Skip to main content
ĐGH Phanxicô gặp gỡ Hội Đồng Giám Mục Châu Mỹ Latinh tại Bogota, Colombia, 07/09/2017

ĐGH Phanxicô - Diễn Từ Trước Hội Đồng Giám Mục Châu Mỹ Latinh (CELAM)

Anh Em Thân Mến,

Tôi xin cám ơn anh em về cuộc gặp gỡ của chúng ta và về những lời đón tiếp nồng nhiệt của Đức Cha Chủ Tịch của Hội Đồng Giám Mục Châu Mỹ Latinh (CELAM). Dù đó không phải là đòi hỏi trong chương trình của tôi, thì tôi cũng muốn thăm anh em tại văn phòng của CELAM. Tôi xin cám ơn anh em vì suy nghĩ của anh em khi gặp tôi ở đây.

Tôi trân trọng những nỗ lực của anh em để làm cho Hội Đồng Giám Mục châu lục này thành một ngôi nhà để phục vụ cho sự hiệp thông và sứ vụ của Giáo Hội tại Châu Mỹ Latinh, cũng như là một trung tâm nuôi dưỡng một cảm thức về tinh thần tông đồ và truyền giáo. Qua những thập kỷ phục vụ cho sự hiệp thông này, CELAM cũng đã trở thành một điểm tham chiếu chính cho sự phát triển một sự hiểu biết sâu hơn về Đạo Công Giáo Châu Mỹ Latinh. Tôi muốn nhân dịp này khích lệ những nỗ lực gần đây của anh em để nói lên mối quan tâm chung qua Quỹ Liên Đới của Giáo Hội Châu Mỹ Latinh.

Bốn năm trước, tại Rio de Janeiro, tôi đã nói với anh em về di sản mục vụ của Aparecida, sự kiện thượng hội đồng của Giáo Hội tại Châu Mỹ Latinh và vùng Caribe. Tôi đã nhấn mạnh sự cần thiết liên lỉ để học từ phương pháp của sự kiện này, được đánh dấu cách thiết yếu bởi sự tham dự của các Giáo Hội địa phương và hoà hợp với dân lữ hành của Thiên Chúa khi họ tìm kiếm diện mạo khiêm tốn cảu Ngài được tỏ lộ ở nơi Đức Trinh Nữ được trục vớt từ sông nước. Phương pháp ấy cũng được phản chiếu trong sứ mạng châu lục, vốn không có ý nghĩa là một tuyển tập các chương trình lấp đầy những lịch trình và lãng phí nguồn năng lượng quý giá. Thay vào đó, phương pháp ấy có nghĩa là đặt sứ mạng của Chúa Giêsu làm trung tâm của Giáo Hội, làm cho sứ mạng ấy thành một tiêu chí để đo lường tính hiệu quả của các cấu trúc của Giáo Hội, các kết quả làm việc của Giáo Hội, hoa trái của những thừa tác của Giáo Hội và niềm vui mà những hoa trái này tạo nên. Vì không có niềm vui, thì chúng ta chẳng cuốn hút được ai.

Tôi tiếp tục đề cập đến những cơn cám dỗ thường trực về việc biến Tin Mừng thành một thứ ý thức hệ, một kiểu chủ nghĩa chức năng và giáo sĩ trị mang tính giáo hội. Đang lâm nguy là ơn cứu độ mà Đức Kitô mang lại cho chúng ta, một điều phải chạm vào tâm hồn của người nam nữ bằng sức mạnh của nó và mời gọi sự tự do của họ, kêu gọi họ đến một cuộc xuất hành vĩnh viễn ra khỏi bản thân họ và sự tự hấp thu của họ, hướng đến tình bạn với Thiên Chúa và với anh chị em của chúng ta.

