Skip to main content
Cha Raniero Cantalamessa, Giảng Thuyết Phủ Giáo Hoàng, trong bài giảng tĩnh tâm tuần 2, 22/03/2019 (Vatican Media)

Cha Cantalamessa - Bài Suy Niệm Mùa Chay 2019 Cho Phủ Giáo Hoàng - Tuần 4

“NGƯƠI PHẢI THỜ PHƯỢNG THIÊN CHÚA LÀ ĐỨC CHÚA CỦA NGƯƠI”

Năm nay là dịp kỷ kiệm 800 năm cuộc gặp giữa Thánh Phanxicô Assisi và Quốc Vương Ai Cập al-Kamil vào năm 1219. Tôi đề cập điều này trong bối cảnh này vì một chi tiết có liên quan đến những suy niệm của chúng ta về Thiên Chúa hằng sống. Sau khi trở về từ chuyến đi đến Phương Đông của Ngài vào năm 1219, Thánh Phanxicô đã viết một lá thư gửi cho “Các Nhà Lãnh Đạo Dân”. Trong đó, Ngài nói, trong số những điều khác,

Hãy thấy rằng Thiên Chúa được dành cho một sự tôn kính lớn lao nơi các chủ đề của quí vị; mỗi tối, một dấu chỉ được thực hiện bởi một người chịu trách nhiệm lễ nghi hay bằng cách khác, lời ngợi khen và tạ ơn được dành cho Thiên Chúa là Đức Chúa toàn năng bởi toàn thể người dân. Nếu quí vị khước từ nhìn nhận điều này, thì quí vị có thể chắc chắn rằng quí vị phải chịu tính sổ vào ngày phán xét trước Chúa Giêsu Kitô, Đức Chúa và Thiên Chúa của quí vị”.

Nhiều người biết đến việc này là thánh nhân đã lấy ý tưởng cho giáo huấn này từ điều mà Ngài đã quan sát thấy trong chuyến đi về Phương Đông của Ngài, nơi mà Ngài đã nghe lời mời gọi buổi tối cho việc cầu nguyện bởi những người hữu trách từ các tháp giáo đường. Đây là một điển hình tốt không chỉ về việc đối thoại giữa các tôn giáo mà còn về sự làm cho nhau phong phú. Trong cùng những tư tưởng này, một nhà truyền giáo là người đã hoạt động tại một nước Châu Phi đã viết điều này: “Tất cả chúng ta đều được mời gọi để đáp trả lại nhu cầu nền tảng của con người, đáp trả trước sự cần Thiên Chúa sâu thẳm của họ, đáp trả lại cơn khát Đấng Tuyệt Đối của họ, và dạy cho họ biết những đường lối của Thiên Chúa, dạy cho họ cách cầu nguyện. Đây là lý do vì sao người Hồi Giáo ở đây tạo nên quá hiều người cải đạo: ngay lập tức dạy cho họ cách đơn giản để thờ phượng Thiên Chúa”.

Chúng ta là các Kitô Hữu có một bức tranh khác về Thiên Chúa – một Thiên Chúa vốn là tình yêu vô biên so với Ngài là một quyền năng vô biên – nhưng điều này phải không làm cho chúng ta lãng quên bổn phận chính yếu của việc thờ phượng. Trước thách đố của người phụ nữ Samari là người nói: ‘Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giêrusalem mới chính là nơi thờ phượng Thiên Chúa’” (Ga 4:20), Chúa Giêsu trả lời bằng những lời là magna carta (hiến chương) của việc thờ phượng Kitô Giáo:

"Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem. Các người thờ Ðấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Dothái. Nhưng giờ đã đến - và chính lúc này đâymgiờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế.

Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật" (Ga 4:21-24).

