Skip to main content
ĐGH Phanxicô gặp gỡ các linh mục, tu sĩ, chủng sinh tại Kaunas, Lithuania, 23/09/2018 (Vatican Media)

ĐGH Phanxicô - Bài huấn từ trước các Linh Mục, Tu Sĩ, Chủng Sinh Lithuania

Anh Chị Em Thân Mến,

Toàn bộ chuyến đi của tôi đến đất nước các bạn được tóm lại trong một câu nói: “Chúa Giêsu Kitô, niềm hy vọng của chúng ta”. Giờ đây, khi ngày hôm nay đang khép lại, chúng ta đã nghe một bài đọc từ Thánh Tông Đồ Phaolô vốn mời gọi chúng ta hy vọng bằng sự nhẫn nại. Thánh Phaolô nói cho chúng ta biết điều này khi đã loan báo cho chúng ta giấc mơ của Thiên Chúa cho mọi người, và thật ra cho mọi loài thọ sinh: “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai mến yêu Người” (Rm 8:28). Ngài “làm thẳng” mọi sự: đó có lẽ là bản dịch theo nghĩa đen.

Hôm nay tôi muốn chia sẻ với các bạn một vài khía cạnh của niềm hy vọng này: những khía cạnh mà chúng ta – trong tư cách là các linh mục, chủng sinh, người nam nữ thánh hiến – được mời gọi để mặc lấy trong đời sống của chúng ta.

Trước hết, trước lời mời gọi đến với niềm hy vọng của Ngài, Thánh Phaolô lặp lại ba lần từ “rên siết”: tạo vật rên siết, những người nam nữ rên siết, Thần Khí rên siết trong lòng chúng ta (x. Rm 8:22-23.26). Sự rên siết này xuất phát từ sự nô lệ cho sự hư hỏng, từ một lòng khao khát sự thành toàn. Ngày nay, sẽ thật tốt cho chúng ta khi tự hỏi liệu chúng ta có đang rên siết nội tâm không, hay liệu tâm hồn chúng ta có vẫn đang, hay không còn khao khát Thiên Chúa hằng sống nữa. Sự rên siết của chúng ta phải là lòng khao khát của nai rừng khao khát dòng suối mát trong khi chúng ta tìm kiếm mầu nhiệm Thiên Chúa, chân lý của Ngài, và vẻ đẹp của Ngài. Có lẽ “xã hội giàu có của chúng ta” đang làm cho chúng ta no thỏa, được bao quanh bởi những dịch vụ và những thứ vật chất; chúng ta mang lấy kết cục bị “bứ” với mọi sự nhưng lại không được thứ gì làm cho tròn đầy. Là những người nam nữ của đời thánh hiến đặc biệt, chúng ta không bao giờ có thể nỗ lực để đánh mất sự rên siết nội tâm đó, sự khong nghỉ yên của tâm hồn ấy vốn tìm kiếm sự nghỉ ngơi ở nơi Thiên Chúa mà thôi (THÁNH AUGUSTINE, Tự Thuật, I, 1.1). Không có một bản tin tức thời nào, không một thứ truyền thông ảo nào có thể thay thế cho nhu cầu của chúng ta về những giây phút cụ thể, lâu dài và thường xuyên – mời gọi sự nỗ lực bền bỉ - về việc đối thoại hằng ngày với Chúa qua cầu nguyện và thờ phượng. Chúng ta cần phải nuôi dưỡng lòng khao khát Thiên Chúa của chúng ta. Như Thánh Gioan Thánh Giá viết: “Hãy nỗ lực để liên lỉ trong cầu nguyện, và giữa những hoạt động thể xác, đừng bỏ việc cầu nguyện. Bất cứ là anh em ăn, uống, trò chuyện với người khác, hay làm bất cứ điều gì, hãy luôn đến với Thiên Chúa và gắn chặt tâm hồn anh em vào Ngài” (Lời Khuyên Cho Một Tu Sĩ về Cách Đạt Tới Sự Hoàn Thiện, 9b).