Khi Thiên Chúa nói với chúng ta ngang qua Chúa Giêsu, thì Ngài không gật đầu cách mơ hồ với chúng ta như thể chúng ta là những người xa lạ, hay truyền tải những lệnh truyền không mang tính con người như một nhà thương thuyết, hay đưa ra những luật lệ cần phải tuân thủ giống như những chức năng nào đó của sự thánh thiêng. Thiên Chúa nói bằng tiếng nói không thể lầm lạc của người Cha nói với con cái mình; Ngài tôn trọng mầu nhiệm con người vì Ngài hình thành nên chúng ta bằng chính đôi bàn tay của Ngài và mang lại cho chúng ta một mục đích có ý nghĩa. Thách đố lớn lao của chúng ta trong vai trò là một Giáo Hội là nói với những người nam nữ về sự gần gũi này của Thiên Chúa, Đấng coi chúng ta là con trai con gái của Ngài, ngay cả khi chúng ta chối bỏ quyền làm Cha của Ngài. Đối với Ngài, chúng ta luôn luôn là con cần phải được gặp gỡ cách mới mẻ.

Do đó, Tin Mừng không thể bị giảm xuống thành một chương trình để phục vụ cho chủ nghĩa tri thức theo trào lưu, một dự án của sự cải tiến xã hội hay Giáo Hội được coi như là một tổ chức thoải mái, không có gì hơn là Giáo Hội có thể bị giảm xuống thành một tổ chức hoạt động theo những mô hình kinh doanh hiện đại bởi một toà tháp giáo sĩ.

Giáo Hội là cộng đồng các môn đệ của Chúa Giêsu. Giáo Hội là một Mầu Nhiệm (x. Lumen Gentium, 5) và là một Dân (x. ibid., 9). Đúng hơn, trong Giáo Hội thì Mầu Nhiệm trở nên hiện diện qua Dân của Thiên Chúa.

Do đó lập trường của tôi là công việc tông đồ truyền giáo là một lời mời gọi từ Thiên Chúa cho thế giới phức tạp và bận rộn thời nay, một sự ra đi liên lỉ với Chúa Giêsu, để biết cách và nơi mà Vị Thầy đang sống. Khi chúng ta ra đi với Ngài, chúng ta sẽ biết ý muốn của Chúa Cha là Đấng luôn luôn đợi chờ chúng ta. Chỉ một Giáo Hội vốn là Hiền Thê, Mẹ và Tôi Tớ, một Giáo Hội bác bỏ lời tuyên bố kiểm soát điều gì không phải là công việc của mình nhưng là công việc của Thiên Chúa, mà vẫn có thể đi cùng Chúa Giêsu, ngay cả khi nơi duy nhất mà Ngài có thể tựa đầu là thập giá.

Sự gần gũi và gặp gỡ là các phương tiện mà Thiên Chúa sử dụng, Đấng mà qua Đức Kitô luôn luôn đến gần để gặp gỡ chúng ta. Mầu nhiệm của Giáo Hội là trở thành một dấu chỉ của sự gần gũi thánh và một nơi nguyên thuỷ của cuộc gặp gỡ này. Do đó, sự cần thiết đối với hàng giám mục để trở nên gần gũi với Thiên Chúa, vì ở nơi Thiên Chúa thì vị giám mục tìm thấy được nguồn của sự tự do của mình, sự kiên vững trong vai trò là một mục tử và sự gần gũi của vị ấy đối với dân thánh đã được uỷ thác cho sự chăm sóc của vị ấy. Trong sự gần gũi này, linh hồn của người tông đồ học cách để làm tỏ hiện niềm đam mê của Thiên Chúa dành cho con cái của Ngài.

Aparecida là một kho tàng nhưng cần được khai thác cách trọn vẹn. Tôi chắc chắn rằng mỗi người trong anh em đã thấy sự phong phú của kho tàng ấy đã bén rễ thế nào trong các Giáo Hội mà anh em có trong tim mình. Giống như các môn đệ đầu tiên được Chúa Giêsu sai đi truyền giáo, chúng ta cũng có thể kể lại bằng lòng nhiệt thành tất cả mọi điều đã đạt được (x. Mc 6:30).