Kinh Thánh Tân Ước là bộ đầu tiên nâng từ “thờ phượng” lên một phẩm giá mà từ này không có trước đó. Trong Kinh Thánh Cựu Ước, việc thờ phượng, một diễn tả khác về Thiên Chúa, đôi khi được hướng đến một thiên thần (x. Ds 22:31) hay đến một vị vua (x. 1 Sm 24:8). Trái lại, trong Kinh Thánh Tân Ước, mỗi khi có ai bị cám dỗ phải thờ phượng một ai khác ngoài Thiên Chúa và con người của Đức Kitô, ngay cả khi đó là một thiên thần, thì phản ứng ngay lập tức là “Ngươi không được làm điều đó! Hãy thờ phượng Thiên Chúa”. Đây là điều Chúa Giêsu trong sa mạc ngay lập tức nhắc kẻ cám dỗ là kẻ đã mời gọi Ngài hãy thờ phượng nó: “Vì đã có lời chép rằng: ‘Ngươi phải bái lạy Ðức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi’" (Mt 4:10).

Giáo Hội đã đón nhận giáo huấn này và làm cho hành vi thờ phượng là một sự cách biệt tuyệt đối về latria, cách biệt với hành vi tôn kính dulia, vốn dành cho các thánh so với lòng sùng kính hyperdulia, vốn dành cho Đức Trinh Nữ Maria Diễm Phúc. Do đó, việc thờ phượng là hành vi tôn giáo độc nhất không thể được dành cho bất cứ ai khác trong toàn thể vũ trụ này, ngay cả cho Mẹ mà chỉ dành cho Thiên Chúa. Đây là phẩm giá và quyền năng độc nhất của việc thờ phượng.

Ngay từ đầu, việc thờ phượng (proskunesis) chỉ đến cử chỉ thể lý về việc cúi bản thân xuống trước một người nào đó như là một dấu chỉ của sự tôn kính và phục tùng. Trong những những trình thuật này người mà người khác phải cúi mình ở dưới đất này là Chúa Giêsu Kitô, và trong phụng vụ thiên quốc trước Con Chiên bị sát tế hay Đấng Toàn Năng. Chỉ trong cuộc đối thoại với người phụ nữ Samari và trong 1 Cô-rin-tô 14:25 thì từ “thờ phượng” mới dường như tách ra khỏi ý nghĩa bên ngoài của nó, và nó chỉ đến một sự thuần phục nội tâm của linh hồn đối với Thiên Chúa. Đây là ý nghĩa mà qua đó chúng ta có thể nói về Chúa Thánh Thần trong Kinh Tin Kinh rằng Ngài “cũng được phụng thờ và tôn vinh” cùng với Chúa Cha và Chúa Con.

Để chỉ ra cử chỉ bên ngoài vốn tương xứng với việc thờ phượng, chúng ta thích cử chỉ quỳ gối, sự quỳ gối. Cử chỉ này cũng chỉ được dành cho Thiên Chúa và Đức Kitô. Chúng ta có thể quỳ gối trước một ảnh tượng của Mẹ Diễm Phúc, nhưng chúng ta không quỳ gối trước Mẹ trước khi chúng ta quỳ gối trước Thánh Thể hay Đấng Chịu Nạn.

“Thờ Phượng” Nghĩa Là Gì

Tuy nhiên, chúng ta lại ít quan tâm hơn về ý nghĩa và sự phát triển của từ này hơn là việc chúng ta biết việc thờ phượng gồm những gì và cách mà chúng ta thực hành việc thờ phượng. Việc thờ phượng có thể được chuẩn bị bởi việc suy tư dài, nhưng nó đạt tới đỉnh cao trong một sự diễn tả rõ ràng, giống như mọi diễn tả, việc ấy không kéo dài. Việc thờ phượng giống như một tia sáng trong màn đêm, nhưng đó là ánh sáng đặc biệt: không quá nhiều ánh sáng của sự thật như ánh sáng của thực tại. Đó là sự nhận biết về sự cao cả, sự lớn lao, và vẻ đẹp của Thiên Chúa cùng với sự tốt lành của Người và sự hiện diện của Người vốn lấy đi cả hơi thở của chúng ta. Đó là một kiểu chìm sâu xuống tận đáy và đại dương mênh mông của sự quyền uy của Thiên Chúa. Thờ phượng, theo Thánh Angela Foligno, là “hồi tâm bản thân trong sự hiệp nhất và nhận chìm toàn bộ linh hồn vào trong sự vô biên thánh”.

