Skip to main content
Cha Raniero Cantalamessa, Vị Giảng Thuyết Phủ Giáo Hoàng (Vatican Media)

Cha Cantalamessa - Bài Giảng Tĩnh Tâm Tuần V Mùa Chay 2018

“CẦM LẤY VŨ KHÍ CỦA SỰ SÁNG”

Đức Trong Sạch Kitô Giáo

Trong phần suy tư của chúng ta về giáo huấn trong Thư Gửi Tín Hữu Rôma, giờ đây chúng ta đi đến đoạn viết,

Ðêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng (Rm 13:12-14).

Thánh Augustine trong bộ Tự Thuật của Ngài kể cho chúng ta một phần được viết về cuộc hoán cải của Ngài. Giờ đây Ngài đã đạt tới một sự dấn thân hầu như trọn vẹn cho đức tin. Nhưng có một điều níu Ngài lại: nỗi sợ về việc không thể khiết tịnh. Ngài đang sống, như chúng ta biết, với một người phụ nữ mà không kết hôn.

Trong khu vườn của ngôi nhà mà Ngài đến thăm, trong những nỗi đớn đau của cuộc chiến nội tâm này cùng với những giọt nước mắt trên đôi mắt của Ngài, Ngài đã nghe một tiếng nói xuất phát từ căn nhà bên cạnh, một tiếng nói của bé trai hay bé gái liên tục lặp lại, “Tolle, lege! Hãy cầm lên và hãy đọc, hãy cầm lên và hãy đọc”. Ngài giải thích những lời này là một lời mời gọi từ Thiên Chúa, và có một cuốn các Thư của Thánh Phaolô ở gần đó, Ngài mở ra cách ngẫu nhiên và quyết định điều đầu tiên mà Ngài đọc như ý muốn của Thiên Chúa dành cho Ngài. Đoạn mà đôi mắt của Ngài gặp phải rõ ràng là đoạn từ Thư Gửi Tín Hữu Rôma mà chúng ta vừa đọc xong. Một ánh sáng tái đảm bảo (Lux securitatis) chiếu tỏa từ bên trong Ngài vốn làm cho hết mọi bóng tối của sự không chắc chắn tan biến. Giờ đây Ngài biết rằng với sự trợ giúp của Thiên Chúa, Ngài có thể khiết tịnh.[1]

Những điều mà vị tông đồ gọi là “những việc làm đen tối”, trong đoạn này là cùng những điều mà Ngài xác định ở nơi khác là “lòng khao khát, hay những việc làm thuộc xác thịt” (x. Rm 8:13; Gl 5:19), và điều mà Ngài gọi là “vũ khí của sự sáng” có ý nói đến những điều mà nơi khác Ngài gọi là “công việc của Thần Khí”, hay “hoa trái của Thần Khí ” (x. Gl 5:22). Trong số những công việc của xác thịt, Ngài nhấn mạnh đến tính dâm dục với hai từ (koite asegeia) vốn tương phản với công việc của sự sáng, vốn là sự trong sạch. Vị tông đồ không nói chi tiết nhiều ở đây về khía cạnh này của đời sống Kitô Giáo. Nhưng từ danh mục các việc xấu ngay khởi đầu thư (x. Rm 1:26tt), chúng ta biết điều đó quan trọng thế nào trong quan điểm của Ngài.

Thánh Phaolô thiết lập một mối liên hệ rất gần giữa sự trong sạch và sự thánh thiện và giữa sự trong sạch với Thần Khí :

Ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh, tức là xa lánh gian dâm, mỗi người hãy biết lấy cho mình một người vợ để sống cách thánh thiện và trong danh dự, chứ không buông theo đam mê dục vọng như dân ngoại, là những người không biết Thiên Chúa; đừng ai làm tổn thương hay lừa dối người anh em mình, vì Chúa là Ðấng trừng phạt tất cả những cái đó... Thiên Chúa đã không kêu gọi chúng ta sống ô uế, nhưng sống thánh thiện. Vậy ai khinh thường những lời dạy trên, thì không phải khinh thường một người phàm, nhưng khinh thường Thiên Chúa; Ðấng hằng ban cho anh em Thánh Thần của Người (1 Tx 4:3-8).

Do đó, chúng ta hãy chọn lấy giáo huấn sau cùng này từ lời của Thiên Chúa, suy tư sâu hơn về hoa trái đặc biệt này của Chúa Thánh Thần, sự trong sạch.