Tuy nhiên, chúng ta phải chú tâm. Những điều thiết yếu trong cuộc sống và trong Giáo Hội lại không bao giờ được viết trên đá, mà vẫn là một di sản sống động. Thật quá dễ dàng để biến những điều ấy thành những ký ức và những dịp kỷ niệm để vui mừng: 50 năm kể từ khi Medellín, 20 năm kể từ sau Ecclesia in America, 10 năm kể từ sau Aparecida! Một điều gì đó được đòi hỏi: bằng việc nuôi dưỡng sự phong phú của tình mẫu tử này và giúp cho nó trổ sinh hoa trái, chúng ta kinh nghiệm được tình mẫu tử của tình phụ tử giám mục của chúng ta đối với Giáo Hội tại châu lục của chúng ta.

Như anh em biết rõ, sự nhận biết đổi mới xuất phát từ một cuộc gặp gỡ với Đức Kitô hằng sống đòi hỏi rằng các môn đệ của Ngài nuôi dưỡng mối quan hệ với Ngài; bằng không, thì diện mạo của Chúa sẽ bị lu mờ, sứ mạng sẽ bị suy yếu, sự hoán cải mục vụ sẽ trở nên lưỡng lự. Hãy cầu nguyện và nuôi dưỡng mối quan hệ của chúng ta với Ngài: đây là những hoạt động thiết yếu và khẩn nhất cần được thực thi ở trong sứ vụ mục vụ của chúng ta.

Khi các môn đệ trở về đầy phấn khích bởi sứ vụ mà các ông đã thực hiện, thì Chúa Giêsu nói với họ: “Anh em hãy ra nơi vắng vẻ nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6:31). Thật cần thiết biết bao là chúng ta cần phải một mình với Chúa để gặp gỡ một cách mới mẻ tâm hồn của sứ mạng của Giáo Hội tại Châu Mỹ Latinh vào thời điểm hiện tại. Thật cần thiết biết bao chúng ta cần được hồi tâm, bên trong và bên ngoài! Những chương trình bận rộn của chúng ta, sự phân mảnh của thực tại, tốc độ nhanh chóng của đời sống chúng ta: tất cả những điều này có lẽ sẽ làm cho chúng ta mất đi sự tập trung của chúng ta và mang lấy kết cục là trống rỗng. Khôi phục sự hiệp nhất là một mệnh lệnh.

Chúng ta tìm thấy sự hiệp nhất ở đâu? Luôn luôn là ở nơi Chúa Giêsu. Điều làm cho sứ mạng tồn tại lâu dài không phải là sự quảng đại và lòng nhiệt thành cháy bỏng trong tâm hồn của nhà truyền giáo, ngay cả khi những điều này luôn luôn cần thiết. Đúng hơn đó là sự đồng hành của Chúa Giêsu trong Thần Khí của Ngài. Nếu chúng ta không ra đi với Ngài trên hành trình sứ mạng của chúng ta, thì chúng ta sẽ nhanh chóng trở nên lạc lối và có nguy cơ bối rối trước những nhu cầu hư vinh của chúng ta với lý do của Ngài. Nếu lý do của chúng ta để ra đi không phải là Chúa Giêsu, thì nó sẽ dễ dàng trở thành chán nản bởi sự mỏi mệt của hành trình, hay sự kháng cự mà chúng ta gặp, bằng việc liên tục thay đổi hoàn cảnh hay bằng sự mỏi mệt được mang lại bởi những trò tinh nghịch tinh tế nhưng kiên định của kẻ thù.

Đó không phải là một phần của sứ mạng để chịu sự nản lòng, một khi lòng nhiệt thành đầu tiên của chúng ta đã tàn lụi và thời gian đã điểm thì việc chạm vào thân xác của Đức Kitô sẽ trở nên rất khó khăn. Trong những hoàn cảnh thế này, Chúa Giêsu không nuôi dưỡng những sợ hãi của chúng ta. Chúng ta biết rất rõ rằng chỉ một mình Ngài mà thôi mà chúng ta mới có thể tiến bước, vì chỉ một mình Ngài mới có những lời ban sự sống đời đời (x. Ga 6:68). Vì thế chúng ta cần phải hiểu và trân quý sâu sắc hơn nữa sự thật là Ngài đã chọn chúng ta.

