Skip to main content
ĐGH Phanxicô gặp gỡ các giám mục Peru, 21/01/2018 (EPA)

ĐGH Phanxicô - Diễn Từ Trước Hội Đồng Giám Mục Peru

Anh Em Giám Mục Thân Mến,

Xin cám ơn anh em vì những lời anh em nói với tôi qua Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Lima và Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục thay mặt tất cả anh em hiện diện. Tôi đã mong đợi để được hiện diện cùng anh em. Tôi nhắc lại bằng niềm vui về chuyến thăm ad limina năm ngoái của anh em.

Những ngày này tôi đã ở cùng anh em là những ngày rất dày đặc và thỏa đáng. Tôi đã biết về và kinh nghiệm được những thực tại khác nhau hình thành nên những mảnh đất này, và trên hết là chia sẻ niềm tin của dân thánh và trung tín của Thiên Chúa, là điều vốn quá tốt lành với chúng ta. Xin cám ơn anh em vì cơ hội được “chạm” vào niềm tin của người dân mà Thiên Chúa đã ủy thác cho anh em.

Chủ đề của Chuyến Thăm này nói với chúng ta về sự hiệp nhất niềm hy vọng. Đây là một chương trình đòi hỏi nhưng rất phấn khởi, khiến chúng ta suy nghĩ về những thành tựu lịch sử của Thánh Turibius Mogrovejo, tổng giám mục của giáo phận này và là bảo trợ của Hội Đồng Giám Mục Châu Mỹ Latinh, một mẫu gương về “một người thợ xây dựng sự hiệp nhất giáo hội”, như vị tiền nhiệm của tôi, Thánh Gioan Phaolô đã mô tả về Thánh Nhân trong Chuyến Tông Du đầu tiên của Ngài đến mảnh đất này.[1]

Thật quan trọng là vị giám mục thánh thiện này thường được phác họa là một “Mô-sê mới”. Như anh em biết, Tòa Thánh Vatican có một bức tranh mà trong đó Thánh Turibius xuất hiện khi băng qua một con sông lớn mà nước của nó mở ra trước mắt Ngài như Biển Đỏ, để Ngài có thể đi qua bờ bên kia, nơi mà một nhóm đông các người bản địa đang đợi Ngài. Phía sau Thánh Turibius là một đám đông lớn, đại diện cho người tín hữu đi theo vị mục tử của mình trong nhiệm vụ truyền giáo.[2] Hình ảnh tuyệt vời này có thể đóng vai trò là một mỏ neo cho phần suy tư của tôi cùng anh em. Thánh Tiburius, người muốn đi qua bờ bên kia.

Chúng ta thấy Ngài từ thời gian mà trong đó Ngài chấp nhận lệnh truyền để đến với những vùng đất này với sứ mạng để trở thành một người cha và một vị mục tử. Ngài đã rời bỏ sự an toàn của những hoàn cảnh thân quen để đi vào một vũ trụ hoàn toàn mới, chưa được biết đến và đầy những thách đố. Ngài đã thực hiện một hành trình hướng về vùng đất hứa được niềm tin dẫn lối như là “những điều ta hy vọng” (Dt 11:1). Niềm tin của Ngài và sự tín thác của Ngài vào Thiên Chúa đã thúc đẩy Ngài, sau đó và trong phần đời con lại của Ngài, đi sang bờ bên kia, nơi mà chính Chúa đang đợi chờ Ngài ở giữa một đám đông lớn.

