Skip to main content
Cha Raniero Cantalamessa, Giảng Thuyết Phủ Giáo Hoàng (Youtube)

Cha Cantalamessa - Bài Suy Niệm Mùa Chay 2019 Cho Phủ Giáo Hoàng - Tuần 3

NGẪU TƯỢNG – SỰ PHẢN LẠI THIÊN CHÚA HẰNG SỐNG

Mỗi sáng, khi chúng ta thức dậy chúng ta có kinh nghiệm đặc biệt mà hầu như chúng ta không bao giờ chú ý. Trong suốt đêm, mọi thứ tồn tại quanh chúng ta là cách mà chúng ta bỏ chúng đêm trước đó: giường, cửa sổ, căn phòng. Có lẽ mặt trời đã chiếu sáng bên ngoài, nhưng chúng ta không thấy vì đôi mắt của chúng ta đã khép lại và những bức rèm đã buông xuống. Chỉ khi chúng ta thức giấc thì mọi thứ lại bắt đầu hay trở lại tồn tại đối với tôi vì tôi trở nên ý thức về chúng, tôi nhận ra chúng. Trước khi ấy, như thể là những thứ này không hề tồn tại.

Điều tương tự cũng đúng với Thiên Chúa. Ngài luôn ở đó: “Chính ở nơi Người mà chúng ta sống, cử động, và hiện hữu”, Thánh Phaolô nói với người dân Athen (Cv 17:28). Nhưng nhìn chung điều này diễn ra như giấc ngủ của chúng ta, mà chúng ta không hay biết gì về nó cả. Cũng có một sự thức tỉnh thuộc tinh thần, một sự bùng phát đột ngột của ý thức. Đây là lý do vì sao Kinh Thánh quá thường dạy chúng ta hãy thức tỉnh từ giấc ngủ của chúng ta: “Tỉnh giấc đi hỡi người con đang ngủ! Từ chốn tử vong, chỗi dậy đi nào! Ðức Kitô sẽ chiếu sáng ngươi!” (Ep 5:14); “Ðã đến lúc anh em phải thức dậy” (Rm 13:11).

Ngẫu Tượng, Xưa và Mới

Thiên Chúa của Kinh Thánh được định nghĩa là “hằng sống” để phân biệt Ngài với những thứ ngẫu tượng vốn là những thứ chết chóc. Đây là cuộc đấu tranh xuất hiện trong tất cả các sách của Cựu Ước và Tân Ước. Chúng ta chỉ cần mở ra một trang ngẫu nhiên từ các tiên tri hay thánh vịnh để tìm kiếm những dấu hiệu của cuộc chiến trường kì này trong sự bảo vè của Thiên Chúa là một và duy nhất của Israel. Việc thờ ngẫu tượng là sự phản đề chính xác của Thiên Chúa hằng sống. Một thánh vịnh đã nói về những thứ ngẫu tượng,

Tượng thần chúng chỉ là vàng bạc,

chỉ do tay người thế tạo thành.

Có mắt có miệng, không nhìn không nói,

có mũi có tai, không ngửi không nghe.

Có hai tay, không sờ không mó

có hai chân, không bước không đi,

từ cổ họng, không thốt ra một tiếng (Tv 115:4-7).

Trái với những thứ ngẫu tượng, Thiên Chúa hằng sống xuất hiện như là một Thiên Chúa là Đấng “thực hiện điều Ngài hài lòng”, Đấng nói, Đấng nhìn, Đáng nghe, một Thiên Chúa “là Đấng thở!” Hơi thở của Thiên Chúa có một tên gọi trong Kinh Thánh, Ruah Yahweh, Thần Khí của Thiên Chúa.

Cuộc đấu tranh chống lại việc thờ ngẫu tượng, thật không may, đã không kết thúc với sự chấm dứt của chủ nghĩa ngoại bang lịch sử; nó luôn luôn tiếp diễn. Các thứ ngẫu tượng đã đổi danh xưng của chúng, nhưng chúng lại đang hiện diện hơn bao giờ hết. Bên trong mỗi người chúng ta, như chúng ta sẽ thấy, có tồn tại một thứ ngẫu tượng ghê tởm nhất trong mọi thứ ngẫu tượng. Do đó, thật đáng để dừng lại một chút về vấn đề này như là một vấn đề thức thời, chứ không phải là một vấn đề thuộc quá khứ.