Một sự thể hiện của thờ phượng thì hiệu quả hơn bất cứ một ngôn từ nào là sự tĩnh lặng. Qua chính sự tĩnh lặng chỉ ra một thực tại vốn vượt ra rất xa khỏi bất cứ thứ ngôn từ nào. Thông điệp này vang vọng cách mạnh mẽ trong Kinh Thánh: “Toàn thể cõi đất, hãy thinh lặng trước nhan Người” (Hb 2:20), và “Hãy lặng thinh trước nhan Ðức Chúa là Chúa Thượng” (Xp 1:7). Theo một trong những Giáo Phụ Sa Mạc, khi “các giác quan được gói ghém trong sự thinh lặng vô biên và với sự trợ giúp của sự tĩnh lặng thì các ký ức của chúng ta sẽ phai nhoà”, do đó mọi điều còn lại là thờ phượng.

Ông Gióp thực hiện một hành vi thờ phượng, khi thấy bản thân ông đang diện đối diện với Đấng toàn năn khi kết thúc phần thử thách của ông, ông thốt lên, “Vâng, con đây tầm thường bé nhỏ, biết nói chi để trả lời Ngài? Con sẽ đưa tay lên che miệng” (Gióp 40:4). Chính theo nghĩa này mà một câu từ thánh vịnh sau này được phụng vụ chọn nói trong bản văn Híp-ri, “Với Chúa, sự tĩnh lặng là lời ngợi khen” “Tibi silentium laus!” (x. Tv 65:2, bản văn Masoretic). Thờ phượng, theo lối diễn tả tuyệt vời của Thánh Gregory Nazianú, nghĩa là dâng lên Thiên Chúa “một bài ca của sự thinh lặng”. Cũng như khi người ta leo lên một ngọn núi cao, từng chút một không khí trở nên hiếm hơn, thì cũng vậy khi người ta đến gần hơn với Thiên Chúa, từng chút một lời nói phải trở nên gọn hơn cho đến khi sau cùng người ta trở nên hoàn toàn câm nín và hiệp nhất bản thân mình trong sự tĩnh lặng với Đấng mà không ngôn từ nào có thể diễn đạt.

Nếu bạn thật sự muốn nói điều gì để “làm im” tư tưởng và ngăn cho tư tưởng không đi hoang về các chủ đề khác, thì bạn cần phải thực thi điều này với sự diễn tả ngắn nhất vốn đang tồn tại, “Amen, xin vâng”. Thờ phượng thực ra là đồng thuận. Đó là việc để cho Thiên Chúa là Thiên Chúa. Đó là nói xin vâng với Thiên Chúa như Thiên Chúa và với bản thân như là một thọ tạo của Thiên Chúa. Đây là cách mà Chúa Giêsu được xác định trong Khải Huyền, là “Amen” tiếng xin vâng được nhân hoá (x. Kh 3:14), hay người ta có thể lặp lại cách liên lỉ với phẩm thiên thần Sốt Mến (Seraphim), “Qadoshqadosh, qadosh,”, “Thánh, Thánh, Thánh”.

Do đó thờ phượng đòi hỏi người ta cúi mình và thinh lặng. Nhưng liệu một hành động như thế có xứng với con người không? Việc ấy có hạ thấp họ không, làm suy giảm phẩm giá của họ không? Thực ra, việc ấy có xứng với Thiên Chúa không? Thiên Chúa có thật sự cần các thọ tạo của Ngài phủ phục bản thân họ trên nền đất trước Ngài và giữ thinh lặng không? Có khả năng Thiên Chúa giống như là một trong những nhà chuyên chế phương đông là những người dành sự thờ phượng cho riêng họ không? Chúng ta không thể chối bỏ điều đó: sự thờ phượng cũng có liên hệ đến một con người là một khía cạnh của sự tự hạ mình triệt để, tự làm cho bản thân nên nhỏ bé, một người đầu phục và một sự phục tùng chính bản thân. Sự thờ phượng luôn có liên quan đến một khía cạnh hy sinh, một sự phó dâng một điều gì đó. Rõ ràng vì điều này mà làm chứng rằng Thiên Chúa là Thiên Chúa và rằng chẳng có chi hay một ai đó có quyền tồn tại trước Thiên Chúa trừ khi bởi ân sủng của Ngài. Trong khi thờ phượng chúng ta dâng lên và hy sinh “Cái Tôi” của chính mình, vinh quang của chúng ta, sự tự mãn của chúng ta. Nhưng vinh quang của chúng ta là giả và bất nhất, vì thế hoàn toàn tự do để một người bỏ nó đi.