1. Ngài muốn sang bờ bên kia để tìm kiếm những người ở xa và bị phân tán. Để làm điều đó, Ngài đã bỏ lại phía sau sự an nhàn của tòa giám mục và đi đến lãnh thổ đã được ủy thác cho Ngài trong những chuyến thăm mục vụ liên lỉ; Ngài nỗ lực thăm và ở lại bất cứ nơi nào mà người ta cần Ngài, và Ngài được người ta cần đến biết bao! Ngài ra đi để gặp gỡ mọi người, trên những nẻo đường mà, theo những lời của vị thư ký của Ngài, có nghĩa là cho nhiều dê hơn con người. Thánh Turibius đã đối diện với những vùng thời tiết và cảnh quan khác nhau, “của 22 năm giám mục của Ngài, 18 năm đã được dành để sống bên ngoài thành phố của Ngài, 3 lần băng qua lãnh thổ của Ngài”.[3] Ngài biết rằng đây là cách duy nhất để trở thành một mục tử: gần gũi với dân của Ngài, ban phát các bí tích, và Ngài luôn giáo huấn các linh mục của Ngài hãy làm y như vậy. Ngày làm như thế không chỉ bằng lời nói, mà còn bằng chứng tá của Ngài trước trận tuyến của việc truyền giáo. Ngày nay chúng ta có thể gọi Ngài là vị giám mục “đường phố”. Một vị giám mục với đôi giày bị mòn vì bước đi, bởi việc liên tục đi lại, bởi việc ra đi để “rao giang Tin Mừng cho hết mọi người: cho hết mọi nơi, vào tất cả mọi dịp, không chần chừ, do dự và sợ hãi. Niềm vui của Tin Mừng là cho hết mọi người: không ai bị loại trừ”.[4] Thánh Turibius biết rõ điều này biết bao! Không sợ hãi và không chần chừ Ngài tự nhận chìm mình vào châu lục của chúng ta để loan báo tin mừng.

2. Ngài muốn đi sang bờ bên kia không chỉ về mặt địa lý mà còn cả về mặt văn hóa. Do đó, Ngài làm việc bằng nhiều cách thế cho một công cuộc truyền giáo theo các ngôn ngữ bản địa. Với Công Đồng Lima Thứ Ba Ngài đã mang lại các bản giáo lý được biên soạn và dịch thành các thứ tiếng Quechua và Aymara. Ngài đã khích lệ hàng giáo sĩ hãy học ngôn ngữ của đoàn chiên họ để ban phát các bí tích cho họ theo cách mà họ có thể hiểu được. Thăm viếng và sống với dân của Ngài, Ngài đã nhận ra rằng thật chưa đủ để chỉ hiện diện về mặt thể lý, mà còn phải học nói ngôn ngữ của người khác, vì chỉ bằng cách này thì Tin Mừng mới có thể được hiểu và chạm vào tâm hồn. Tầm nhìn này thật cần thiết cho chúng ta biết bao, các vị mục tử của thế kỷ 21! Vì chúng ta phải học những ngôn ngữ hoàn toàn mới, giống như thế, chẳng hạn, ngôn ngữ của thời đại kĩ thuật số này. Để biết ngôn ngữ thật sự của người trẻ của chúng ta, các gia đình, con em của chúng ta... Như Thánh Turibius đã nhận thức rõ ràng, thật chưa đủ để chỉ hiện diện và chiếm lấy không gian; chúng ta còn phải biết tạo ra những tiến trình trong đời sống của người dân, để niềm tin có thể bén rễ và có ý nghĩa. Và để làm điều đó, chúng ta phải có khả năng nói ngôn ngữ của họ. Chúng ta cần phải đi đến những nơi mà những câu chuyện mới và những mô thức mới được sinh ra, để mang lời của Chúa Giêsu đến tận trung tâm của các thành phố và dân tộc của chúng ta.[5] Công cuộc phúc âm hóa nền văn hóa đòi hỏi chúng ta phải đi vào trong chính trung tâm của nền văn hóa, để nó có thể được Tin Mừng soi sáng từ bên trong.