Sự rên siết này cũng có thể xuất phát từ sự chiêm niệm của chúng ta về thế giới quanh mình, như một cuộc biểu tình trước những nhu cầu chưa thỏa đáng của những anh chị em nghèo nhất của chúng ta, trước sự thiếu vắng ý nghĩa trong đời sống của người trẻ của chúng ta, sự cô độc mà người già cả cảm nghiệm được, việc sử dụng sai trái công trình tạo dựng. Đó là một sự rên siết vốn làm chuyển động những nỗ lực để hình thành những sự kiện ở đất nước của chúng ta, nơi các thành phố của chúng ta, chứ không phải bởi hành động như một nhóm gây áp lực hay một sự đánh cược cho quyền lực, mà trong sự phục vụ tất cả mọi người. Chúng ta cũng được thúc đẩy bởi tiếng kêu khóc của người dân chúng ta, như Mô-sê trước bụi gai bốc cháy, khi Thiên Chúa nói với ông về nỗi thống khổ của dân Người (x. Xh 3:9). Lắng nghe tiếng Thiên Chúa trong cầu nguyện giúp chúng ta thấy, nghe và cảm nhận được nỗi đau của người khác, để giải thoát họ. Nhưng chúng ta cũng phải quan tâm đến khi người dân của chúng ta dừng rên siết khi họ dừng tìm kiếm nước để thỏa mãn cơn khát của họ. Vào những lúc ấy, chúng ta cần phải biện phân điều gì đang bịt lại tiếng nói của dân chúng ta.

Tiếng kêu khóc làm cho chúng ta hướng lên Thiên Chúa trong cầu nguyện và thờ lạy là cùng tiếng kêu khóc làm cho chúng ta biết nhạy bén với lời kêu khẩn của anh chị em chúng ta. Nhưng đặt “niềm hy vọng” của họ vào nơi chúng ta, và họ đòi hỏi chúng ta phải biện phân kĩ càng và rồi tổ chức, cách can đảm và sáng tạo, về sự dấn thân phục mục vụ của chúng ta. Chớ gì sự hiện diện của chúng ta không mang tính bừa bãi mà là một sự hiện diện có thể đáp trả đúng đắn lại những nhu cầu của dân Thiên Chúa, và do đó là nắm men trong khối bột (x. Evangelii Gaudium, 33).

Thánh Tông Đồ cũng nói về sự nhẫn nại: sự liên lỉ trong nỗi thống khổ và trong việc theo đuổi điều thiện hảo. Điều này mwoif gọi sự tập trung vào Thiên Chúa của chúng ta, bám rễ thật chặt vào Ngài và trung tín với tình yêu của Ngài.

Người lớn tuổi hơn ở nơi các bạn – và ở đây thật thiếu sót biết bao nếu tôi không đề cập đến Đức Tổng Giám Mục Sigitas Tamkevičius – biết việc làm chứng cho tình trạng liên lỉ trong nỗi thống khổ này là gì, “niềm hy vọng không làm thất vọng” này là gì (x. Rm 4:18). Tình trạng bạo lực mà các bạn đã trải qua vì sự bảo vệ quyền tự do dân sự và tôn giáo của các bạn, tình trạng bạo lực của sự thóa mạ, tù đày, và trục xuất, không thể thắng thế trước niềm tin của các bạn vào Chúa Giêsu Kitô, Chúa của lịch sử. Các bạn có nhiều thứ để nói cho chúng tôi và dạy cho chúng tôi. Nhưng các bạn cũng có nhiều lời khuyên để mang lại, mà không cần qua sự phán quyết về những giới hạn bề mặt của người trẻ. Và các bạn, những người trẻ, khi các bạn gặp gỡ những thất vọng nhỏ vốn có thể làm nản lòng các bạn và làm cho các bạn muốn quay vào chính bản thân mình, tìm kiếm những hoạt động và giết thời gian với sự thánh thiến của các bạn, thì hãy trở về với căn rễ của các bạn và suy xét con đường mà những người lớn tuổi của các bạn đã chọn. Chính gian truân thử thách mang lại điều gì là đặc biệt về niềm hy vọng Kitô Giáo. Vì khi niềm hy vọng của chúng ta thuần túy mang tính con người, thì chúng ta có thể trở nên thất vọng và mang kết cục thất bại. Điều đó không xảy ra với niềm hy vọng Kitô Giáo: nó được canh tân và thanh lọc khi được thử thách bởi gian truân.

Đúng thật là chúng ta đang sống trong những thời khắc và hoàn cảnh khác nhau, nhưng cũng thật đúng là lời khuyên này cho thấy hữu hiệu nhất khi những người đã kinh nghiệm qua những gian khó này không tự khép lại nơi chính họ nhưng chia sẻ họ với những người khác. Những câu chuyện của họ chỉ đơn giản là những thể hiện của hoài niệm về thời gian đã qua như thể một cách nào đó họ tốt hơn, hay những lời chỉ trích vén mở ra về những người đã có một sự ngụy trang cảm xúc mỏng giòn hơn. Một cộng đoàn các môn đệ có thể kín múc từ những nguồn lực lớn lao về sự liên lỉ nếu sự liên lỉ ấy có thể tháp nhập – giống như kinh sư trong Tin Mừng – cả điều mới và điều cũ (x. Mt 13:52) nếu sự liên lỉ này ý thức rằng những kinh nghiệm lịch sử là những cội rễ có thể giúp cho một cây xanh phát triển và trổ sinh.