Một cách cụ thể, việc ra đi thi hành sứ mạng với Chúa Giêsu ngày nay có ý nghĩa gì, ở đây tại Châu Mỹ Latinh này? Từ “cụ thể” không chỉ thuần tuý là một lối nói: nó đi vào tận trọng tâm của vấn đề. Tin Mừng luôn luôn cụ thể, và không bao giờ là một sự thi hành trong sự phỏng đoán không sinh hoa trái. Tất cả chúng ta đều ý thức rất rõ về cơn cám dỗ thường trực của việc bị lạc trong những phản đối ương ngạnh của các tiến sĩ luật, để tự hỏi chúng ta đã đi xa thế nào mà không mất sự kiểm soát về những tư lợi của chúng ta hay phần khá về quyền lực của chúng ta.

Chúng ta thường nghe nói rằng Giáo Hội đang ở trong tình trạng truyền giáo vĩnh viễn. Ra đi với Chúa Giêsu là điều kiện cho điều này. Tin Mừng nói về Chúa Giêsu là Đấng mà, xuất phát từ Chúa Cha, đang đi hành trình với các môn đệ của Ngài qua những cánh đồng và những thị trấn của vùng Galilee. Việc đi cùng của Ngài không phải là vô nghĩa. Khi Chúa Giêsu bước đi, thì Ngài gặp gỡ người dân. Khi Ngài gặp gỡ người dân, thì Ngài đến gần họ. Khi Ngài đến gần họ, thì Ngài trò chuyện với họ. Khi Ngài trò chuyện với họ, thì Ngài chạm vào họ bằng năng quyền của Ngài. Khi Ngài chạm vào họ, thì Ngài mang lại cho họ sự chữa lãnh và ơn cứu độ. Mục đích của Ngài trong việc liên lỉ ra đi là để dẫn người dân mà Ngài gặp gỡ đến với Chúa Cha. Chúng ta phải không bao giờ ngừng suy tư về điểm này. Giáo Hội phải tái trân trọng lại những động từ mà Lời Chúa sử dụng khi Ngài thi hành sứ vụ thánh của Ngài. Ra đi để gặp gỡ mà không giữ một khoảng cách an toàn; để nghỉ ngơi mà không hề thụ động; để chạm vào người khác mà không sợ hãi. Đó là một vấn đề của việc làm việc ban ngày trên những cánh đồng, nơi mà dân Thiên Chúa, được uỷ thác cho sự chăm sóc của anh em, sống cuộc sống của họ. Chúng ta không thể để cho chính bản thân mình bị tê liệt bởi những văn phòng có máy lạnh, những con số thống kê và những chiến lược của chúng ta. Chúng ta phải nói với người nam nữ trong những hoàn cảnh cụ thể của họ; chúng ta không thể chuyển hướng cái nhìn của chúng ta khỏi họ. Sự mạng được thực thi theo mối liên hệ từng người một.

Một Giáo Hội có khả năng trở thành một dấu chỉ của sự hiệp nhất

Thật là một sự thiếu tập trung ở quanh tất cả chúng ta! Tôi đang không chỉ nói đến việc hoang phí sự đa dạng phong phú của châu lục chúng ta, nhưng còn nói đến một tiến trình liên lỉ của sự không hỗ tương. Chúng ta cần phải chú tâm để chúng ta không để cho bản thân chúng ta rơi vào những cái bẫy này. Giáo Hội không hiện diện tại Châu Mỹ Latinh với những chiếc vali của mình trong tay, sẵn sàng, giống như nhiều người khác qua thời gian, để rồi bỏ nó sau khi đã sử dụng xong. Những người như thế nhìn bằng một cảm thức bề trên và chửi rủa về diện mạo bản địa của nó; họ muốn thuộc địa hoá linh hồn chúng ta bằng cùng một tầm nhìn thất bại và tái đi tái lại của con người và cuộc sống; họ lặp lại cùng những công thức cũ mèm vốn giết chết bệnh nhân trong khi lấp đầy những chiếc túi của các bác sĩ. Họ phớt lờ những bận tâm sâu thẳm nhất hiện diện trong tâm hồn của người dân của họ, những tầm nhìn và những điều thần bí mang lại sức mạnh bất chấp những thất vọng và thất bại thường trực. Họ thao túng chính trị và phản bội lại niềm hy vọng, bỏ lại phía sau mảnh đất đã bị thiêu đốt và một vùng đất cho nhiều điều tương tự nữ, mặc dù là mang một trang phục mới. Những nhân vật quyền lực và những giấc mơ không tưởng đã hứa hẹn những giải pháp ma thuật, những câu trả lời tức thì, những hiệu quả tức thì. Giáo Hội, không có những giả dối kiểu con người, tôn trọng diện mạo khác nhau của châu lục, mà Giáo Hội thấy không phải như một cản trở mà là một nguồn nguyên thuỷ của sự thịnh vượng. Giáo Hội phải tiếp tục làm việc âm thầm để phục vụ thiện ích thật sự của người nam nữ của Châu Mỹ Latinh. Giáo Hội phải làm việc không mỏi mệt để xây dựng những chiếc cầu, để phá đổ những bức tường, để tháp nhập sự đa dạng, để cổ võ nền văn hoá gặp gỡ và đối thoại, để dạy sự tha thứ và hoà giải, cảm thức về công bằng, loại bỏ bạo lực. Không có một sự xây dựng bên bỉ nào tại Châu Mỹ Latinh có thể làm được mà không có điều này dù chưa tỏ hiện nhưng là nền tảng thiết yếu.