3. Thánh Turibius muốn đi sang bờ bên kia của lòng bác ái. Đối với vị bảo trợ của chúng ta, sẽ không có phúc âm hóa mà không có lòng bác ái. Ngài biết rằng hình thức tối thượng của việc truyền giáo là làm gương trong đời sống của chúng ta sự trao ban chính bản thân của Chúa Giêsu Kitô, vì tình yêu dành cho hết mọi người nam nữ. Con cái của Thiên Chúa và con cái của ma quỷ được tỏ lộ bằng cách này: tất cả những ai không thi hành phép công bằng thì không xuất phát từ Thiên Chúa, cũng như những người không yêu thương anh chị em mình (x. 1 Ga 3:10). Trong các cuộc thăm viếng của Ngài, Ngài đã thấy những nạn lạm dụng và những thái quá mà người dân bản địa phải chịu đựng, và do đó Ngài đã không sợ, vào năm 1585, ra vạ tuyệt thông đảo Cajatambo, tự đặt chính bản thân Ngài chống lại toàn bộ hệ thống hư hỏng và một mạng lưới những lợi ích vốn “cuốn hút về phía Ngài quá nhiều lòng thù hận của nhiều người”, gồm cả một nhà cầm quyền.[6] Chúng ta thấy, đó là một vị mục tử biết rằng sự tốt lành về thiêng liêng không bao giờ có thể được tách ra khỏi chỉ có của cải vật chất, và hơn thế nữa khi sự liêm chính và phẩm giá của con người đang lâm nguy. Một tinh thần giám mục mang tính ngôn sứ thì không sợ việc bác bỏ những lạm dụng và những thái quá được thực hiện đối với người dân chúng ta. Bằng cách này, Thánh Turibius nhắc nhớ toàn thể xã hội, và mỗi cộng đồng, rằng lòng bác ái phải luôn luôn đi cùng với sự công bằng. Và rằng sẽ không có việc phúc âm hóa chân chính mà lại không chỉ ra và bác bỏ mọi loại tội chống lại đời sống của anh chị em của chúng ta, đặc biệt là những người mỏng giòn nhất.

4. Ngài muốn đi sang bờ bên kia trong sự đạo luyện các linh mục của Ngài. Ngài đã thành lập chủng viện đầu tiên thời kỳ hậu công đồng Trentô ở ngay vùng đất này của thế giới, do đó khích lệ việc đào luyện hàng giáo sĩ bản xứ. Ngài nhận thấy rằng thật chưa đủ khi đi thăm mọi nơi và nói cùng một ngôn ngữ: Giáo Hội cần phải nuôi dạy các vị mục tử địa phương của mình và do đó trở thành một bà mẹ sinh hoa trái. Để đạt được cùng đích này, Ngài đã bảo vệ việc phong linh mục cho những người đa sắc tộc – một vấn đề gây tranh cãi thời đó – và tìm cách để giúp người khác thấy rằng nếu hàng giáo sĩ cần thiết phải khác biệt ở bất cứ khu vực nào, thì đó phải là qua thước đo về sự thánh thiện của họ chứ không phải bởi nguồn gốc sắc tộc của họ.[7] Việc đào luyện này không giới hạn lại ở những việc học tập chủng viện, mà còn được tiếp tục qua những chuyến thăm liên tục mà Ngài thực hiện. Ở đó Ngài đã có thể thấy ngay được “tình trạng của các linh mục của Ngài” và thể hiện sự quan tâm đối với họ. Câu chuyện xảy ra là vào Đêm Giáng Sinh thì chị của của Ngài đã tặng cho Ngài một chiếc áo để Ngài có thể mặc vào những ngày lễ hội. Cùng ngày hôm đó Ngài đi thăm một vị linh mục, thấy hoàn cảnh sống của vị ấy, thì Ngài đã cởi chiếc áo ra và tặng cho vị linh mục ấy.[8] Ngài là một vị mục tử biết các linh mục của mình. Một vị mục tử nỗ lực thăm các linh mục, đồng hành với họ, khích lệ họ và quở trách họ. Ngài nhắc nhở các linh mục của Ngài rằng họ là các mục tử chứ hông phải là những người bán hàng, và vì thế họ phải chăm sóc và bảo vệ người indios như con cái mình.[9] Tuy nhiên, Ngài đã không làm việc này từ một chiếc bàn, và vì thế Ngài biết chiên của Ngài và họ nhận biết, trong tiếng nói của Ngài, tiếng nói của vị mục tử nhân lành.

