Skip to main content
Đức Giáo Hoàng Phanxicô huấn từ các linh mục, tu sĩ, chủng sinh tại Nhà Thờ Chính Tòa Santiago, 16/01/2018 (Vatican News)

ĐGH Phanxicô - Huấn Từ Trước Các Linh Mục, Tu Sĩ, Chủng Sinh Tại Santiago, Chile

Anh Chị Em Thân Mến,

Tôi vui mừng được gặp gỡ anh chị em. Tôi thích cách mà Đức Hồng Y Ezzati đã giới thiệu các bạn: Đây, họ đây....là những người phụ nữ thánh hiến, những người nam thánh hiến, các linh mục, các phó tế vĩnh viễn và các chủng sinh. Điều đó khiến tôi nghĩ về ngày thụ phong hoặc thánh hiến của chúng ta, khi mà sau khi được giới thiệu, mỗi người chúng ta đều nói: “Này con đây, lạy Chúa, để thực thi ý Ngài”. Trong buổi gặp gỡ này, chúng ta muốn nói với Chúa: “Này chúng con đây”, và canh tân lại “tiếng vâng” của chúng ta với Ngài. Chúng ta muốn cùng nhau canh tân lại lời đáp trả của chúng ta trước lời mời gọi mà ngày hôm ấy đã chiếm lấy trái tim chúng ta bằng sự kinh ngạc.

Tôi nghĩ việc đó có thể giúp chúng ta bắt đầu bằng một đoạn Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe, và chia sẻ ba thời khắc mà Phêrô và cộng đoàn đầu tiên kinh nghiệm: Phêrô và cộng đoàn nản lòng, Phêrô và cộng đoàn thể hiện lòng thương xót, và Phêrô và cộng đoàn biến đổi. Tôi thực hiện song hành Phêrô và cộng đoàn bởi vì đời sống của các tông đồ luôn luôn có chiều kích hai mặt này, cá nhân và cộng đoàn. Chúng đi sánh bước với nhau và chúng ta không thể chia tách hai chiều kích này. Chúng ta được mời gọi cách cá nhân nhưng luôn luôn là một thành phần của một nhóm lớn hơn. Nơi nào có liên quan đến ơn gọi, thì không có một điều như kiểu tự sướng (selfie)! Ơn gọi đòi hỏi rằng ai đó khác chụp hình, và đó là điều mà chúng ta cần phải làm!

1. Phêrô nản lòng

Tôi luôn tích cách mà các Tin Mừng không trang hoàng hoặc làm giảm mọi sự, hoặc tô vẽ mọi sự theo màu sắc đẹp đẽ. Các Tin Mừng cho chúng ta thấy cuộc sống như nó là chứ không phải như nó nên là. Tin Mừng không sợ cho chúng ta thấy những thời khắc gian khó, thậm chí căng thẳng, mà các môn đệ kinh qua.

Chúng ta hãy kết cấu lại cảnh tượng. Chúa Giêsu đã bị giết, nhưng một vài người phụ nữ nói rằng Ngài đã sống lại rồi (Lc 24:22-24). Ngay cả sau khi các môn đệ đã thấy Chúa Giêsu phục sinh, thì biến cố vẫn quá mạnh đến mức họ cần thời gian để có thể hiểu điều gì đã xảy ra. Sự hiểu biết ấy sẽ đến với các vị vào Lễ Hiện Xuống với việc ban Thần Khí. Cuộc gặp gỡ với Chúa Phục Sinh sẽ đòi hỏi thời gian để tìm một nơi trong tâm hồn của các môn đệ.

Các môn đệ trở về nhà. Họ trở về để làm con việc mà họ biết họ phải làm: đánh cá. Không phải tất cả họ, mà chỉ một vài trong số họ. Họ có bị chia rẽ không? Có bị phân mảnh không? Chúng ta không biết. Các Kinh Thánh đều kể cho chúng ta biết rằng những vị này không bắt được gì. Lưới của họ thì trống rỗng.