Trong khi thờ phượng, người ta “giải thoát chân lý khỏi việc là tù nhân của sự bất chính” (x. Rm 1:18). Một người sẽ trở nên “đoan chính” theo nghĩa sâu sắc nhất của từ ấy. Trong việc thờ phượng người ta đã đoán trước được mọi sự đều qui hướng về Thiên Chúa. Người ta phó mặc chính mình cho ý nghĩa và cho việc tuôn trào của hữu thể. Giống như nước tìm thấy được dòng chảy thanh bình của nó trong khi chảy về đại dương và chim tìm thấy niềm vui của nó vì được gió đẩy đi, thì cũng vậy người thờ phượng sẽ tìm thấy niềm vui và bình an trong khi thờ phượng. Việc thờ phượng Thiên Chúa do đó không quá nhiều thuộc về một bổn phận, một luật buộc, vì đó là một đặc quyền và thậm chí là một nhu cầu. Con người cần điều gì đó cao cả để yêu và tôn thờ! Chúng ta được tạo dựng vì điều này.

Do đó, không phải Thiên Chúa là Đấng cần được tôn thờ mà là con người có nhu cầu cần phải thờ phượng. Một lời kinh tiền tụng Thánh Lễ nói, “Thật ra, Cha không cần chúng con ca tụng, nhưng được tạ ơn Cha lại là một hồng ân cao cả, vì những lời ca tụng của chúng con chẳng thêm gì cho Cha nhưng đem lại cho chúng con ơn cứu độ muôn đời, nhờ Ðức Kitô, Chúa chúng con. Friedrich Nietzche đã hoàn toàn trật đường ray khi ông định nghĩa Thiên Chúa của Kinh Thánh là “Vị Hoàng Đế đói khát danh dự này trên trời”. Dĩ nhiên việc thờ phượng phải được ban tặng cách nhưng không. Điều làm cho việc thờ phượng trở nên xứng đáng với Thiên Chúa và đồng thời xứng với con người là sự tự do, được hiểu không chỉ cách tiêu cực như là một sự thiếu vắng giới hạn mà còn hiểu cách tích cực là một động lực vui tươi, là một quà tặng tự nhiên của các thọ tạo đang diễn tả niềm vui của chúng trong việc không phải là Thiên Chúa mà là trong việc có thể có được một Thiên Chúa ở trên chúng để tôn thờ, thán phục và vui mừng.

Tôn Thờ Thánh Thể

Giáo Hội Công Giáo có một kiểu thờ phượng đặc biệt gọi là tôn thờ Thánh Thể. Mỗi nhánh Kitô Giáo thuộc nền linh đạo lớn lao đều có đặc sủng của riêng mình vốn tạo nên sự góp phần cho sự phong phú của toàn thể Giáo Hội. Đối với anh chị em Tin Lành, thì đó là việc tôn vinh lời Thiên Chúa; đối với Giáo Hội Chính Thống, đó là các hình ảnh; đối với người Công Giáo, đó là việc thờ phượng Thánh Thể. Mỗi một trong ba cách thế này đều đạt được một mục đích chung trong việc chiêm ngắm Đức Kitô trong mầu nhiệm của Ngài.