1. Những Lý Do Kitô Giáo Cho Sự Thánh Thiện

Trong Thư Gửi Tín Hữu Galát Thánh Phaolô viết, “Hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gl 5:22-23). Từ gốc Hy Lạp được dịch là “tiết độ” hay “tự kiểm soát bản thân” là enkrateia. Từ này có rất nhiều nghĩa. Thực ra người ta có thể thực thi sự tiết độ trong việc ăn, trong việc nói, trong việc chế ngự cơn giận, v.v. Tuy nhiên, ở đây hầu như luôn là thế trong Kinh Thánh Tân Ước, thì từ này có nghĩa là sự tiết độ trong một lãnh vực cá nhân cụ thể, lãnh vực tình dục. Chúng ta có thể suy luận từ sự thật này là như ở trên khi Ngài liệt kê “những công việc của xác thịt”, vị tông đồ gọi là porneia, sự không trong sạch, điều vốn ngược lại với sự tiết độ. (Cùng một từ này mà chúng ta có từ “pornography” – hình ảnh khiêu dâm).

Trong các bản dịch hiện đại của Kinh Thánh, thì từ porneia đã được dịch đôi khi là mại dâm”, đôi khi là “sự vô luân về tình dục”, đôi khi là “gian dâm” hay “dâm dục”, và đôi khi là với những từ khác. Ý tưởng nền tảng của từ này, tuy nhiên, là ý tưởng là “tự bán chính mình”, của việc sử dụng thân xác của bản thân, và do đó tự bán dâm mình (pernemi trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “Tôi tự bán chính mình”). Sử dụng từ này để cuối cùng nói đến hết mọi biểu hiện của sự mất trật tự về tình dục, Kinh Thánh nói mọi tội về sự không trong sạch, theo một nghĩa nào đó, là việc tự bán dâm chính mình, một việc bán chính mình.

Do đó, từ mà Thánh Phaolô sử dụng nói cho chúng ta biết rằng có hai thái độ đối nghịch nhau đối với thân xác của bản thân và tính dục của bản thân một người. Một thái độ là hoa trái của Thần Khí  và thái độ kia là công việc của xác thịt; một là một nhân đức và một là thói hư. Thái độ đầu tiên có liên quan đến việc duy trì sự kiểm soát chính bản thân và thân xác của mình; thay vào đó thái độ thứ hai có liên quan đến việc bán chính mình hay sử dụng thân xác của mình, nghĩa là, sử dụng tính dục vì thú vui của riêng bản thân, vì những mục tiêu thực dụng vốn khác với những mục tiêu mà khả năng tính dục được tạo nên. Nó làm cho hành vi tính dục thành một hành động có mưu đồ, ngay cả khi việc nhận được thì không phải luôn là tiền như trong trường hợp của việc bán dâm thật sự, và làm cho thú vui ích kỷ trở thành một cùng đích trong chính nó.

Khi chúng ta nói về sự trong sạch và sự không trong sạch trong danh mục đơn giản của những nhân đức hay thói hư, mà không suy xét vấn đề sâu hơn, thì ngôn ngữ của Kinh Thánh Tân Ước không khác gì nhiều so với ngôn ngữ của những nhà đạo đức ngoại giáo. Những nhà đạo đức ngoại giáo, trường phái Khổ Hạnh và Epicurus, cũng khen ngợi sự tự chủ, enkrateia, nhưng chỉ áp dụng cho sự im lặng nội tâm, cho sự thụ động (apatheia) và cho tự làm chủ bản thân. Theo họ, sự trong sạch được điều khiển bởi nguyên tắc “lý luận đúng”.

Tuy nhiên, trong thực tế, với hai từ ngữ thuộc dân ngoại cổ xưa này, thì giờ đây có một nội dung hoàn toàn mới xuất hiện, như vẫn luôn luôn thế, từ huấn quyền. Điều này đã rõ ràng trong đoạn trích của chúng ta đoạn mà sự dâm dục được đặt đối nghịch cách ý nghĩa, như sự trái ngược của nó, ý tưởng về “việc đặt vào Chúa Giêsu Kitô”. Các Kitô Hữu sơ khai đã có thể hiểu được nội dung mới này vì đó đã là chủ đề về một bài giáo lý cụ thể trong các bối cảnh khác.

Giờ đây chúng ta hãy xét đến một trong những giáo huấn cụ thể này về sự trong sạch để khám phá ra nội dung thật sự của nó và những lý do Kitô Giáo thật sự cho nhân đức này, vốn xuất phát từ mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô. Điều đó được tìm thấy ở trong 1 Côrintô 6:12-20. Dường như là người tín hữu Côrintô – có lẽ khi giải thích sai một câu nói mà vị tông đồ đã nói – đưa ra nguyên tắc là “mọi sự đều hợp pháp đối với tôi” để công chính hóa ngay cả với các tội không trong sạch. Câu trả lời của vị tông đồ chứa đựng một động lực hoàn toàn mới mẻ cho sự trong sạch có từ mầu nhiệm Đức Kitô. Ngài nói, người ta không được phép nộp chính mình cho sự không trong sạch (porneia). Người ta không được phép để tự bán mình hay sử dụng chính mình chỉ vì thú vui của riêng bản thân vì một lý do đơn giản là chúng ta không còn thuộc về chính bản thân mình; chúng ta không thuộc về mình nữa mà thuộc về Đức Kitô. Chúng ta không thể quyết định cách sử dụng điều gì không thuộc về chúng ta: “Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Kitô sao?... anh em đâu còn thuộc về mình nữa” (1 Cr 6:15, 19).