Sau cùng, khi nhìn lên Chúa Giêsu Kitô như niềm hy vọng của chúng ta có nghĩa là đồng hóa chính bản thân chúng ta với Ngài, chia sẻ như một cộng đoàn trong vị thế của Ngài. Đối với Thánh Tông Đồ Phaolô, ơn cứu độ mà chúng ta đang đợi chờ không thuần túy mang tính tiêu cực: sự tự do thoát khỏi một nỗi gian truân mang tính nội tại hay ngoại tại, lịch sử hay cánh chung. Thay vào đó Thánh Phaolô nói về ơn cứu độ như mọt điều tuyệt đối tích cực: sự thông phần của chúng ta vào sự sống vinh hiển của Đức Kitô (x. 1 Tx 5:9-10), sự thông phần của chúng ta vào vương quốc của Ngài (x. 2 Tm 4:18), ơn cứu chuộc thân xác chúng ta (x. Rm 8:23-24). Mỗi người các bạn cần nỗ lực để nắm bắt kế hoạch nhiệm màu và độc đáo mà Thiên Chúa dành cho mình. Vì không ai có thể đã từng biết chúng ta cách sâu sắc như Thiên Chúa biết. Ngài mời gọi chúng ta đến với một điều gì đó rõ ràng là không thể; Ngài đánh cược trên chúng ta, tin tưởng rằng chúng ta sẽ phản chiếu hình ảnh của Con Ngài. Ngài mong đợi nhiều từ chúng ta, và chúng ta đặt niềm hy vọng vào Ngài.

Việc “chúng ta” bao gồm, nhưng cũng “vượt quá”, mỗi người chung sta là một cá thể. Chúa mời gọi chúng ta, làm cho chúng ta công chính và cũng làm cho chúng ta vinh hiển, và cùng với chúng ta, Ngài đón nhận hết mọi công trình tạo dựng. Thường thì chúng ta quá nhấn mạnh đến trách nhiệm cá nhân đến nỗi trách nhiệm của chúng ta trong tư cách là cộng đồng mang lấy kết cục làm nền, không hơn một phông nền. Nhưng Chúa Thánh Thần qui tụ chúng ta lại, hòa giải những khác biệt của chúng ta và tạo ra những sức sống mới làm cho sứ mạng của Giáo Hội tiến bước (x. Evangelii Gaudium, 131, 235).

Ngôi Nhà Thờ Chính Tòa này mà chúng ta đang qui tụ nhau ở đây được dành cho Thánh Phêrô và Phaolô. Cả hai vị tông đồ ấy đã biết về kho tàng mà chúng ta đã lãnh nhận; cả hai vị, trong những thời điểm khác nhau và bằng những cách khác nhau, đã được mời gọi “để ra chỗ nước sâu thả lưới” (Lc 5:4). Tất cả chúng ta, đang trên chiếc thuyền của Giáo Hội. Chúng ta cũng muốn liên lỉ thưa lên cùng Thiên Chúa, để nhẫn nại giữa gian truân và để bám chặt vào Đức Giêsu Kitô như là đối tượng niềm hy vọng của chúng ta. Và chiếc thuyền này thấy trọng tâm cho sứ mạng của mình để loan báo vinh quang đang được nóng lòng đợi chờ này là Thiên Chúa ở giữa dân Người nơi Đức Kitô phục sinh, một vinh quang mà một ngày kia, sẽ lấp đầy khao khát của toàn bộ công trình tạo dựng, sẽ được tỏ lộ nơi con cái của Thiên Chúa. Đây là một thách đố thôi thúc chúng ta: lệnh truyền để loan báo. Đây là nền tảng cho niềm hy vọng và niềm vui của chúng ta. Ngày nay, “chỗ nước sâu” mà chúng ta phải “thả lưới” là “những cảnh tượng thay đổi liên tục và những thách đố luôn mới” của Giáo Hội trên đường lữ hành này. Nhưng chúng ta cần một lần nữa tự hỏi: Đâu là điều mà Thiên Chúa đang mời gọi chúng ta? Đâu là những vùng ngoại biên, những nơi đang cần sự hiện diện của chúng ta nhất để chúng ta có thể mang lại cho họ ánh sáng của Tin Mừng (x. Evangelii Gaudium, 20)?

Bằng không, ai có thể tin rằng Đức Giêsu Kitô là niềm hy vọng của chúng ta? Chỉ có gương sống mới cho thấy lý do về niềm hy vọng của chúng ta vào Ngài.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ ZENIT)