Việc tôn kính và thờ lạy Thánh Thể bên ngoài Thánh Lễ là một hoa trái tương đối mới của lòng đạo đức Kitô Giáo. Việc này phát triển tại Phương Tây khởi đi từ thế kỷ thứ 11 như là một phản ứng đối với dị giáo của Berengar Tours là người chối bỏ sự hiện diện “thật” và chỉ nhìn nhận sự hiện diện mang tính biểu tượng của Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Tuy nhiên, từ ngày đó trở đi, chúng ta có thể nói chưa từng có một vị thánh nào mà trong đời sống của các vị chúng ta không chú ý thấy một sự ảnh hưởng mang tính quyết định của lòng nhiệt thành với Thánh Thể. Đó là một nguồn của sức mạnh thiêng liêng lớn lao, một kiểu tâm tình vốn luôn được thắp lên giữa nhà của Thiên Chúa, mà qua đó tất cả mọi con trai con gái vĩ đại của Giáo Hội đã tự sưởi ấm chính mình. Hết thế hệ này đến thế hệ khác của người tín hữu Công Giáo đã cảm nhận được một sự run rùng trước sự hiện diện của Thiên Chúa khi họ hát bài “Adoro te devote” trước sự tỏ hiện của Bí Tích Thánh.

Điều tôi nói về việc tôn thờ và chiếm ngắm Thánh Thể có thể được áp dụng hầu hết là toàn bộ cho sự chiêm ngắm các ảnh tượng. Sự khác biệt là trong trường hợp đầu chúng ta có sự hiện diện thật của Đức Kitô và trong trường hợp thứ hai chỉ có sự hiện diện chủ ý. Cả hai đều dựa trên sự chắc chắn là Đức Kitô phục sinh đang sống và đang làm cho chính Ngài hiện diện qua những dấu chỉ mang tính bí tích và qua đức tin.

Giữ sự bình thản và thinh lặng trước Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể, trong một thời gian dài nếu có thể, chúng ta có thể nhận thấy được lòng khao khát của Ngài đối với chúng ta. Chúng ta bỏ đi những dự phóng của chúng ta để dành chỗ cho những dự phóng của Đức Kitô; ánh sáng của Thiên Chúa sẽ thâm nhập vào tâm hồn từng chút một và chữa lành tâm hồn. Có điều gì đó xảy ra sẽ nhắc chúng ta về điều sẽ xảy ra cho các loại cây vào mùa xuân. Những chiếc lá xanh trổ sinh từ các cành; chúng hấp thụ một vài yếu tố nhất định từ bầu khí mà, do bởi hoạt động của ánh sáng mặt trời, đã trở nên “gắn kết” và biến thành những loại dinh dưỡng cho cây. Không có những chiếc lá xanh như vậy, thì cây không thể phát triển và sinh trái và không góp phần vào việc tạo ra nguồn khí ôxy mà bản thân chúng ta có thể hít thở.

Chúng ta cần phải trở nên như những chiếc lá xanh này! Chúng là một biểu tượng của các linh hồn yêu Thánh Thể là những người, trong khi chiêm ngắm “Mặt Trời công chính”, chính là Đức Kitô, tự “gắn kết” chính bản thân họ vào nguồn dinh dưỡng chính là Chúa Thánh Thần để mưu lợi cho toàn thể thân cây lớn, chính là Giáo Hội. Tông Đồ Phaolô nói điều này theo những ngôn từ khác khi Ngài viết, “Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí” (2 Cr 3:18).

Nhà thơ Giuseppe Ungaretti, khi chiêm ngắm mặt trời mọc vào một buổi sáng sau một đêm tối tăm dày đặc, đã viết một bài thơ với hai câu rất ngắn: “M’illumino / d’immenso”, “Tôi tự thắp sáng bản thân tôi/với cường độ mạnh”. Đây là những lời có thể được lặp lại bởi người đang chiêm ngắm trước Thánh Thể. Chỉ một mình Thiên Chúa mới biết bao nhiêu ân sủng kín ẩn đã đổ xuống trên Giáo Hội qua những người thờ phượng này.

Việc tôn thờ Thánh Thể cũng là một hình thức phúc âm hoá, và nằm trong số những cách hiệu quả nhất. Nhiều giáo xứ và cộng đoàn đã thêm việc tôn thờ này vào trong các chương trình thường nhật và hàng tuần của họ đã kinh nghiệm điều đó. Khi thấy một nhà thờ ngay trung tâm một thành phố vào ban đêm đang mở cửa và được thắp sáng bởi những người trong sự tôn thờ thầm lặng trước Thánh Thể đã buộc nhiều người phải dừng lại, nhìn quanh, và ra đi khi thốt lên, “Thiên Chúa ở đây!” hơn – giống như những người không có niềm tin đã làm thế khi họ đặt chân vào trong một trong những cộng đoàn Kitô Giáo thời kỳ đầu (x. 1 Cr 14:25).