Động lực dân ngoại là, theo một nghĩa nhất định, đã bị đảo ngược; giá trị tối thượng để bảo vệ không còn là sự thống lĩnh chính mình mà là “không thống lĩnh chính mình”: “thân xác con người không phải để gian dâm, mà để phụng sự Chúa, vì Chúa làm chủ thân xác” (1 Cr 6:13). Động lực tối hậu cho sự trong sạch, do đó, là việc “Chúa Giêsu là Chúa!” Nói cách khác, sự trong sạch Kitô Giáo không hệ tại ở việc thiết lập sự thống trị của lý luận trên những bản năng của chúng ta quá nhiều như là việc thiết lập sự thống trị của Đức Kitô trên toàn bộ con người, gồm cả lý luận và bản năng của con người ấy.

Động cơ Kitô học đối với sự trong sạch được làm cho trở nên mang tính thôi thúc hơn nữa qua điều mà Thánh Phaolô nói thêm trong cùng một đoạn: chúng ta không “thuộc về” Đức Kitô cách chung chung, giống như tài sản của Ngài hay một điều gì đó thuộc về Ngài, mà chúng ta là thân thể rất thật của Đức Kitô, các chi thể của Ngài! Điều này làm cho mọi sự trở nên tinh tế hơn quá nhiều vì điều đó có nghĩa là khi tôi thực hiện một hành vi không trong sạch, thì tôi đang bán dâm chính thân thể của Đức Kitô, tôi đang thực hiện một kiểu phạm thánh khủng khiếp. Tôi đang thực hiện một việc bạo lực đối với thân thể của Con Thiên Chúa. Vị tông đồ hỏi, “Tôi lại lấy phần thân thể của Đức Kitô mà làm phần thân thể của người kỹ nữ sao?” (1 Cr 6:15).

Ngài đã nhanh chóng thêm vào động cơ Kitô học này một động cơ mang tính thánh linh vốn có liên hệ đến Chúa Thánh Thần: “Anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao?” (1 Cr 6:19). Lạm dụng thân xác của bản thân do đó là hạ thấp đền thờ của Thiên Chúa. Nhưng nếu ai đó phá hủy đền thờ của Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ phá hủy họ (x. 1 Cr 3:17). Thực hiện một việc không trong sạch là “làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa” (Ep 4:30).

Cùng với những lý do mang tính Kitô học và thánh linh, vị tông đồ còn đề cập đến một lý do mang tính cánh chung vốn có ý nói đến số phận chung cục của một con người nhân loại: “Thiên Chúa đã làm cho Chúa Kitô sống lại; chính Người cũng sẽ dùng quyền năng của mình mà làm cho chúng ta sống lại” (1 Cr 6:14). Thân xác chúng ta được tiền định để được phục sinh. Nó được tiền định để một ngày kia sẽ dự phần vào vinh phúc của linh hồn. Sự trong sạch Kitô Giáo không dựa trên việc coi thường thân xác; mà trái lại, nó dựa trên sự tôn trọng lớn lao cho phẩm giá của nó. Các Giáo Phụ, trong việc chống lại những người theo Thuyết Ngộ Đạo, đã thường nói rằng tin mừng không loan báo ơn cứu độ thoát “khỏi” xác thịt mà là ơn cứu độ “của” xác thịt. Những người đang coi thân xác là “một chiếc áo bên ngoài” được tiền định phải bỏ lại ở đây thì không có lý do mà một người Kitô Hữu giữ cho thân xác không bị hư hoại.

Vị tông đồ kết thúc giáo huấn của Ngài về sự trong sạch với một lời mời gọi mang tính bị động: “Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em” (1 Cr 6:20). Do đó, thân xác con người là vì vinh quang của Thiên Chúa và diễn tả vinh quang ấy khi người ta sống tính dục của họ và tất cả mọi sự sống thể lý trong việc yêu thích vâng phục ý muốn của Thiên Chúa, vốn giống như việc nói trong sự vâng phục với ý nghĩa rất quan trọng của tính dục, với bản chất bản năng và nguồn gốc của nó vốn không phải là tự bán chính mình mà là một sự trao ban chính mình. Một sự tôn vinh Thiên Chúa như thế qua thân xác của một người thì không nhất thiết đòi hỏi sự chối bỏ việc thực thi tính dục của bản thân. Trong chương ngay sau đó, 1 Côrintô 7, Thánh Phaolô giải thích thực ra một sự tôn vinh Thiên Chúa như thế tự diễn tả chính nó bằng hai cách và qua hai đặc sủng khác nhau: hoặc là qua hôn nhân hoặc qua sự đồng trinh. Trinh tiết và khiết tình làm vinh quang Thiên Chúa nơi thân thể, nhưng người kết hôn cũng tôn vinh Thiên Chúa khi mỗi người sống những đòi hỏi của tình trạng của mình.