Nhưng có một kiểu trống rỗng khác một cách vô thức đã đè năng trên họ: sự thất vọng và bối rối trước cái chết của Thầy họ. Ngài hông còn nữa; Ngài đã bị đóng đinh. Nhưng không chỉ Ngài bị đóng đinh, mà họ cũng bị, bởi vì cái chết của Chúa Giêsu làm xuất hiện một làn sóng những mâu thuẫn trong tâm hồn của các bạn hữu Ngài. Phêrô đã chối Ngài; Giu-đa đã phản bội Ngài; những người khác thì bỏ chạy và ẩn núp. Chỉ những phụ nữ và môn đệ được yêu là còn ở lại. Số còn lại bỏ trốn hết. Trong vòng vài ngày, mọi sự đã sụp đổ. Đây là những giờ của sự thất vọng và bối rối trong đời sống của người môn đệ. Có nhiều khi “khi những làn sóng của sự bách hại, gian truân, hoài nghi và tương tự được tạo nên bởi những biến cố văn hóa và lịch sử, thật không dễ dàng gì để tìm một con đường để theo. Những thời gian này có những cám dỗ của chúng: cơn cám dỗ để bàn về những ý tưởng, để tránh vấn đề đang diễn ra, quá quan tâm đến các kẻ thù của chúng ta...Và tôi tin rằng cơn cám dỗ tồi tệ nhất là ở lì trong tình trạng bất hạnh của chúng ta”.[1] Đúng, ở lì trong tình trạng bất hạnh của riêng chúng ta.

Như Đức Hồng Y Ezzati đã nói với chúng ta, “đời sống linh mục và thánh hiến tại Chile đã trải qua và tiếp tục phải chịu đựng những thời gian khó khăn của những biến động và thách đố. Sát cánh với sự trung thành của đại đa số, thì đã xuất hiện những cỏ lùng của sự dữ và sự bê bối và biến dạng của chúng sau đó”.

Thời gian của biến động. Tôi biết nỗi đau xuất phát từ những vụ lạm dụng tình dục người bé mọn và tôi chú ý đến điều mà các bạn đang thực hiện để đáp trả lại sự dữ lớn lao và đớn đau này. Đớn đau vì sự tổn hại và những nỗi khổ của các nạn nhân và gia đình của họ, những người đã thấy niềm tin của họ đã đặt vào các thừa tác của Giáo Hội đã bị phản bội. Cũng đớn đau là nỗi thống khổ của các cộng đoàn giáo hội, nhưng cũng là đớn đau cho các bạn, những anh chị em, những người sau khi làm việc quá vất vả, đã chứng kiến sự tổn hại vốn dẫn đến sự nghi kị và đặt vấn đề: ở nơi một vài hay nhiều trong số các bạn có cả một nguồn của sự hoài nghi, sợ hãi hay một sự thiếu niềm tin. Tôi biết rằng đôi khi các bạn đã bị lăng mạ tại khu tàu điện ngầm hoặc khi đang đi trên đường phố, và rằng bằng việc đi lòng vòng trong tu phục ở nhiều nơi các bạn phải trả một giá đắt. Vì lý do này, tôi đề nghị rằng chúng ta hãy xin Thiên Chúa ban cho chúng ta một cái nhìn rõ ràng để gọi đích danh thực tại ấy, ban cho sức mạnh để tìm kiếm sự tha thứ và khả năng biết lắng nghe điều mà Thiên Chúa nói với chúng ta.