Việc chiêm niệm Kitô Giáo không bao giờ là con đường một chiều. Việc ấy không có nghĩa là nhìn vào cái rốn của bạn, như người ta hay nói, trong việc tìm kiếm cái ngã thẳm sâu nhất của bạn. Việc ấy luôn liên hệ đến hai cái nhìn vốn gặp gỡ nhau. Một người nông dân quê mùa của giáo xứ Ars đã tham gia vào kiểu thờ phượng Thánh Thể tốt nhất khi ông dành hết giờ này đến giờ khác trong nhà thờ với cái nhìn của ông gắn chặt vào nhà tạm. Khi Cha Sở Họ Ars thánh thiện đến hỏi ông là ông làm gì suốt thời gian này trong nhà thờ, ông trả lời, “Chả làm gì cả. Con nhìn Chúa và Chúa nhìn con!”

Nếu có đôi khi chúng ta hạ thấp hay rút đi ánh nhìn của mình, thì Thiên Chúa không bao giờ hạ thấp hay rút ánh nhìn của Ngài. Đôi khi việc chiêm ngắm Thánh Thể diễn ra chỉ đơn giản là đồng hành với Chúa Giêsu, hay ngồi người ánh nhìn của Ngài, cho Ngài niềm vui được chiêm ngắm chúng ta. Ngay cả khi chúng ta là các thọ tạo thấp hèn và là các tội nhân, thì dù gì chúng ta cũng là hoa trái của cuộc khổ nạn của Ngài, những người mà Ngài đã hy sinh mạng sống Ngài: “Chúa nhìn con!” Điều đó có nghĩa là chấp nhận lời mời gọi của Chúa Giêsu với các tông đồ tại Vườn Giệt-si-ma-ni để “ở lại đây mà canh thức với Thầy” (Mt 26:38).

Việc tôn thờ Thánh Thể do đó không bị ngăn cản bởi tình trạng khô khan mà chúng ta đôi khi có thể kinh nghiệm, bất luận đó là vì những cách thế tự sướng của chúng ta hay vì  Thiên Chúa cho phép điều đó để thanh luyện chúng ta. Tình trạng khô khan ấy có thể thực sự có ý nghĩa nếu chúng ta bỏ đi sự thoả mãn của chúng ta để làm hài lòng Ngài và nói, như Charles de Foucauld vẫn thường nói với Chúa Giêsu, “Niềm hạnh phúc của Chúa là đủ cho con”, nghĩa là, thật đủ với con là Chúa vui. Chúa Giêsu có từ trong vĩnh cửu mọi sự làm cho chúng ta hạnh phúc ngay; chúng ta chỉ có một chút thời gian vắn vỏi này để làm cho Ngài vui, thế thì làm thế nào chúng ta có thể nỗ lực để đánh mất cơ hội này vốn sẽ khong bao giờ tái lại trong vĩnh cửu?

Khi chiêm ngắm Chúa Giêsu trong Thánh Thể trên bàn thờ chúng ta chu toàn lời tiên báo vốn đã được loan báo ngay từ thời điểm cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá: “Họ sẽ nhìn lên Ðấng họ đã đâm thâu” (Ga 19:37). Sự chiêm ngắm như vậy tự thân nó không mang tính tiên tri vì nó báo trước điều chúng ta sẽ làm mãi mãi trên Thành Giê-ru-sa-lem thiên quốc. Đó là hoạt động mang tính cánh chung và tiên tri nhất mà chúng ta có thể đạt được trong Giáo Hội. Vào thời sau hết Con Chiên sẽ không còn bị sát tế nữa thân xác Ngài cũng không còn được ăn nữa. Việc thánh hiến và hiệp lễ sẽ tan biết, nhưng việc chiêm ngắm Con Chiên đã bị sát tế sẽ không bao giờ dừng lại. Thực ra đây là điều mà giờ đây các thánh đang thực hiện trên thiên đàng (x. Kh 5:1tt). Khi chúng ta ở trước nhà tạm thì chúng ta đã hình thành nên một ca đoàn với Giáo Hội ở trên cao: các vị đang ở trước bàn thờ, và chúng ta ở phía sau bàn thờ, có thể nói vậy; các vị kinh nghiệm cái nhìn về Con Chiên trong khi chúng ta lại cảm nhận được qua niềm tin.