Người đã thực hiện một sự phân tích vững chắc và sâu sắc nhất về việc thờ ngẫu tượng là tông đồ Phaolô. Chúng ta hãy để cho bản thân mình được Ngài dẫn dắt đến với việc khám phá ra “con bò vàng” đang nằm cách kín ẩn nơi mỗi người chúng ta. Ngay từ đầu Thư Gửi Tín Hữu Rôma, chúng ta đọc điều này:

Thật vậy, từ trời, Thiên Chúa mạc khải cơn thịnh nộ của Người chống lại mọi thứ vô luân và bất chính của những người lấy sự bất chính mà giam hãm chân lý. Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa, thì thật là hiển nhiên trước mắt họ, vì chính Thiên Chúa đã cho họ thấy rõ. Quả vậy, những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người. Do đó, họ không thể tự bào chữa được, vì tuy biết Thiên Chúa, họ đã không tôn vinh hay cảm tạ Người cho phải đạo. Trái lại, đầu óc họ suy luận viển vông và tâm trí ngu si của họ hóa ra mê muội. (Rm 1:18-21)

Trong tư tưởng của những người đã học thần học, những lời này gắn liền cách đặc biệt nhất với luận đề về sự hiểu biết cách tự nhiên về sự hiện hữu của Thiên Chúa từ những điều mà Ngài đã tạo nên. Do đó, một khi vấn đề được giải quyết, hay sau khi vấn đề này thôi không còn là sự bận tâm khẩn thiết như trong quá khứ, thì những lời này rất hiếm khi dược đề cập đến hay trân trọng. Nhưng vấn đề về sự hiểu biết tự nhiên về Thiên Chúa, trong bối cảnh này, là một vấn đề khá mang tính bên lề. Những lời của vị tông đồ có nhiều điều để nói với chúng ta hơn; những lời này có chứa đựng một trong “những cơn thịnh nộ của Thiên Chúa” có khả năng phá vỡ ngay cả những rặng núi Li Băng.

Vị tông đồ có ý diễn tả hoàn cảnh của con người là gì trước Đức Kitô và bên ngoài Ngài, nói cách khác, điểm mà tiến trình cứu chuộc khởi đi. Tiến trình cứu chuộc không khởi đi từ số không về bản chất, mà từ dưới mức số không vì tội lỗi. Tất cả mọi người đã phạm tội; không ai được miễn trừ. Vị tông đồ đã chia thế giới thành hai loại – Hy Lạp và Do Thái, nghĩa là, người dân ngoại và người có niềm tin – và khi Ngài bắt đầu thì sự tố cáo của Ngài rõ ràng là chống lại tội của những người ngoại. Ngài xác định tội nền tảng của thế giới ngoại bang là vô thần và bất chính. Ngài nói rằng đó là một cuộc tấn công vào chân lý – chứ không phải vào sự thật này hay sự thật kia mà là về chân lý nguyên tuyền của tất cả mọi sự hiện hữu.

Tội nền tảng, đối tượng chính của cơn thịnh nộ thánh, được xác định là asebeia, vô thần. Cụ thể điều này có nghĩa là gì là điều mà vị tông đồ giải thích ngay, khi nói rằng nó hệ tại ở việc chối bỏ “tôn vinh” và “tạ ơn” Thiên Chúa. Nói theo cách khác, đó là sự chối bỏ nhìn nhận Thiên Chúa là Thiên Chúa, không dành cho Ngài sự chú ý thuộc về Ngài. Chúng ta có thể nói, tội này hệ tại ở việc “phớt lờ Thiên Chúa” mà trong đó “việc phớt lờ” ở đây không có nghĩa là “không biết là Ngài hiện hữu”, mà là “hành động như thể Ngài không hiện hữu”.

Trong Kinh Thánh Cựu Ước chúng ta nghe ông Moses kêu lên với người dân, “Hãy biết rằng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), thật là Thiên Chúa” (Đnl 7:9), và một thánh vịnh đã đón nhận tiếng kêu ấy, khi nói, “Hãy nhìn nhận CHÚA là Thượng Ðế, chính Người dựng nên ta, ta thuộc về Người” (Tv 100:3). Giảm thiểu điều này thành điều cốt lõi trọng tâm của nó, thì tội lỗi nghĩa là một sự chối bỏ “sự nhìn nhận” ấy; đó là một nỗ lực về phía một thọ tạo muốn thủ tiêu khoảng cách vô biên về lượng vốn tồn tại giữa chính bản thân thọ tạo ấy và Đấng Tạo Hoá và chối bỏ việc tuỳ thuộc vào Ngài. Sự chối bỏ ấy trở nên được nhập thể cách cụ thể nơi việc thờ ngẫu tượng, mà trong đó người ta thờ thọ tạo thay vì Đấng Tạo Dựng (x. Rm 1:25). Những người dân ngoại, vị tông đồ tiếp tục nói,