Giáo Hội tôn trọng giống như một số người khác sự khôn ngoan chung được bén rễ sâu vốn là nền tảng của mọi thực tại tại Châu Mỹ Latinh. Giáo Hội đang sống từng ngày với sự tôn trọng những giá trị đạo đức mà đời sống của châu lục này đặt nền tảng. Tôi chắc chắn rằng, ngay cả khi tôi nói điều này, thì anh em có thể đưa ra một cái tên cho thực tại này. Chúng ta phải liên lỉ trong tình trạng đối thoại với thực tại này. Chúng ta không thể mất liên lạc với nền tảng luân lý này, với mảnh đất mầu mỡ này đang hiện diện trong tâm hồn của người dân chúng ta, mà trong đó chúng ta thấy những yếu tố tinh tế nhưng rõ ràng đang tạo nên diện mạo bản địa của nó – không chỉ thuần mang tính thổ dân, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha hay Châu Phi mà là bản địa: Châu Mỹ Latinh!

Guadalupe Aparecida là những dấu chỉ mang tính chương trình của sự sáng tạo thánh đang mang lại điều này và điều đó làm nền tảng cho lòng đạo đức bình dân của người dân chúng ta, vốn là một phần của sự độc đáo mang tính nhân chủng và một quà tặng mà qua đó Thiên Chúa muốn dân của chúng ta đến để nhận biết Ngài. Những trang rực rỡ của lịch sử Giáo Hội chúng ta đã được viết cách cụ thể khi Giáo Hội biết cách để được nuôi dưỡng bởi sự phong phú này và nói với tâm hồn kín ẩn này. Vì nó bảo vệ, giống như một tia lửa bên dưới những đám tro, cảm thức về Thiên Chúa và về sự siêu việt của Ngài, một sự nhận biết về sự thánh thiêng của cuộc sống, tôn trọng công trình tạo dựng, những mối liên hệ của tình liên đới con người, niềm vui thuần tuý của việc sống, khả năng tìm kiếm niềm hạnh phúc mà không có điều kiện.

Để nói với linh hồn thẳm sâu này, để nói với thực tại sâu sắc nhất này của Châu Mỹ Latinh, Giáo Hội phải liên tục học từ Chúa Giêsu. Tin Mừng cho chúng ta biết rằng Chúa Giêsu chỉ nói bằng dụ ngôn (x. Mc 4:34). Ngài sử dụng những hình ảnh có liên hệ đến những người nghe lời của Ngài và biến chúng thành những nhân vật trong những câu truyện thánh của Ngài. Dân thánh và trung tín của Thiên Chúa tại Châu Mỹ Latinh hiểu không còn cách nào khác để nói về Ngài. Chúng ta được mời gọi để ra đi thi hành sứ vụ mà không có những khái niệm lạnh lùng và trừu tượng, nhưng bằng những hình ảnh làm nhân rộng và tôn trọng sức mạnh của chúng trong tâm hồn con người, làm cho chúng trở thành những hạt giống tốt được gieo trên mảnh đất tốt, nắm men làm cho cả khối bột dậy men, và hạt giống với sức mạnh để trở thành một cây sinh hoa trái.