2. Sự Trong Sạch, Vẻ Đẹp, và Tình Yêu Của Người Thân Cận Chúng Ta

Dưới ánh sáng có được từ mầu nhiệm vượt qua và đã được tỏ cho chúng ta về điểm này qua Thánh Phaolô, lý tưởng về sự trong sạch có một vị thế đặc biệt trong mọi sự tóm lược về luân lý trong Tân Ước. Người ta có thể nói rằng không có thư nào của Thánh Phaolô mà trong đó Ngài lại không dành không gian cho sự trong sạch khi Ngài mô tả đời sống mới trong Thần Khí  (xem, chẳng hạn, Ep 4:17-5:33; Cl 3:5-12). Những đòi hỏi căn bản cho sự trong sạch được cụ thể hóa, hết lần này đến lần khác, theo những tình trạng đa dạng của đời sống đối với người Kitô Hữu. Những Thư Mục Vụ giải thích sự trong sạch cần thiết thế nào để được tạo nên nơi người trẻ, nơi người phụ nữ, nơi các đôi bạn, nơi người già, nơi các bà góa, nơi các linh mục, và nơi các giám mục. Những lá thư này trình bày sự trong sạch bằng nhiều diện mạo khác nhau của sự khiết tịnh, sự chung thủy vợ chồng, sự tiết độ, sự tiết chế, sự trinh tiết và sự điều độ.

Nhìn tổng thể, thì khía cạnh này của đời sống Kitô Giáo sẽ quyết định điều mà Tân Ước – và các Thư Mục Vụ một cách đặc biệt – gọi là “vẻ đẹp” hay nét “đẹp” của ơn gọi Kitô Giáo mà, khi hòa cùng với những nét đặc trưng khác của sự tốt lành, hình thành nên một lý tưởng độc đáo về “vẻ đẹp tốt lành” hay “sự tốt lành đẹp đẽ” (theo tiếng Hy Lạp, kalokagathia). Truyền thống Kitô Giáo, gọi sự trong sạch là “nhân đức tuyệt vời”, đã có được tầm nhìn kinh thánh mà – bất chấp những lạm dụng và những nhấn mạnh thường là một phía đã xảy ra – diễn tả một điều gì đó đúng cách sâu sắc. Sự trong sạch thực ra là Vẻ Đẹp!

Kiểu trong sạch này là một lối sống hơn là một nhân đức thuộc về cá nhân. Nó có cả một dải những biểu hiện vượt ra khỏi lãnh vực tình dục cách cụ thể. Có sự trong sạch của thân thể, nhưng cũng có sự trong sạch của linh hồn vốn khước từ không chỉ những hành động mà còn cả những khao khát và tư tưởng “xấu” (x. Mt 5:8, 27-28). Có một sự trong sạch về lời nói mà, một cách tiêu cực, vốn hệ tại ở việc rút khỏi ngôn ngữ khiêu dâm, tục tĩu, ngu xuẩn hay mang tính gọi mời (x. Ep 5:4; Cl 3:8) và hệ tại một cách tích cực ở lời nói chân thành và thẳng thắn, nghĩa là, khi nói “có, có”, và “không, không” trong sự noi theo Con Chiên vô tì vết mà ở nơi Ngài “chẳng ai thấy miệng Người nói một lời gian dối” (1 Pr 2:22). Sau cùng, có một sự trong sạch hay tầm nhìn sạch của đôi mắt và của cái nhìn của một người. “Đôi mắt”, Chúa Giêsu nói, “là đèn của thân thể” (x. Mt 6:22tt; Lc 11:34). Thánh Phaolô sử dụng hình ảnh rất mang tính gợi mời để chỉ ra tính cách của đời sống mới này: Ngài nói các Kitô Hữu, được sinh ra từ Cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, cần phải mang đậm nét “bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật” (1 Cr 5:8). Từ mà vị tông đồ dùng ở đay, eilikrineia, (từ eile, vẻ rực rỡ của mặt trời, và krino, biện phân) chứa đựng ở nơi chính nó hình ảnh về một “sự trong suốt mặt trời”. Trong đoạn mà chúng ta bắt đầu trong Thư Gửi Tín Hữu Rôma Ngài nói về sự trong sạch như “khí giới của sự sáng”.