đầu óc họ suy luận viển vông và tâm trí ngu si của họ hóa ra mê muội. Họ khoe mình khôn ngoan, nhưng đã trở nên điên rồ. Thay vì Thiên Chúa vinh quang bất tử, họ đã thờ hình tượng người phàm là loài phải chết, hay hình tượng các loài chim chóc, thú vật, rắn rết (Rm 1:21-23).

Vị tông đồ không có ý là tất cả mọi người dân ngoại không có ngoại lệ một cách cá nhân đã sống trong kiểu tội này. (Ngài nói xa hơn, trong Thư Rôma 2:14tt., về những người ngoại là những người đón nhận Thiên Chúa vì họ tuân giữ lề luật mà Thiên Chúa ghi chép nơi tâm hồn họ). Ngài có ý nói về hoàn cảnh khách quan phổ quát của con người trước mặt Thiên Chúa sau khi phạm tội. Con người, được tạo nên “thẳng đứng” (theo nghĩa vật lý là đứng thẳng và theo nghĩa luân lý là công chính), đã trở nên “bị cong” bởi tội lỗi, nghĩa là, cong hướng về chính họ, và trở nên “ngoan cố”, nghĩa là, hướng về bản thân họ thay vì hướng về Thiên Chúa.

Trong việc thờ ngẫu tượng, người ta không “chấp nhận” Thiên Chúa nhưng tự biến bản thân mình thành một thượng đế. Các vai trò bị đảo ngược: con người trở thành người thợ gốm và Thiên Chúa trở thành đất sét vốn được hình thành theo thú vui của con người (x. Rm 9:20tt). Trong tất cả điều này có một sự ám chỉ, ít nhất là ngầm định, đến trình thuật sáng tạo (x. St 1:26-27). Ở đó trình thuật này nói rằng Thiên Chúa tạo nên con người theo hình ảnh và giống như Ngài; ở đây họ nói rằng con người đã thay thế hình ảnh và hình tượng của con người hư hỏng đối với Thiên Chúa. Nói cách khác, Thiên Chúa tạo nên con người theo hình ảnh của Ngài, và giờ thì con người tạo nên Thiên Chúa theo hình ảnh của mình. Vì con người là bạo lực, nên con người sẽ biến bạo lực thành vị thần, Thần Mars; vì con người dâm bôn, nên con người sẽ biến sự dâm bôn thành vị thần, Thần Venus, và tương tự. Giờ đây con người đang biến Thiên Chúa thành phóng chiếu của chính mình.

“Kẻ đó chính là bạn!”

Sẽ thật dễ dàng để minh hoạ điều đó, theo một cách nào đó, điều này vẫn đang là hoàn cảnh mà trong đó chúng ta đang thấy chính mình ở Phương Tây từ quan điểm tôn giáo; đó là hoàn cảnh mà từ đó chủ nghĩa vô thần hiện đại có được khởi điểm của nó bắt đầu với câu nói nổi tiếng của Ludwig Feuerbach, “Thiên Chúa không tạo nên con người theo hình ảnh của mình; mà trái lại con người tạo nên Thiên Chúa theo hình ảnh của mình”. Theo một nghĩa nhất định thì chúng ta phải thừa nhận là lời khẳng định này là đúng! Đúng, Thiên Chúa thật ra là một sản phẩm của trí tuệ con người. Tuy nhiên, vấn đề là việc biết Thiên Chúa nào đang được nói đến. Chắc chắn đó không phải là Thiên Chúa hằng sống của Kinh Thánh mà chỉ là một sự thay thế. Chúng ta hãy hình dung một người bị loạn trí ngày nay đang đang cầm một cái búa đến bức tượng Vua Đa-vít của Michelangelo ngay phía trước Palazzo della Signoria ở Florence và rồi bắt đầu gào lên với một phí phách khải hoàn, “Tôi đã phá huỷ tượng Đa-vít của Michelangelo! Đa-vít của ông ấy không còn tồn tại nữa! Đa-vít của ông ấy không còn tồn tại nữa!” Con người ảo tưởng tội nghiệp kia không nhận ra rằng đó chỉ là một hình bóng, một phiên bản sao đối với những người du khách đang vội vàng, vì bức tượng Đa-vít thật của Michelangelo, vì một sự nỗ lực như thế trong quá khứ, đã bị đưa ra khỏi khu vực và đang được cất giữ an toàn tại Bảo Tàng Galleria dell’Accademia. Điều này song hành với điều đã xảy ra với Friedrich Nietzsche khi, qua một trong những lời nói của các nhân vật của ông, ông tuyên bố, “Chúng ta đã giết chết Thiên Chúa!” Ông không hề nhận ra rằng ông đã chẳng giết một Thiên Chúa thật mà chỉ là một phiên bản sao “bằng thạch cao” về Ngài.