Một Giáo Hội có khả năng là một dấu chỉ của niềm hy vọng

Nhiều người đang chê bai một sự thiếu hụt nhất định về niềm hy vọng tại Châu Mỹ Latinh ngày nay. Chúng ta không thể tham gia vào “việc than vãn” của họ, vì chúng ta thủ đắc một niềm hy vọng từ trên cao. Tất cả chúng ta cũng biết rất rõ rằng tâm hồn Châu Mỹ Latinh đã được giáo huấn bằng niềm hy vọng. Như một nhạc sĩ người Brazil đã nói, “niềm hy vọng nhảy múa trên sợi dây căng với một chiếc dù” (João Bosco, O Bêbado e a Equilibrista). Một khi anh em nghĩ rằng niềm hy vọng đã đi mất, thì nó sẽ trở về nơi mà anh em ít mong đợi nhất. Người dân của chúng ta đã học rằng không có sự thất vọng nào có thể nghiền nát niềm hy vọng. Niềm hy vọng đi theo Đức Kitô trong sự hiền lành của Ngài, ngay cả trong tình trạng bị tra tấn. Niềm hy vọng biết cách nghỉ ngơi và đợi chờ ánh bình minh, tin vào sự chiến thắng, vì – tận thẳm sâu – niềm hy vọng biết rằng nó không hoàn toàn thuộc về thế gian này.

Giáo Hội tại những mảnh đất này, không còn hoài nghi và một cách đặc biệt, là một dấu chỉ của niềm hy vọng. Tuy nhiên, vẫn cần phải coi xem niềm hy vọng ấy hình thành cách cụ thể thế nào. Nó càng cao cả, thì nó càng cần được thấy trên diện mạo của những người thủ đắc nó. Trong khi mời gọi anh em hãy xem xét sự thể hiện của niềm hy vọng, thì giờ đây tôi muốn nói về một trong những dấu vết của nó vốn đã thể hiện rõ tại Giáo Hội Châu Mỹ Latinh.

Tại Châu Mỹ Latinh, niềm hy vọng có một diện mạo trẻ

Chúng ta thường nói về người trẻ và chúng ta thường nghe những con số thống kể về người trẻ của chúng ta là châu lục của tương lai. Một số người chỉ ra những khiếm khuyết và một sự thiếu động lực về phía người trẻ, trong khi người khác thì nhìn giá trị của người trẻ là những người tiêu thụ tiềm năng. Những người khác thì đưa chúng vào danh mục của nạn buôn bán đen và bạo lực. Đừng chú ý đến những hình ảnh huyễn hoặc này về người trẻ. Hãy nhìn vào đôi mắt chúng và hãy tìm kiếm ở nơi chúng sự can đảm của niềm hy vọng. Thật không đúng là họ muốn trở về với quá khứ. Hãy tạo ra không gian thật sự cho chúng tại các Giáo Hội địa phương của anh em, đầu tư thời gian và nguồn lực để đào luyện chúng. Mang lại cho chúng những chương trình giáo dục thực tiễn sâu sắc, và đòi hỏi nơi chúng, như những người cha đòi hỏi con cái mình, để chúng sử dụng các tài năng của mình cho thật tốt. Hãy dạy cho chúng niềm vui xuất phát từ việc sống trọn vẹn đời sống, chứ không phải cách hời hợt. Đừng hài lòng với lời nịnh nọt và những đề xuất tìm thấy trong các kế hoạch mục vụ vốn chẳng bao giờ đưa vào áp dụng.