Có một điều khác mà tôi muốn đề cập. Xã hội của chúng ta đang thay đổi. Chile ngày nay thì khá khác với điều mà tôi đã biết khi tôi còn trẻ, khi tôi đang đi học. Những thể hiện văn hóa mới và khác biệt đang được sinh ra vốn không phù hợp với những khuôn mẫu thân thuộc của chúng ta nữa. Chúng ta phải nhận biết rằng nhiều khi chúng ta không biết cách để xử lý với những hoàn cảnh mới này. Đôi khi chúng ta mơ về “những chiếc lẩu thịt của Ai Cập” và chúng ta lãng quên rằng đất hứa đang ở phía trước chúng ta, rằng lời hứa không phải là về ngày hôm qua mà là về ngày mai. Chúng ta có thể bị qui phục trước cơn cám dỗ của việc trở nên khép kín, tự cô lập bản thân chúng ta và bảo vệ cách nhìn mọi sự của chúng ta, một điều mà sau đó chẳng trở thành gì ngoài những lời độc thoại. Chúng ta có thể bị cám dỗ để nghĩ rằng mọi sự đang sai, và trong vị thế của “tin mừng”, thì điều duy nhất chúng ta tuyên xưng là sự lãnh đạm và sự thất vọng. Kết quả là, chúng ta tự nhắm mắt mình lại trước những thách đố mục vụ, nghĩ rằng Thần Khí chẳng có gì để nói về chúng. Bằng cách này, chúng ta lãng quên rằng Tin Mừng là một hành trình của sự hoán cải, không chỉ đối với “người khác” mà còn đối với cả chính chúng ta nữa.

Bất luận là chúng ta thích hay không, thì chúng ta đều được mời gọi để đối diện với thực tại như nó là – thực tại của riêng cá nhân chúng ta và thực tại của các cộng đồng và xã hội của chúng ta. Lưới - như các môn đệ nói – trống rỗng, và chúng ta có thể hiểu cảm giác của họ. Họ trở về nhà mà chẳng có câu chuyện hay ho gì để kể; họ trở về nhà trắng tay; họ trở về nhà đầy nản lòng.

Điều gì trở thành những người môn đệ mạnh mẽ, nhiệt thành và lịch lãm là những người tự cảm thấy mình đã được chọn và đã bỏ hết mọi sự mà đi theo Chúa Giêsu (x. Mt 1:16-20)? Điều gì đã trở thành những người môn đệ là những người chắc chắn về chính họ là họ sẽ phải đi tù và thậm chí phải hy sinh mạng sống vì Thầy (x. Lc 22:33), những người bảo vệ Thầy là Đấng ước ao ném lửa xuống thế gian (x. Lc 9:54). Vì ai mà họ lại rút gươm ra và chiến đấu (x. Lc 22:49-51)? Điều gì đã trở nên một Phêrô là người quở trách Thầy về cách mà Ngài phải sống cuộc đời của mình (x. Mc 8:31-33)?

2. Phêrô thể hiện lòng thương xót

Đó là giờ của sự thật trong đời sống của cộng đoàn đầu tiên. Đó là giờ để Phêrô phải đối diện với con người thật của chính mình. Một phần con người của ông mà nhiều lần ông không muốn nhìn. Ông đã kinh nghiệm được sự giới hạn của mình, sự mỏng giòn của mình và tình trạng tội lỗi của mình. Phêrô, một nhà lãnh đạo và vị cứu tinh tính khí thất thường và nóng nảy, tự mãn và quá tự phụ ở nơi chính bản thân ông và nơi các khả năng của ông, đã phải nhìn nhận tình trạng yếu hèn và tội lỗi của mình. Ông là một tội nhân giống như mọi người khác, và bần cùng như những người khác, mỏng giòng như những người khác. Phêrô đã thất bại với Đấng mà ông hứa bảo vệ. Đó là một thời khắc trong cuộc đời của Phêrô.

Là các môn đệ, trong tư cách là Giáo Hội, chúng ta có cùng một kinh nghiệm: có những thời khắc khi chúng ta phải đối diện không phải với sự thành công của chúng ta mà là sự hèn kém của chúng ta. Những thời khắc quan trọng trong đời của một môn đệ, nhưng cũng là thời điểm mà một người môn đệ được sinh ra. Chúng ta hãy để cho bản văn dẫn dắt chúng ta.

“Khi các môn đệ ăn xong, Ðức Giêsu hỏi ông Simon Phêrô: ‘Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?’ (Ga 21:15).