Vào năm 1967 khởi đầu của Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng Công Giáo là điều mà trong vòng 50 năm đã chạm vào và làm biến đổi nhiều cuộc đời và làm xuất hiện nhiều điều mới mẻ trong Giáo Hội, cả ở cấp độ cá nhân và cộng đoàn. Chúng ta chưa nhấn mạnh đủ là đó không phải là một “phong trào giáo hội” theo nghĩa bình thường của từ này; đó là một dòng chảy ân sủng có ý nghĩa cho toàn thể Giáo Hội, một “sự tiêm vào của Thần Khí” vốn đang hết sức cần thiết. Phong trào ấy giống như là một cú sốc điện vốn có ý để phóng điện vào đám đông vốn là Giáo Hội, và một khi mục tiêu này đạt được, thì sẵn sàng tan biến.

Tôi đề cập việc này ở đây vì rõ ràng nó khởi đầu với một kinh nghiệm ngoại thường về việc thờ phượng Thiên Chúa hằng sống vốn là chủ đề của bài suy niệm này. Nhóm các bạn sinh viên tại Đại Học Duquesne ở Pittsburg là những người đã tham gia vào một kì tĩnh tâm đã tự thấy bản thân họ vào một buổi tối nọ trong một nhà nguyện trước Bí Tích Thánh Thể khi đột nhiên có điều gì đó bất bình thường xảy ra mà một trong số đó sau đó đã mô tả thế này:

Lòng kính sợ Thiên Chúa vọt lên trong chúng tôi; một lòng kính sợ làm cho chúng tôi không nhìn lên. Ngài đang hiện diện cách cá nhân và chúng tôi sợ được yêu quá nhiều. Chúng tôi tôn thờ Ngài, khi lần đầu tiên biến ý nghĩa của sự thờ phượng. Chúng tôi biết một kinh nghiệm bừng cháy về một thực tại khủng khiếp và sự hiện diện của Thiên Chúa mà từ đó làm cho chúng tôi hiểu ngay về những hình ảnh của Ya-vê trên Núi Sinai khi núi này rung chuyển và bùng nổ với ngọn lửa của Sự Hiện Hữu của Ngài, và kinh nghiệm của Isaiah 6:1-5, và lời nói rằng Thiên Chúa của chúng ta là một ngọn lửa tiêu thụ. Lòng kính sợ thánh một cách nào đó là tương tự như tình yêu hay tình yêu được khơi dậy khi chúng ta thật sự tôn kính Ngài. Ngài hoàn toàn vừa đáng kính vừa tuyệt mỹ, dù chúng tôi không thấy một hình ảnh rõ ràng nào. Việc ấy như thể là một Thiên Chúa huy hoàng, sáng láng và cá vị đã đi vào trong phòng và lấp đầy cả căn phòng và chúng tôi.

Sự hiện diện tự nhiên của sự quyền uy và sự tốt lành của Thiên Chúa và của lòng kính sợ và yêu mến nơi thọ tạo: “mầu nhiệm gợi lên lòng kính sợ và kinh ngạc”, như các học giả tôn giáo mô tả điều này. Người phụ nữ đã mô tả thời khắc ấy theo cách này đã không biết rằng đây là sự tóm lược hoàn hảo của những dấu vết của Thiên Chúa hằng sống của Kinh Thánh.

Chúng ta hãy kết thúc với một câu từ Thánh Vịnh 95 mà với câu này Giờ Kinh Phụng Vụ, trong Phần Giáo Đầu, giúp chúng ta khởi đầu mỗi ngày mới:

Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục,

quỳ trước tôn nhan CHÚA là Ðấng dựng nên ta.

Bởi chính Người là Thiên Chúa ta thờ,

còn ta là dân Người lãnh đạo,

là đoàn chiên tay Người dẫn dắt.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ cantalamessa.org)