Mỗi ngày người ta có xu hướng làm tương phản tội đối với sự trong sạch và tội chống lại người thân cận và chỉ xét đến tội đối với một người thân cận là một tội thật. Đôi khi người ta mỉa mai giá trị thái quá mà trong quá khứ là “nhân đức tuyệt vời”. Thái độ này là điều có thể hiểu được: trong quá khứ nền luân lý nhấn mạnh đến tội của xác thịt quá đơn phương đến mức đôi khi nó dẫn đến những vấn đề thần kinh thật, dẫn đến việc bỏ đi mối quan tâm đến các bổn phận đối với người thân cận của chúng ta và đến việc bỏ đi cả chính nhân đức trong sạch nữa. Vì điều đó, nhân đức này trở nên khánh kiệt và bị giảm xuống thành một điều gì đó hầu như chỉ mang tính tiêu cực, nhân đức của việc có khả năng nói “không”.

Tuy nhiên, chúng ta đã đi đến một thái cực ngược lại, và người ta có xu hướng giảm thiểu tội đối với sự trong sạch theo hướng quan tâm (thường chỉ mang tính lời nói) đối với người thân cận của mình. Lỗi căn bản ở đây là việc đặt hai nhân đức này chống lại nhau. Lời của Thiên Chúa, không đặt sự trong sạch chống lại lòng bác ái, mà thay vào đó lại liên hệ cả hai cách chặt chẽ. Chúng ta chỉ cần phải đọc sự liên tục của đoạn từ Thư Thứ Nhất Gửi Tín Hữu Thê-xa-lô-ni-ca mà tôi đã trích ngay từ đầu để nhận ra hai nhân đức này lệ thuộc vào nhau thế nào theo vị tông đồ (x. 1 Tx 4:3-12). Mục tiêu duy nhất của cả sự trong sạch và lòng bác ái là có thể thực hiện một đời sống “đầy phẩm giá”, nghĩa là, liên hệ trong tất cả các mối quan hệ của nó bất luận là với chính bản thân hay với người khác. Trong đoạn của chúng ta, vị tông đồ tóm lược tất cả điều này khi nói, “Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày” (Rm 13:13).

Sự trong sạch và việc yêu mến người thân cận diễn tả sự thống trị trên bản thân và quà tặng bản thân với người khác. Làm sao tôi có thể trao ban chính mình nếu tôi không sở hữu chính mình nhưng lại là một nô lệ cho những đam mê của tôi? Thật là một ảo tưởng khi nghĩ rằng chúng ta có thể kết hợp việc phục vụ anh chị em, vốn mời gọi sự hy sinh, lòng vị kỷ, quên mình, và lòng đại lượng, với một cuộc sống mất kỷ luật cá nhân, tất cả đều nhằm thỏa mãn chính bản thân và thỏa mãn hết mọi đam mê của bản thân. Những người không thể nói “không” với chính họ thì không thể nói “có” với anh chị em.

Một trong “những lời biện hộ” vốn góp phần nhiều nhất cho việc biện minh cho tội không trong sạch trong tư tưởng con người và để giải thoát họ khỏi mọi trách nhiệm là việc tội ấy không làm tổn thương bất cứ ai khác, tội ấy không phá vỡ quyền và sự tự do của bất cứ ai trừ khi họ nói, nó có liên hệ đến việc lạm dụng tình dục. Nhưng ngoài sự thật là cách tiếp cận này phá vỡ quyền nền tảng của Thiên Chúa khi ban cho các tạo vật của Ngài là lề luật, thì “lời biện minh” này là không trung thực khi có liên quan đến người thân cận. Cũng không đúng là tội không trong sạch kết thúc với người thực hiện tội ấy. Có một sự liên đới giữa tất cả các tội. Mỗi một tội, bất luận nơi nào và bất luận là ai thực hiện nó, đều tiêm nhiễm và làm nhơ bẩn bầu khí đạo đức đối với con người. Chúa Giêsu gọi sự tiêm nhiễm này là “cớ vấp phạm” và lên án nó với một trong những lời khủng khiếp nhất ở trong toàn bộ tin mừng (x. Mt 18:6tt; Mc 9:42tt; Lc 17:1tt). Ngay cả với các tư tưởng tội lỗi đang có ở trong tâm hồn chúng ta, theo Chúa Giêsu, cũng làm hư hỏng một người và do đó có lời: “Vì tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm...Ðó mới là những cái làm cho con người ra ô uế” (Mt 15:19-20).