5. Ngài muốn đi sang bờ bên kia của sự hiệp nhất. Theo một cách thế đáng khâm phục và mang tính ngôn sứ, Ngài đã làm việc để mở ra những cơ hội của sự hiệp thông và sự dự phần giữa các thành phần của dân Thiên Chúa. Thánh Gioan Phaolô II đã đề cập đến điều này khi Ngài nói với các giám mục của mảnh đất này. Ngài nhấn mạnh rằng: “Công Đồng Lima Thứ Ba là kết quả của nỗ lực ấy, được hướng dẫn, khích lệ, và chỉ đạo bởi Thánh Turibius; công đồng ấy sinh hoa trái trong một sự phong phú về sự hiệp nhất trong niềm tin, trong các qui chuẩn về mục vụ và tổ chức, và những hiểu biết hữu ích cho một sự tháp nhập đáng mong ước của Châu Mỹ Latinh”.[10] Chúng ta biết rất rõ rằng sự hiệp nhất và đồng thuận này xuất phát từ những căng thẳng và mâu thuẫn lớn lao. Chúng ta không thể chối bỏ những căng thẳng và những khác biệt; đời sống sẽ không thể nếu không có mâu thuẫn. Nhưng như chúng đòi hỏi chúng ta, nếu chúng ta là những người nam và Kitô Hữu, phải biết đối diện với chúng và giải quyết chúng. Nhưng để giải quyết những căng thẳng và khác biệt trong tinh thần hiệp nhất, trong cuộc đối thoại trung thực và chân thành, diện đối diện, cẩn thận để không rơi vào cơn cám dỗ phớt lờ đi quá khứ, hoặc vẫn cứ là những tù nhân, thiếu tầm nhìn để biện phân những nẻo đường của sự hiệp nhất và bình an. Đó là một nguồn của sự khích lệ, trong hành trình của chúng ta trong tư cách là hội đồng giám mục, để biết rằng sự hiệp nhất sẽ luôn thắng thế trước sự mâu thuẫn.[11] Anh em giám mục thân mến, hãy làm việc vì sự hiệp nhất. Đừng cứ ở lì trong tình trạng tù nhân của những chia rẽ vốn tạo nên những vết rạn nứt và ngăn cản ơn gọi trở thành một dấu chỉ của sự hiệp thông của chúng ta. Hãy nhớ: điều cuốn hút về giáo hội sơ khai là cách mà họ yêu thương nhau. Điều đó đã là – và đang là và sẽ luôn là – cách tốt nhất để truyền giáo.

6. Thời khắc đã diễn ra cho Thánh Turibius để đi đến bờ cuối cùng, đến mảnh đất mà Ngài đã nếm trước ở mọi bến bờ mà Ngài đã rời khỏi. Tuy nhiên, thời gian này Ngài không rời một mình. Như trong bức tranh tôi đã nói đến trước đó, Ngài đi gặp các thánh được bao quanh bởi một đám đông lớn. Ngài là một vị mục tử “đóng hết các túi xách” của Ngài với các tên gọi và diện mạo. Chúng là tấm giấy thông hành để vào trời. Tôi không muốn bỏ qua đoạn cuối này, thời khắc khi một vị mục tử phó linh hồn mình cho Thiên Chúa. Ngài làm thế giữa dân của Ngài, và một người bản xứ đã tấu một ca khúc về thời khắc cuối của Ngài để linh hồn của vị mục tử cảm thấy bình an. Anh em thân mến, điều đó sẽ diễn ra khi chúng ta thực thi hành trình cuối cùng của chúng ta, chúng ta có thể có cùng một kinh nghiệm này. Chúng ta hãy xin Thiên Chúa ban cho chúng ta điều này.[12]

Và xin đừng quên cầu nguyện cho tôi.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Vatican News)

 

[1] Address to the Peruvian Bishops (2 February 1985), 3.

[2] Cf. Miracle of Saint Turibius, Vatican Pinacoteca.

[3] JORGE MARIO BERGOGLIO, Homily at Mass, Aparecida (16 May 2007).

[4] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium, 23.

[5] Cf. Ibid., 74.

[6] Cf. ERNESTO ROJAS INGUNZA, El Perú de los Santos, in : KATHY PERALES YSLA (ed.), Cinco Santos del Perú. Vida, obra y tiempo, Lima (2016), 57.

[7] Cf. JOSÉANTONIO BENITO RODRÍGUEZ, Santo Toribio de Mogrovejo, in KATHY PERALES YSLA (ed.), Cinco Santos del Perú. Vida, obra y tiempo, Lima (2016),178.        

[8] Cf. ibid., 180.

[9] Cf. JUAN VILLEGAS, Fiel y evangelizador.  Santo Toribio de Mogrovejo, patrono de los obisbos de América Latina, Montevideo (1984), 22.

[10] Address to the Peruvian Bishops (2 February 1985), 3.

[11] Cf. Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium, 226-230.

[12] Cf. JORGE MARIO BERGOGLIO, Homily at Mass, Aparecida (16 May 2007).