Sau khi họ ăn, Chúa Giêsu kéo Phêrô sang một bên và những lời của Ngài chỉ là một câu hỏi, một câu hỏi về tình yêu: Anh có yêu mến Thầy không? Chúa Giêsu không quở trách cũng không lên án. Điều duy nhất mà Ngài muốn thực hiện là cứu Phêrô. Ngài muốn cứu ông khỏi mối nguy khép kín trong tội lỗi của mình, ở lì với sự nguyền rủa về tình trạng mỏng giòng của mình, mối nguy đầu hàng, vì sự mỏng giòn ấy, về tất cả mọi điều tốt lành mà ông đã biết với Chúa Giêsu. Chúa Giêsu muốn cứu ông khỏi tình trạng tự qui ngã và cô lập. Ngài muốn cứu ông khỏi thái độ hủy diệt của việc trở thành nạn nhân hoặc của việc nghĩ “điều gì quan trọng”, vốn coi thường bất cứ một sự dấn thân nào và mang lấy kết cục trong một kiểu chủ thuyết tương đối tồi tệ nhất. Chúa Giêsu muốn giải thoát ông khỏi việc nhìn những người chống đối ông là kẻ thù và nổi giận bởi sự chống đối và chỉ trích. Ngài muốn giải thoát ông khỏi việc bị suy sụp và, trên hết là, tiêu cực. Qua câu hỏi của Ngài, Chúa Giêsu kêu gọi ông Phêrô hãy lắng nghe tâm hồn mình và học cách biện phân. Vì “không phải là đường lối của Thiên Chúa khi bảo vệ sự thật bằng cái giá của bác ái, hay bảo vệ bác ái bằng cái giá của sự thật, hay làm dịu mọi sự bằng cái giá của cả hai. Chúa Giêsu muốn tránh biến Phêrô thành một người làm tổn thương người khác bằng việc nói sự thật, hoặc tử tế với người khác bằng cách nói dối, hoặc chỉ đơn giản là một người nào đó bị tê liệt bởi chính sự không chắc chắn của mình”,[2] như có thể xảy ra với chúng ta trong những hoàn cảnh này.

Chúa Giêsu cật vấn Phêrô về tình yêu và liên tục hỏi cho đến khi Phêrô có thể trả lời Ngài bằng một sự đáp trả thực tế: "Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy" (Ga 21:17). Bằng cách này, Chúa Giêsu khẳng định với ông về sứ mạng. Bằng cách này, giờ đây Ngài làm cho ông hoàn toàn trở thành tông đồ của Ngài.

Thế thì điều gì xác nhận Phêrô là một tông đồ? Điều gì nuôi dưỡng chúng ta là những tông đồ? Chỉ một điều: là chúng ta “đã lãnh nhận lòng thương xót” (1 Tm 1:12-16). “Vì tất cả tội lỗi của chúng ta, những giới hạn của chúng ta, những thất bại của chúng ta, vì tất cả mọi lần chúng ta đã sa ngã, Chúa Giêsu đã nhìn đến chúng ta và đến gần với chúng ta. Ngài đã đưa tay của Ngài cho chúng ta và tỏ cho chúng ta lòng thương xót của Ngài. Tất cả chúng ta có thẻ nghĩ lại và nhớ nhiều lần Chúa đã nhìn đến chúng ta, đến gần và bày tỏ lòng thương xót cho chúng ta”.[3] Chúng ta không ở đây vì chúng ta tốt lành hơn người khác; chúng ta không phải là những siêu anh hùng là những người đứng từ trên cao để gặp gỡ những sự chết thuần túy. Hơn thế, chúng ta được sai trong tư cách là những người nam nữ ý thức về việc được tha thứ. Đó là nguồn vui của chúng ta. Chúng ta được thánh hiến, các mục tử rập khuôn theo Chúa Giêsu, Đấng đã chịu chết và đã sống lại. Một người nam hay nữ thánh hiến thì nhìn thấy các vết thương của mình là những dấu chỉ của sự phục sinh; một người nhìn thấy nơi các vết thương của thế giới này sức mạnh của sự phục sinh; một người, giống như Chúa Giêsu, không gặp gỡ anh chị em mình bằng sự quở trách và lên án.