Chúng ta chỉ cần một sự quan sát đơn giản để được thuyết phục rằng chủ nghĩa vô thần hiện đại chẳng có liên hệ gì đến Thiên Chúa của niềm tin Kitô Giáo mà với một ý tưởng méo mó về Ngài. Nếu ý tưởng về Thiên Chúa là một và ba ngôi đã được giữ cho sống động trong thần học (thay vì nói về một “thực thể tối thượng” mơ hồ), thì sẽ khong phải là quá dễ dàng để cho lý thuyết của Feurbach thắng thế, là Thiên Chúa là một sự phóng chiếu của chính con người và của yếu tính của con người. Điều con người cần phải có là gì để tự tách bản thân họ thành ba – Cha, Con, và Thánh Thần? Đó là một thứ thần thánh mơ hồ vốn đã được đánh bóng bởi chủ thuyết vô thần hiện đại, chứ không phải là niềm tin vào Thiên Chúa là một và ba ngôi.

Nhưng chúng ta hãy đi đến một điều khác. Chúng ta không ở đây để tranh cãi với chủ thuyết vô thần hiện đại hay đang tham gia vào một lớp thần học mục vụ; chúng ta đang ở đây để thực hiện một hành trình hoán cải cá nhân. Phần nào mà chúng ta có – tôi có ý nói “chúng ta” theo nghĩa là chúng ta là những người tín hữu ở đây – trong bản cáo trạng lớn lao của Kinh Thánh đối với việc thờ ngẫu tượng? Theo như những gì mà chúng ta đã nói cho tới giờ, thì thực ra dường như là hơn bất cứ điều gì khác, chúng ta đã đóng vai trò của những người tố cáo. Chúng ta hãy nghe điều theo sau trong Thư Gửi Tín Hữu Rôma của Thánh Phaolô. Sau khi đã lột mặt nạ khỏi diện mạo của thế gian, tiếp đến vị tông đồ lột những chiếc mặt nạ khỏi những gương mặt của chúng ta và chúng ta sẽ thấy thế nào.

Bạn chẳng có lý gì, bất luận bạn là ai, khi bạn kết án người khác; vì trong khi đưa ra lời kết án về người khác thì bạn tự lên án chính mình, vì bạn, người kết án, đang thực hiện cùng một điều rất tương tự. Bạn nói, “Chúng tôi biết rằng sự phán xét của Thiên Chúa trên những người làm những người này là theo sự thật”. Bạn có hình dung, bất luận bạn là ai, rằng khi bạn kết án những người làm những điều như thế nhưng chính bạn lại thực hiện những việc ấy, thì bạn sẽ thoát khỏi sự phán xét của Thiên Chúa? (Rm 2:1-3)