Tôi đã cố ý chọn Panama, dải đất hẹp nhất của châu lục này, như là địa điểm cho Đại Hội Giới Trẻ 2019, vốn sẽ đưa ra gương mẫu của Đức Trinh Nữ Maria, Đấng nói về chính Mẹ như là một nữ tỳ và hoàn toàn mở ra cho hết mọi điều đòi hỏi nơi Mẹ (x. Lc 1:38). Tôi chắc chắn rằng ở nơi hết mọi người trẻ có một “dải đất hẹp” tàng ẩn, rằng trong tâm hồn của mọi người trẻ đều có một dải đất nhỏ bé vốn có thể đóng vai trò như một con đường dẫn chúng đến một tương lai mà chỉ một mình Thiên Chúa mà thôi biết và nắm giữ cho chúng. Nhiệm vụ của chúng ta là giới thiệu cho người trẻ những lý tưởng cao cả và khích lệ chúng hãy đánh cược cuộc đời của chúng với Thiên Chúa, theo gương của sự mở ra được Mẹ Maria thể hiện.

Tại Châu Mỹ Latinh, niềm hy vọng có diện mạo của người phụ nữ

Tôi không cần phải suy tư sâu về vai trò của người phụ nữ ở châu lục chúng ta và trong Giáo Hội của chúng ta. Từ môi miệng của họ chúng ta đã học về đức tin, và với dòng sữa của họ chúng ta đã mang lấy những nét đặc trưng của tâm hồn bản địa của chúng ta và sự miễn nhiễm trước sự tuyệt vọng của chúng ta. Tôi nghĩ về những người mẹ thổ dân hay da đen, tôi nghĩ về những người mẹ ở trong các thành phố của chúng ta làm 3 công việc, tôi nghĩ về những người phụ nữ lớn tuổi đang phục vụ trong vai trò là giáo lý viên, và tôi nghĩ về những người nữ tu và những người âm thầm đi làm quá nhiều điều thiện hảo. Không có phụ nữ, Giáo Hội của châu lục này sẽ mất đi sức mạnh của nó để liên tục tái sinh. Chúng ta có một điều buộc nghiêm trọng để hiểu, tôn trọng, trân quý và cổ võ sự ảnh hưởng mang tính giáo hội và xã hội của tất cả mọi điều họ làm. Họ đồng hành với Chúa Giêsu trên hành trình sứ vụ của Ngài; họ không bỏ mặc Ngài ngay dưới chân thập giá; chỉ một mình họ đợi chờ đêm của cái chết để mang lại Thiên Chúa sự sống; họ đã làm ngập lụt thế giới bằng sự hiện diện phục sinh của Ngài. Nếu chúng ta hy vọng một chương mới và sống động của niềm tin tại châu lục này, thì chúng ta sẽ không có được điều đó mà không có người phụ nữ. Xin vui lòng, đừng để cho bị giảm xuống thành tôi tớ của chủ nghĩa giáo sĩ đã bị hằn sâu của chúng ta. Vì họ đang ở trận tuyến của Giáo Hội Châu Mỹ Latinh, trong việc ra đi với Chúa Giêsu của họ, trong việc kiên định của họ giữa những đau khổ của người dân của họ, trong việc gắn chặt với niềm hy vọng vốn chính phục sự chết, và trong cách thế đầy vui tươi của họ trong việc loan báo cho thế giới biết rằng Đức Kitô đang sống và đã phục sinh.

Tại Châu Mỹ Latin, niềm hy vọng thông truyền qua tâm hồn, tư tưởng và đôi bàn tay của người giáo dân

Tôi muốn lặp lại một điều mà gần đây tôi đã nói với Uỷ Ban Giáo Hoàng về Châu Mỹ Latinh. Đó là một lệnh truyền phải vượt thắng chủ nghĩa giáo sĩ trị đang đối xử với những người giáo dân Kitô Giáo như là những đứa trẻ và làm khánh kiệt căn tính của những người thừa tác được thánh hiến.