Chúa Giêsu Kitô không hiện ra với các môn đệ của Ngài mà không có các vết thương; chính những vết thương này đã giúp cho Tô-ma tuyên xưng niềm tin của ông. Chúng ta không được kêu gọi để phớt lờ hay che đậy những vết thương của mình. Một Giáo Hội với các vết thương có thể hiểu các vết thương của thế giới ngày nay và biến chúng thành của riêng mình, đau khổ với chúng, đồng hành với chúng và tìm cách chữa lành chúng. Một Giáo Hội bị thương thì không làm cho mình trở thành trung tâm của mọi sự, không tin rằng mình hoàn hảo, mà đặt vào trung tâm Đấng có thể chữa lành những vết thương này, mà tên của Đấng ấy là Giêsu Kitô.

Sự hiểu biết là chúng ta bị thương sẽ giải thoát chúng ta. Đúng, sự hiểu biết ấy sẽ giải thoát chúng ta khỏi việc trở thành qui ngã và nghĩ bản thân mình cao hơn. Sự hiểu biết ấy giải thoát chúng ta khỏi xu hướng nổi loạn của “những người mà sau cùng chỉ tin vào sức mạnh của mình và cảm thấy ở trên người khác vì họ tuân giữ các lề luật hoặc vẫn luôn trung tín với một phong cách Công Giáo của quá khứ”.[4]

Ở nơi Chúa Giêsu, các vết thương của chúng ta được phục sinh. Chúng sẽ thúc đẩy tình liên đới; chúng sẽ giúp chúng ta biết phá bỏ những bức tường vốn khóa chúng ta lại trong chủ nghĩa đặc quyền và chúng thúc đẩy chúng ta xây dựng những chiếc cầu và gặp gỡ tất cả mọi người khao khát tình yêu thương xót ấy mà chỉ một mình Đức Kitô mà thôi mới có thể mang lại. “Chúng ta quá thường xuyên mơ đến những dự án tông đồ bao la, đã được lên kế hoạch cẩn thận, giống như những vị tướng bại trận! Nhưng đây chính là bác bỏ lịch sử của chúng ta trong tư cách là một Giáo Hội, vốn vinh hiển rõ ràng vì đó là một lịch sử của sự hy sinh, của những niềm hy vọng và những vật lộn thường nhật, của những mảnh đời dành để phục vụ và trung thành làm việc, mỏi mệt như nó là, vì tất cả mọi công việc đều là ‘mồ hôi của lao công con người chúng ta’”[5]. Tôi lo lắng khi tôi thấy các cộng đoàn lo lắng nhiều về hình ảnh của họ, về việc chiếm lấy không gian, về những vẻ bề ngoài và sự nổi tiếng, hơn là việc ra đi để chạm vào nỗi thống khổ của người tín hữu của chúng ta.

Những lời cảnh báo của một vị thánh người Chile đã nói thì mang tính kiếm tìm và đầy sự hiểu biết là dường nào: “Tất cả mọi phương pháp sẽ thất bại là những phương pháp được áp đặt bởi tình trạng đồng phục, những phương pháp cố gắng để đưa chúng ta đến với Thiên Chúa bằng việc làm cho chúng ta lãng quên về những anh chị em của chúng ta, những phương pháp làm cho chúng ta nhắm mắt lại trước hoàn vũ thay vì dạy cho chúng ta mở ra cho hoàn vũ và đưa hết mọi sự về cho Đấng Tạo Thành mọi sự, những phương pháp làm cho chúng ta trở nên ích kỷ và khép kín ở nơi chính mình”.[6]

Dân Thiên Chúa không mong đợi cũng chẳng cần chúng ta trở thành những siêu anh hùng. Họ mong đợi các vị mục tử, những người thánh hiến, là những người biết lòng thương cảm nghĩa là gì, những người có thê giúp đỡ, những người có thể dành thời gian với những người đã sa ngã và, giống như Chúa Giêsu, giúp họ thoát ra khỏi tình trạng nguyền rủa bất tận ấy vốn đang làm băng hoại linh hồn.