Kinh Thánh kể cho chúng ta câu chuyện sau. Vua Đa-vít đã thực hiện một hành vi dâm dục; để che đậy sự việc ông đã để cho chồng của người phụ nữ bị giết ngoài mặt trận, để ngay tại thời điểm đó ông chiếm lấy người vợ cho riêng mình là điều thậm chí có vẻ như đó là một hành động đại lượng về phía nhà vua đối với người lính là người đã chết khi chiến đấu vì ông. Đây là một sợi xích thật sự của các tỗi là ở đây. Sau đó, ngôn sứ Na-ta-na-en, được Thiên Chúa sai đi, đã đến với Đa-vít và nói với ông về một dụ ngôn (nhưng nhà vua khong biết đó là một dụ ngôn). Ông Na-ta-na-en nói, có một người nghèo chỉ có một con cừu vốn rất thân thương với ông mà từ nó ông có thể nuôi sống bản thân và con cừu ngủ trong nhà ông. Có một người khách đến chơi nhà một người nhà giàu, ông này lại giữ riêng đàn cừu của mình, lại đi lấy con cừu của ông nhà nghèo kia và đã giết con cừu để chuẩn bị bàn tiệc đãi khách của ông. Khi Vua Đa-vít nghe câu chuyện này, cơn thịnh nộ của ông bùng phát đối với người nhà giàu kia và ông nói, “Người làm việc này xứng tội chết!” Do đó ông Na-ta-na-en đã thôi câu chuyện dụ ngôn ngay, chỉ thẳng ngón tay ông vào Đa-vít, nói với ông, "Kẻ đó chính là ngài!” (x. 2 Sm 12:1tt).

Đó là điều mà tông đồ Phaolô thực hiện với chúng ta. Sau khi đã kéo chúng ta đi theo phía sau Ngài trong sự bực tức công chính và nỗi kinh hoàng về tình trạng vô thần của thế giới, khi chúng ta đi từ chương một sang chương hai của thư này, thì như thể Ngài đột ngột quay sang phía chúng ta và lặp lại, “Kẻ đó chính là bạn!” Sự tái xuất hiện tại điểm này của cụm từ “không có lý do nào” (anapologetos), được sử dụng trước đó đối với những người ngoại, không để lại sự hoài nghi nào về những ý định của Thánh Phaolô. Trong khi bạn phán xét người khác – Ngài kết luận – thì bạn đang lên án chính mình. Nỗi kinh hoàng mà bạn nhận vì việc thờ ngẫu tượng giờ đây quay ra chống lại bạn.

“Sự phán xét” trong suốt chương hai chuyển sang thành một người Do Thái, là người được hiểu ở đây hơn cả là một kiểu mẫu. “Người Do Thái” thì không phải là Hy Lạp, người không phải dân ngoại (x. Rm 2:9-10). Người ấy là một người nhiệt thành là một người có niềm tin, người có những nguyên tắc mạnh mẽ và đang trong tiến trình của sự trưởng thành được thể hiện ra, là người phán xét toàn thế giới và, trong khi phán xét, tự cảm thấy bản thân an toàn. “Người Do Thái” theo nghĩa này là mỗi người chúng ta. Origen đã thực sự nói điều đó trong Giáo Hội, những người bị những lời này của vị tông đồ nhắm đến là các linh mục, các thầy cả và phó tế, nghĩa là những người dẫn dắt, những người lãnh đạo.

Chính bản thân Phaolô đã kinh nghiệm cú sốc này khi Ngài trải qua từ một người Pha-ri-sêu đến việc là một Kitô Hữu, vì thế giờ đây Ngài có thể nói bằng niềm xác tín lớn lao và chỉ ra con đường cho các tín hữu để đi ra khỏi tình trạng Pha-ri-sêu. Ngài phơi bày tình trạng ảo tưởng bất thường lặp đi lặp lại là người mộ đạo và có niềm tin tôn giáo có về việc được chở che khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa chỉ vì họ có một ý tưởng rõ ràng về sự lành và sự dữ, họ biết luật, và thi thoảng họ biết cách áp dụng điều đó cho người khác. Tuy nhiên, khi chuyện có liên quan đến họ, họ lại nghĩ rằng đặc quyền của việc ở phía Thiên Chúa – hay trong bất cứ trường hợp nào “sự tốt lành” và “sự nhẫn nại” của Thiên Chúa thì họ biết rõ – sẽ tạo ra một ngoại lệ cho họ. Chúng ta hãy hình dung cảnh tượng này. Một người cha quở trách một trong các con trai của ông về một vài kiểu vi phạm nào đó; một người con khác, là người đã phạm cùng một sai phạm, tin là sẽ dành được sự đồng cảm của cha mình và thoát khỏi hình phạt, cũng bắt lớn tiếng đầu quở trách em mình, trong khi người cha lại mong một điều hoàn toàn khác. Người cha mong đợi nghe cậu la mắng em mình và thấy được sự tốt lành và nhẫn nại của ông đối với cậu, người con thứ hai sẽ chạy đến để qùi sụp dưới chân cha mình, xưng thú rằng cậu cũng phạm cùng một sai lỗi và hứa sẽ tự sửa mình.