Mọi tội lỗi đều phá hủy các giá trị và tất cả chúng cùng một trật tạo ra điều mà Phaolô xác định là “luật của tội” mà sức mạnh của nó trên toàn bộ nhân loại này mà Ngài phác họa ra (x. Rm 7:14tt). Trong Kinh Talmud của Do Thái Giáo, chúng ta có thể đọc một dụ ngôn minh họa thật rõ sự liên đới giữa tội và mối nguy hại mà tất cả mọi tội, kể cả tội cá nhân, tạo ra cho người khác. “Một số người đang ở trên một chiếc thuyền. Một trong số họ lấy một mũi khoan và bắt đầu khoan một lỗ ngay dưới chỗ ngồi của mình. Những hành khách khác, khi nhìn thấy anh ta, đã hỏi, ‘Anh đang làm gì vậy?’ Anh ta trả lời, ‘Chuyện gì liên quan đến mọi người?’ Chẳng phải tôi đang không khoan một cái lỗ dưới chỗ ngồi của riêng tôi sao?’ Nhưng họ trả lời, ‘Đúng, nhưng nước sẽ vào trong thuyền và sẽ nhận chìm hết tất cả chúng ta!” Tự bản thân thiên nhiên đã bắt đầu gửi đến chúng ta những lời cảnh báo chống lại đáng quan ngại trước những tình trạng lạm dụng và những thái quá hiện đại trong lãnh vực tình dục.

3. Sự Trong Sạch và Sự Canh Tân

Trong khi nghiên cứu lịch sử về nguồn ngốc của Kitô Giáo, người ta có thể thấy rõ rằng có hai khí cụ nguyên tắc mà qua đó Giáo Hội thành công trong việc làm biến đổi thế giới dân ngoại vào thời ấy. Khí cụ thứ nhất là việc loan báo tin mừng, truyền giáo, và thứ hai là chứng từ của đời sống của người Kitô Hữu, chứng tá của họ. Và người ta có thể thấy cách mà, trong lãnh vực làm chứng đời sống, một lần nữa hai điều làm kinh ngạc và hoàn cải dân ngoại nhất: tình yêu thương huynh đệ và sự trong sạch về đạo đức của người Kitô Hữu. Thư Thứ Nhất của Thánh Phêrô đã đề cập đến sự kinh ngạc của thế giới dân ngoại trước chuẩn mực sống vốn khác biệt nơi những người Kitô Hữu. Ngài viết,

Thật thế, trong quá khứ anh em đã sống theo sở thích dân ngoại: dâm ô, mê đắm, nhậu nhẹt, say sưa, chè chén, tin vơ thờ quấy, như vậy là quá đủ rồi. Về điều đó, họ kinh ngạc vì thấy anh em không cùng chạy ùa theo cuộc sống trụy lạc ồ ạt như dòng thác lũ, và họ nói xấu anh em (1 Pr 4:3-4).

Những tác giả viết bênh vực đức tin, các tác giả Kitô Giáo là những người viết để bảo vệ đức tin trong những thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội, làm chứng rằng tính cách trong sạch và khiết tịnh của đời sống của những người Kitô Hữu, đối với những người ngoại, là một điều gì đó “ngoại thưởng và không thể tin được”. Cụ thể, việc khôi phục gia đình có một tác động ngoại thường trên xã hội dân ngoại, một điều mà các giới chức thời đó đã muốn cải tổ, nhưng họ đã bất lực để làm giảm tốc độ sự tan rã của nó. Một trong những luận điểm mà Thánh Justin Tử Đạo đã dựa trên trong phần Bênh Vực của Ngài nói với hoàng đế Antonimus Pius là điều này: Các hoàng đế La Mã quan tâm về việc cải thiện luân lý và gia đình, và họ đang nỗ lực để ban hành các luật lệ cho mục tiêu ấy. Tuy nhiên, những bộ luật này đã cho thấy là không đủ. À, tại sao lại không chịu nhìn nhận điều mà các luật Kitô Giáo đã có thể đạt được đối với những người đang sống lề luật ấy và nhìn nhận sự trợ giúp mà họ cũng có thể mang lại cho xã hội dân sự?

Điều này không có nghĩa là cộng đồng Kitô Giáo thì hoàn toàn được miễn khỏi những mất trật tự về tình dục và tội lỗi. Ngay cả Thánh Phaolô đã phải giải quyết với một trường hợp loạn luân ở cộng đoàn Côrintô. Nhưng những tội thế này rõ ràng được nhìn như là tội lỗi, bị chối bỏ, và bị chỉnh sửa. Không nhất thiết đòi hỏi là không có tội trong lãnh vực này, như trong các lãnh vực khác, mà là chiến đấu chống lại tội lỗi.

