mà Ngài có thể trao ban, một điều vốn là điều mà Ngài ban cho Con Ngài là Chúa Giêsu. Khi Ngài thấy một người quyết vâng phục, thì Thiên Chúa sẽ nắm giữ lấy mạng sống ấy, giống như một người nắm lấy mạn thuyền hay dây cương của một cỗ xe. Do đó Thiên Chúa trở thành “Chúa” trong sự vội vàng nhất chứ không phải là theo lý thuyết; Ngài trở thành Đấng “điều khiển”, Đấng “điều hành”, mà người ta có thể nói, quyết định những cử chỉ và lời nói nào của người ấy theo từng phút giây, cách mà thời gian được tiêu thụ - mọi sự.

Tôi nói rằng sự vâng phục Thiên Chúa là một điều mà một người luôn có thể cho đi. Tôi cần phải thêm rằng đó cũng là sự vâng phục mà tất cả chúng ta đều có thể cho đi, bất luận chúng ta là những người thuộc cấp hay bề trên. Người ta vẫn thường nói rằng một người cần biết cách vâng phục để có thể ra mệnh lệnh. Đây không chỉ là một nguyên tắc mang ý nghĩa phổ biến, mà nó có cả một lý luận thần học. Điều này có nghĩa là nguồn đích thực của thẩm quyền thiêng liêng hệ tại nhiều hơn ở trong sự vâng phục so với tước hiệu hay vị trí mà người ấy giữ. Đón nhận thẩm quyền như là sự vâng phục có nghĩa là không được thỏa mãn chỉ với thẩm quyền mà còn hướng động lực đến thẩm quyền xuất phát từ việc có một Thiên Chúa ở phía sau bạn và cổ võ cho quyết định của bạn. Điều đó có nghĩa là tiến gần hơn nữa đến một kiểu thẩm quyền vốn xuất phát từ các việc làm của Đức Kitô và làm cho người ta tự hỏi chính mình, “Thế nghĩa là gì? Một giáo huấn mới với thẩm quyền!” (x. Mc 1:27).

Có một kiểu thẩm quyền khác, với năng quyền thật sự và hiệu nghiệm, chứ không phải chỉ là mang tính định danh; đó là một quyền mang tính nội tại, cứ không phải mang tính bề ngoài. Khi một mệnh lệnh được một người cha hay bề trên ban ra là người đang nỗ lực sống theo ý muốn của Thiên Chúa, là người trước hết đã cầu nguyện và không có ý muốn cá nhân để bảo vệ mà là có trong tầm nhìn chỉ thiện ích của người anh em hay con mình, thì thẩm quyền thuộc về Thiên Chúa sẽ hoạt động như là sức mạnh cổ võ cho mệnh lệnh hay quyết định ấy. Nếu một thách đố xuất hiện, thì Thiên Chúa sẽ nói với đại diện của Ngài điều mà Ngài đã nói với Jeremiah vào ngày kia: Này, hôm nay, chính Ta làm cho ngươi nên thành trì kiên cố, nên cột sắt tường đồng... Chúng sẽ giao chiến với ngươi, nhưng sẽ không làm gì được, vì - sấm ngôn của Ðức Chúa - có Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi" (Gr 1:18-19). Thánh Ignatius Antioch đã thực hiện lời khuyên khôn ngoan này cho Thánh Polycarp, một trong những môn đệ và đồng nghiệp của Ngài trong hội đồng giám mục: “Đừng để cho điều gì được thực hiện mà không có sự đồng thuận của anh em, hoặc làm bất cứ điều gì mà không có sự đồng thuận của Thiên Chúa”.

Con đường vâng phục Thiên Chúa này chẳng có gì là thần bí hay ngoại thường về chính nó và mở ra cho hết mọi người đã chịu phép rửa. Nó hệ tại ở việc “trình bày những câu hỏi lên cho Thiên Chúa” (x. Xh 18:19). Tôi có thể quyết định về phía tôi có nên thực hiện chuyến thăm hay không, chấp nhận một công việc, đi thăm ai đó, mua sắm, và rồi một khi tôi đã quyết định thì tôi có thể xin Thiên Chúa ban cho tôi một kết quả tốt. Nhưng nếu tôi yêu mến sự vâng phục Thiên Chúa, thì tôi sẽ giải quyết mọi việc một cách khác. Trước hết tôi xin Thiên Chúa qua phương thế đơn sơ này sẵn có cho hết mọi người chúng ta – cầu nguyện – liệu đó có là ý muốn của Ngài dành cho tôi để thực hiện chuyến đi này hay công việc nọ hay thực hiện một chuyến thăm hay việc mua ấy. Tôi sẽ kết thúc bằng việc làm điều đó hay không, nhưng trong bất cứ trường hợp nào thì giờ đây sẽ là một hành động vâng phục Thiên Chúa chứ không phải sáng kiến tự do của riêng tôi nữa.