Hay là bạn coi thường lòng Chúa vô cùng nhân hậu, khoan dung, đại lượng, mà không nhận ra rằng: Thiên Chúa nhân hậu như thế là để thúc giục bạn hối cải sao? Thế nhưng bạn lòng chai dạ đá không chịu hối cải, và như vậy bạn càng làm cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa chồng chất trên đầu bạn, trong ngày Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ và biểu lộ phán quyết công minh (Rm 2:4-5).

Thật là một cú sốc là ngày bạn nhận ra rằng lời của Thiên Chúa đang nói theo cách này rõ ràng là đang nói cách cụ thể với chính bạn, là “bạn” là chính bạn đó! Đó là điều sẽ xảy ra khi một luật gia hoàn toàn tập trung vào việc phân tích một bản án nổi tiếng đã được ban hành trong quá khứ vốn có tính thẩm quyền, rồi đột nhiên, khi quan sát bản án ấy kĩ hơn, người ấy nhận ra bản án đang áp dụng cho chính mình nữa và thấy vẫn đang đầy sức mạnh. Đột nhiên việc ấy sẽ làm xuất hiện hoàn cảnh của một người, và anh ta dừng lại việc chắc mẩm về bản thân. Lời của Thiên Chúa có liên hệ ở đây theo một vòng xoáy đúng nghĩa; Lời sẽ lật nhào hoàn cảnh của một người đang có liên hệ với Lời. Ở đây không có lối thoát: hoặc là chúng ta cần phải “vỡ oà” và nói như Đa-vít, “Con đã đắc tội với Đức Chúa” (2 Sm 12:13), hoặc là có một sự cứng lòng lâu hơn và sự bất nhẫn được gia cố. Trong khi nghe lời này từ Phaolô người ta sẽ mang lấy kết cục hoặc là được hoán cải hoặc cứng lòng.

Nhưng đâu là sự tố cáo cụ thể mà vị tông đồ thực hiện đối với “người đạo đức”? Lời tố cáo về việc “thực hiện cùng những điều rất tương tự” mà họ đã phán xét người khác, Ngài nói. Vậy thì Ngài nói “cùng những điều rất tương tự’ theo nghĩa nào? Theo nghĩa là về vật chất là như nhau? Ngài có cả ý này nữa (x. Rm 2:21-24), nhưng trên hết Ngài có ý nói “những điều rất tương tự” theo nghĩa bản chất, chính là sự vô thần và thờ ngẫu tượng. Vị tông đồ nhấn mạnh điều này rõ ràng hơn trong phần còn lại của thư khi Ngài bác bỏ việc tuyên bố tự cứu lấy mình qua việc làm và do đó làm cho bản thân trở thành một người cho vay và Thiên Chúa là một con nợ. Nếu bạn, Ngài nói, tuân giữ lề luật và làm hết mọi kiểu việc lành, nhưng chỉ để khẳng định sự công chính của bạn, thì bạn đang đặt bản thân mình vào địa vị của Thiên Chúa. Thánh Phaolô chỉ lặp lại bằng những từ ngữ khác điều mà Chúa Giêsu đã nỗ lực nói trong Tin Mừng qua dụ ngôn người Pha-ri-sêu và người thu thuế trong đền thờ và qua nhiều cách khác.

Chúng ta hãy áp dụng tất cả điều này cho chúng ta là các Kitô Hữu, như chúng ta nói, khi xem xét mục tiêu của Thánh Phaolô không phải nói quá nhiều về người Do Thái vì đó là một dân tộc tôn giáo nói chung và trong trường hợp cụ thể là cái gọi là “Người Kitô Hữu Do Thái”. Có một sự thờ ngẫu tượng ngầm vốn đặt ra những cái bẫy cho người có tôn giáo. Nếu việc thờ ngẫu tượng là “thờ phượng những công việc do tay mình làm ra” (x. Is 2:8; Hs 14:4), nếu việc thờ ngẫu tượng là “đặt thọ tạo vào vị trí của Thiên Chúa”, thì tôi sẽ là người thờ ngẫu tượng khi tôi đặt thọ tạo – thọ tạo của tôi, công việc do tay tôi – vào vị trí của Đấng Tạo Hoá. “Thọ tạo” của tôi có thể là ngôi nhà hay nhà thờ mà tôi đang xây, gia đình mà tôi thiết lập, đứa con mà tôi đưa vào thế giới này (biết bao nhiêu bà mẹ, ngay cả những bà mẹ Kitô Giáo, cách vô thức đã biến con họ đặc biệt nếu nó là con trai một, là Thiên Chúa của họ! Đó có thể là một tổ chức dòng tu mà tôi thành lập, cương vị mà tôi nắm giữ, công việc mà tôi thực hiện, trường học mà tôi đang làm sếp. Trong trường hợp của tôi là chính bài giảng mà tôi đang giảng cho quí vị!