Giờ đây chúng ta hãy chuyển từ Kitô Giáo thời sơ khai sang ngày nay. Tình hình trong thế giới là gì khi liên quan đến sự trong sạch? Tình trạng là tương tự nếu không muốn nói là tệ hơn tình hình xưa! Chúng ta đang sống trong một xã hội, theo nghĩa luân lý, vốn đã rơi trở lại vào trong một nền chủ nghĩa dân ngoại bùng phát và một sự thờ ngẫu tượng tình dục bùng phát. Việc chối bỏ khủng khiếp mà Thánh Phaolô nói về thế giới dân ngoại ngay khởi đầu Thư Gửi Tín Hữu Rôma áp dụng, từng điểm một, cho thế giới hôm nay, đặc biệt cho một xã hội gọi là xã hội giàu có (x. Rm 1:26-27, 32).

Ngày nay cũng thế, những điều này và những điều tồi tệ khác đang được thực hiện, nhưng con người đang nỗ lực để biện minh cho chúng, biện minh cho mọi giấy phép luân lý và mọi sự lầm lạc tình dục đang hiện diện, họ nói, việc ấy không gây hại đến người khác và không vi phạm đến sự tự do của người khác. Tất cả mọi gia đình đang bị phá hủy và người ta vẫn cứ nói, sự nguy hại ở đâu trong đó? Thật không thể chối bỏ được là những phán quyết về nền luân lý tính dục truyền thống đang được sửa lại và rằng các ngành khoa học hiện đại về con người đã góp phần mang lại ánh sáng trên một số hoạt động và hoàn cảnh nội tâm của tâm lý con người vốn đang gỡ bỏ hay loại bỏ trách nhiệm luân lý cho một số hành vi nhất định vốn đã được coi là tội lỗi vào một thời điểm nào đó.

Nhưng tiến bộ này chẳng có liên hệ gì đến chủ nghĩa tình dục mở rộng của những lý thuyết tân khoa học và mang tính cho phép vốn đang có khuynh hướng loại bỏ bất cứ một qui định khách quan nào về luân lý tính dục, giảm thiểu mọi sự xuống thành một sự tiến hóa tự nhiên của luân lý, đó là, một vấn đề văn hóa. Nếu chúng ta xem xét thật cẩn thận điều đang được gọi là một cuộc tiến hóa tình dục của thời đại chúng ta, thì chúng ta sẽ nhận ra cùng với sự choáng váng là đó không chỉ là một sự tiến hóa so với quá khứ mà còn thường là một sự tiến hóa chống lại Thiên Chúa và đôi khi thậm chí chống lại bản chất con người.

4. Tâm Hồn Trong Sạch!

Nhưng tôi không muốn bám quá lâu vào việc mô tả tình hình xung quanh chúng ta ngày nay mà tất cả chúng ta đã biết quá rõ. Thay vào đó, tôi muốn khám phá và truyền tải điều mà Thiên Chúa muốn chúng ta là những Kitô Hữu trong hoàn cảnh như này. Thiên Chúa đang mời gọi chúng ta trước cùng một nhiệm vụ mà Ngài đã mời gọi những anh chị em tiên khởi trong đức tin của chúng ta, để “đứng lên chống lại tình trạng thác loạn hoang dã này”. Ngài đang mời gọi chúng ta hãy làm cho “vẻ đẹp” của đời sống Kitô Giáo tỏa sáng trở lại trước mắt cả thế giới. Ngài đang mời gọi chúng ta hãy chiến đấu cho sự trong sạch, chiến đấu bằng sự bền bỉ và khiêm nhường – chứ không nhất thiết là phải hoàn hảo ngay lập tức.

Ngày nay Chúa Thánh Thần đang mời gọi chúng ta làm một điều gì đó mới mẻ: Ngài đang mời gọi chúng ta hãy làm chứng cho thế giới về tình trạng vô tội nguyên gốc của mọi loài thọ tạo và mọi sự. Thế giới đã chìm rất sâu, có người đã viết rằng tình dục đã đi vào trong não bộ của chúng ta. Chúng ta cần một điều gì đó rất mạnh để phá vỡ kiểu nghiện và say sưa tình dục này. Chúng ta cần phải làm thức tỉnh lại ở nơi con người một sự hoài niệm về một tình trạng vô tội và đơn sơ mà họ đang khao khát trong tâm hồn họ, ngay cả khi những tâm hồn này đang khá thường bị bao phủ bởi sự nhơ nhớp. Tôi đang không nói về sự vô tội của công trình tạo dựng vốn không còn tồn tại nữa mà là sự vô tội của ơn cứu chuộc mà Đức Kitô đã khôi phục cho chúng ta và mang lại cho chúng ta trong các bí tích và trong lời của Thiên Chúa. Đây là điều mà Thánh Phaolô có trong tư tưởng khi Ngài viết cho Phi-líp-phê “anh em sẽ trở nên trong sạch, không ai chê trách được điều gì, và sẽ trở nên những con người vẹn toàn của Thiên Chúa, giữa một thế hệ gian tà, sa đọa. Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời, là làm sáng tỏ Lời ban sự sống” (Pl 2:15-16). Điều này mô tả điều mà Thánh Phaolô gọi trong đoạn này của chúng ta là “mang lấy khí giới của sự sáng”.