Mặc dù nhiều nỗ lực đã được đầu tư và một số bước đã được thực hiện, nhưng những thách đố lớn nhất của châu lục này vẫn chỉ là ở trên bàn giấy. Những thách đố này vẫn đợi chờ sự phát triển âm thầm, có trách nhiệm, có năng lực, có tầm nhìn, trưởng thành và ý thức của người giáo dân Kitô. Những người nam nữ của niềm tin, những người đã được chuẩn bị để loan báo một sự phát triển con người đúng đắn, việc củng cố nền dân chủ chính trị và xã hội, việc lật đổ những cấu trúc cảu nạn dịch nghèo và việc tạo ra một sự giàu có mang tính bao gồm dựa trên những cải tổ lâu bền có khả năng duy trì thiện ích chung. Cũng vậy, việc vượt thắng tình trạng bất bình đẳng và việc duy trì sự bình ổn, việc hình thành các khuôn mẫu của sự phát triển kinh tế bền vững vốn tôn trọng thiên nhiên và tương lai đúng đắn của nhân loại, mà chủ nghĩa tiêu thụ vô kiểm soát không thể đảm bảo, và việc chối bỏ bạo lựce và bảo vệ hoà bình.

Một điều nữa: theo đó, niềm hy vọng phải luôn luôn nhìn vào thế giới bằng đôi mắt của người nghèo và từ hoàn cảnh của người nghèo. Niềm hy vọng thì nghèo, giống như hạt lúa mì chết đi (x. Ga 12:24), nhưng lại có sức mạnh để làm cho các kế hoạch của Thiên Chúa được bén rễ và lan toả.

Sự giàu có, và cảm giác tự mãn mà nó mang lại, thường làm cho chúng ta mù quáng trước cả thực tại về sa mạc và những ốc đảo kín ẩn bên trong đó. Nó mang lại những câu trả lời mang tính giáo khoa và lặp lại những điều vô vị; nó thổi phồng chính những ý tưởng và mối quan tâm sáo rỗng của nó, mà thậm chí không đến gần với thực tại. Tôi chắc chắn rằng trong thời khắc khó khăn và bối rối nhưng đầy quan phòng này mà chúng ta đang kinh nghiệm, chúng ta sẽ tìm thấy những giải pháp cho những vấn đề phức tạp mà chúng ta đang đối diện trong sự đơn sơ Kitô Giáo vốn tàng ẩn nhưng lại rất mạnh mẽ chỉ được mạc khải cho người khiêm nhường. Sự đơn sơ của niềm tin ngay chính vào Chúa Phục Sinh, sự ấm áp của sự hiệp thông với Ngài, tình huynh đệ, sự quảng đại, và tình liên đới cụ thể một trật xuất phát từ tình bằng hữu của chúng ta với Ngài.

Tôi muốn tóm lược tất cả điều này trong một câu mà tôi để lại cho anh em như là một sự tổng hợp và lời nhắc nhớ về cuộc gặp gỡ này. Nếu chúng ta muốn phục vụ Châu Mỹ Latinh này của chúng ta từ CELAM, thì chúng ta phải làm thế bằng niềm đam mê, một niềm đam mê mà ngày nay thường hay thiếu. Chúng ta cần đặt tâm hồn mình vào trong mọi việc chúng ta làm. Chúng ta cần có niềm đam mê của những tình nhân trẻ và những người già khôn ngoan, một niềm đam mê biến ý thưởng thành những không tưởng lành mạnh, một niềm đam mê cho công việc của đôi bàn tay chúng ta, một niềm đam mê làm cho chúng ta thành những người lữ lành liên lỉ trong các Giáo Hội của chúng ta. Cho phép tôi nói rằng chúng ta cần phải giống như Thánh Toribius Mogrovejo, một người không bao giờ thật sự thiết lập trong tầm nhìn của Ngài: trong 24 năm làm giám mục của Ngài, 18 năm đã trải qua việc thăm viếng những thị trấn trong giáo phận của Ngài. Anh em của tôi, xin vui lòng, tôi xin anh em niềm đam mê, niềm đam mê truyền giáo.

Tôi xin tín thác anh em, các giám mục CELAM, các Giáo Hội địa phương mà anh em đại diện, và tất cả mọi người dân của Châu Mỹ Latinh và vùng Caribe, cho sự bảo vệ của Mẹ Maria dưới những tước hiệu Guadalupe và Aparecida. Tôi làm thế, trong một cảm thức chắc chắn rằng Thiên Chúa là Đấng đang nói với châu lục này bằng những nét thổ dân và da đen của Mẹ Ngài, chắc hca81n sẽ làm cho ánh sáng này chiếu toả trong đời sống của tất cả mọi người.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Vatican Radio)