Tận cốt lõi của mọi sự thờ ngẫu tượng là tự thờ chính mình, đạo của bản thân, tự yêu mình, đặt bản mình làm trọng tâm và ở vị trí số một trong vũ trụ, khi hy sinh mọi thứ khác cho điều ấy. Chúng ta cần phải học cách lắng nghe bản thân mình khi chúng ta nói để khám phá ra tên gọi của ngẫu tượng của chúng ta, vì, như Chúa Giêsu nói, “Lòng có đầy miệng mới nói ra” (Mt 12:34). Chúng ta sẽ khám phá ra biết bao nhiêu câu nói của chúng ta bắt đầu bằng từ “Tôi”.

Kết quả luôn là tình trạng vô thần, không làm tôn vinh Thiên Chúa nhưng luôn và chỉ tôn vinh chính mình, ngay cả khi làm điều thiện, gồm cả trong phục vụ mà chúng ta làm hướng về Thiên Chúa – và chính Thiên Chúa! – thì cũng đang phục vụ chính sự thành công và sự khẳng định cá nhân của bản thân. Nhiều cây có những nhánh cao có một loại rễ, một bộ rễ chính xuất phát ngay dưới cành cây và làm cho cây vững mạnh và không thể dịch chuyển được. Chừng nào chúng ta không đặt cái rìu ở chỗ rễ ấy, chúng ta có thể chặt hết các rễ xung quanh nhưng cây sẽ không đổ. Nhưng không gian ấy là rất hẹp, sẽ không có chỗ cho cả hai: hoặc là bản thân tôi hoặc là Đức Kitô.

Có lẽ khi trở về với chính mình, tôi sẵn sàng ở điểm này để nhận ra sự thật là cho đến tận bây giờ tôi đã sống theo một cách nào đó “vì bản thân mình”, rằng tôi cũng có liên hệ đến mầu nhiệm của sự vô thần. Chúa Thánh Thần đã “kết tội tôi”. Giờ đây phép lạ luôn mới của sự hoán cải có thể bắt đầu đối với tôi. Nếu tội, như Thánh Augustine giải thích cho chúng ta, hệ tại ở việc cúi mình về phía bản thân, thì sự hoán cải triệt để nhất hệ tại ở  việc “làm cho bản thân đứng thẳng lại” và hướng bản thân về Thiên Chúa trở lại. Chúng ta không thể làm điều đó trong khuôn khổ một bài giảng hay trong một Mùa Chay; tuy nhiên, ít nhất chúng ta có thể thực hiện một quyết tâm mạnh để thực hiện việc hoán cải, và điều đó đã là, theo một cách nào đó đối với Thiên Chúa, như thể chúng ta đã hoán cải.

Nếu tôi tự điều hướng hết bản thân tôi về phía Thiên Chúa chống lại “Cái Tôi” của tôi, thì tôi trở thành đồng minh của Ngài; giờ đây có hai chúng ta cùng nhau chống lại cùng một kẻ thù, và chiến thắng được đảm bảo. Bản ngã của tôi, giống như một con cá ra khỏi nước, có thể nhảy quanh và vùng vẫy một chút, nhưng số phận của nó là chết. Tuy nhiên, đó không phải là cái chết mà là một sự hạ sinh: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (Mt 16:25). Cho đến mức độ “con người cũ” chết đi, thì điều được tái sinh nơi chúng ta là “cái ngã mới, được tạo dựng giống như Thiên Chúa theo sự công chính và thánh thiện thật” (Ep 4:24) – người nam hay nữ mà tất cả mọi người âm thầm muốn trở thành.

Xin Thiên Chúa luôn giúp chúng ta nhận ra một lần nữa nhiệm vụ thật sự của cuộc sống của chúng ta, chính là sự hoán cải của chúng ta.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ cantalamessa.org)