Bình thường, tôi sẽ không nghe thấy một tiếng nói trong lời cầu nguyện vắn của mình, và tôi sẽ không có câu trả lời cụ thể về việc làm một điều gì đó – ít nhất thì không nhất thiết phải có một câu trả lời cho hành động của tôi có liên hệ đến sự vâng phục. Trong khi làm thế thì thực ra tôi đã đưa câu hỏi lên cho Thiên Chúa, tôi đã trút bỏ khỏi bản thân tôi ý muốn của mình, tôi đã khước từ tự đưa ra quyết định riêng mình, và tôi đã trao cho Thiên Chúa cơ hội để can thiệp vào đời tôi như Ngài muốn. Bất cứ điều gì mà giờ đây tôi quyết định, hãy lệ thuộc vào tiêu chuẩn đơn giản của sự biện phân, sẽ là sự vâng phục Thiên Chúa. Đây là cách để đưa dây cương của đời sống mỗi người cho Thiên Chúa! Đây là cách mà ý muốn của Thiên Chúa đi vào luôn là sâu hơn trong nền tảng sự sống của bản thân, làm cho nó phong phú và làm cho nó thành một “của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rm 12:1).

Chúng ta hãy kết thúc thời gian này cũng bằng những lời của thánh vịnh vốn giúp cho chúng ta biến giáo huấn của vị tông đồ mang lại cho chúng ta thành lời cầu nguyện. Vào một ngày vốn đầy tràn niềm ui và sự nhận biết về những lợi ích của Thiên Chúa của Ngài (“Tôi đã hết lòng trông đợi CHÚA, Người nghiênh mình xuống và nghe tiếng tôi kêu...Người kéo tôi ra khỏi hố diệt vong” (Tv 40:1-2), tác giả thánh vịnh, trong một tình trạng ân sủng thật sự, đã tự hỏi chính mình làm thế nào mà ông có thể đáp trả lại quá nhiều sự tốt lành từ Thiên Chúa: liệu ông sẽ dâng những của lễ toàn thiêu và lễ hy sinh? Thì ông đã nhanh chóng hiểu rằng đây không phải là điều mà Thiên Chúa đang muốn từ ông; thật quá nóng lòng để nói lên điều gì trong tâm hồn ông. Rồi lại xuất hiện một sự hiểu biết và sự mạc khải: điều Thiên Chúa muốn từ ông từ giờ trở đi, là vâng phục Ngài trong mọi sự. Vì thế nên ông thốt lên,

con liền thưa : "Này con xin đến!

Trong sách có lời chép về con

rằng: con thích làm theo thánh ý,

và ấp ủ luật Chúa trong lòng, lạy Thiên Chúa của con (Tv 40:8-9).

Trong khi đi vào trong thế giới Chúa Giêsu đã biến những lời này thành của riêng Ngài, khi nói, “Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10:7). Giờ đây đến lượt chúng ta. Tất cả đời sống đều có thể được sống từng ngày dưới tấm biểu ngữ của những lời này, “Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài”. Vào buổi sáng, vào khởi đầu một ngày mới, rồi đi đến một cuộc hẹn hay một cuộc họp, lúc khởi đầu một nhiệm vụ mới, chúng ta có thể nói, “Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài”.

Chúng ta không biết điều gì ngày ấy, cuộc họp ấy, nhiệm vụ ấy sẽ mang lại cho chúng ta. Chúng ta chỉ biết một điều với sự chắc chắn: là chúng ta muốn thực thi ý muốn của Thiên Chúa trong tất cả những điều này. Chúng ta không biết tương lai sẽ mang lại gì cho chúng ta, nhưng thật tốt lành để tiến bước với những lời này trên môi: “Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài”.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ ZENIT)