Thật chưa đủ để có sự trong sạch dựa trên sự sợ hãi, những điều cấm kị, những ngăn cấm, và những người nam nữ đang né tránh nhau như thể phía bên kia luôn nhất định là một cái bẫy và là kẻ thù tiềm năng thay vì là một sự “trợ giúp”. Trong quá khứ sự trong sạch đôi khi bị giảm xuống, ít nhất về mặt thực hành, rõ ràng là cho sự phối hợp của những điều cấm kị, những điều cấm, và những sợ hãi như thể nhân đức này là cần thiết để bị xấu hổ trước thói hư thay vì thói hư phải xấu hổ trước nhân đức. Chúng ta cần phải hướng đến, nhờ vào sự hiện diện của Thần Khí ở nơi chúng ta, một sự trong sạch mạnh mẽ hơn là tính xấu đối nghịch – một sự trong sạch tích cực, chứ không chỉ là một sự trong sạch tiêu cực, vốn có thể giúp chúng ta kinh nghiệm được sự thật của lời này từ vị tông đồ, “Mọi sự đều trong sạch với những người trong sạch” (Tt 1:15), và về lời khác này từ Kinh Thánh, “Ðấng ở trong anh em mạnh hơn kẻ ở trong thế gian” (1 Ga 4:4).

Chúng ta cần bắt đầu với việc chữa lành cội rễ, vốn là “tâm hồn”, vì mọi sự làm cho đời sống một người ra ô uế là từ tâm hồn (Mt 15:18). Chúa Giêsu nói, “Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa!” (Mt 5:8). Họ sẽ thật sự thấy, họ sẽ có đôi mắt mới để nhìn thế giới và Thiên Chúa, đôi mắt sáng vốn biết cách biện phân điều gì là đẹp đẽ và điều gì là xấu xa, điều gì là chân thật và điều gì là giả dối, điều gì mang lại sự sống và điều gì mang lại sự chết – đôi mắt, tắt một lời, giống như đôi mắt của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu thật tự do biết bao khi nói về mọi sự: trẻ em, phụ nữ, mang thai, sinh con... Đôi mắt giống đôi mắt của Mẹ Maria. Do đó, sự trong sạch không còn hệ tại ở việc khi nói “không” trước các tạo vật mà là ở việc nói “có” trước chúng – cho đến giờ thì họ là những tạo vật của Thiên Chúa là Đấng đã và vẫn “rất tốt lành”.

Chúng ta đừng tự cám dỗ chính mình. Để có thể nói tiếng “có” này, chúng ta cần phải trải qua thập giá vì sau tội lỗi, thì cái nhìn của chúng ta về các tạo vật đã trở nên mờ tối; lòng ham muốn đã được khai mở nơi chúng ta; tình dục không còn bình an nữa và đã trở thành một sức mạnh mơ hồ và mang tính đe dọa đang kéo lê chúng ta rời xa khỏi lề luật của Thiên Chúa vốn ngược với ý muốn của chúng ta. Những tin tức hằng ngày về những nạn lạm dùng và bê bối trong lãnh vực này, gồm cả nơi các thành viên của hàng giáo sĩ và tu sĩ, là ở đó để nhắc nhớ chúng ta về thực tại đắng cay này. Trong bài suy niệm đầu tiên của Mùa Chay này, chúng ta đã nhấn mạnh đến một khía cạnh vốn đặc biệt phù hợp và cần thiết cho sự chết đi: sự chết đi của đôi mắt. Một việc chay tịnh hình ảnh lành mạnh ngày nay thì quan trọng hơn việc chay tịnh thực phẩm và đồ uống.

Chúng ta hãy kết thúc bằng việc gợi nhắc lại kinh nghiệm của Thánh Augustine đã đề cập ngay ban đầu bài này. Sau khi đã kinh nghiệm được sự giải thoát, Ngài bắt đầu cầu nguyện xin ơn khiết tịnh theo một cách mới mẻ: “Lạy Chúa, Ngài nói, Ngài ra lệnh cho con phải khiết tịnh. Xin ban cho con điều con xin Chúa và rồi hãy yêu cầu con bất cứ điều gì Chúa muốn”. Một lời cầu nguyện mà chúng ta có thể biến thành của riêng mình, khi biết rằng trong lãnh vực này như trong bất cứ lãnh vực nào khác mà tự bản thân chúng ta chẳng thể làm được điều gì.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ ZENIT)