3. Phêrô được biến hình

Chúa Giêsu mời gọi Phêrô biện phân, và những biến cố trong cuộc đời của Phêrô sau đó bắt đầu qui về nhau, giống như cử chỉ mang tính ngôn sứ của việc rửa chân. Phêrô, một người chống cự lại việc được rửa chân, giờ đây bắt đầu hiểu rằng sự cao cả đích thực xuất phát từ việc trở nên thấp hèn và trở nên một người tôi tớ.[7]

Chúa thật là một vị thầy nhân lành biết bao! Nghĩa cử mang tính ngôn sứ của Chúa Giêsu nói đến một Giáo Hội mang tính ngôn sứ mà, khi được rửa sạch tội lỗi mình, thì không sợ đi ra để phục vụ một nhân loại đang bị thương tổn.

Phêrô kinh nghiệm được nơi thân xác ông vết thương của tội lỗi, nhưng cũng là chính những giới hạn và những yếu hèn của ông. Nhưng rồi ông học từ Chúa Giêsu là các vết thương của ông có thể là một con đường của sự phục sinh. Để biết cả Phêrô bị nản lòng và Phêrô được biến đổi là một lời mời gọi để đi từ việc là một Giáo Hội của người bất hạnh và nản lòng đến một Giáo Hội đang phục vụ tất cả mọi người đang bất hạnh và nản lòng ở giữa chúng ta. Một Giáo Hội có khả năng phục vụ Chúa của mình nơi những người đang đói, bị giam tù, đang khát, vô gia cư, mình trần và bệnh tật... (Mt 25:35). Sự phục vụ vốn chẳng có liên hệ gì đến một não trạng an sinh hoặc một thái độ mang chủ nghĩa phụ tử, mà hơn thế bằng một sự hoán cải tâm hồn. Vấn đề không phải là cho người nghèo ăn, cho người mình trần mặc và thăm viếng người bệnh, mà là nhìn nhận rằng người nghèo, người mình trần, người đau bệnh, người tù đày và người vô gia cư có phẩm giá để ngồi cùng bàn với chúng ta, để cảm thấy “như ở nhà” nơi chúng ta, để cảm thấy là một phần của gia đình. Đây là dấu chỉ là nước Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta. Đấy là dấu chỉ về một Giáo Hội bị tổn thương vì tội lỗi, được Thiên Chúa tỏ lòng xót thương, và được lời mời gọi của Ngài làm cho trở nên mang tính ngôn sứ.

Canh tân lại tính ngôn sứ là canh tân lại sự dấn thân của chúng ta để không mong đợi một thế giới lý thưởng, một cộng đoàn lý tưởng, hay một người môn đệ lý tưởng để có thể sống và truyền giáo, nhưng hơn thế là làm cho tính ngôn sứ ấy trở nên khả thể đối với người nản lòng để được gặp gỡ Chúa Giêsu. Một người không yêu thích những hoàn cảnh lý tưởng hay các cộng đoàn lý tưởng; một người yêu thương con người.

Sự nhìn nhận thẳng thắn, đầu buồn đau và nguyện cầu về những giới hạn của chúng ta, ngoài việc tách chúng ta ra khỏi Thiên Chúa, còn giúp chúng ta trở về với Chúa Giêsu trong sự nhận biết rằng “với sự mới mẻ của Ngài, Ngài luôn có thể đổi mới đời sống chúng ta và cộng đoàn của chúng ta, và ngay cả khi thông điệp Kitô Giáo đã được biết đến giữa những thời kỳ tăm tối và sự yếu đuối của Giáo Hội, thì sự mới mẻ này vẫn không trở nên già cỗi.... Bất cứ khi nào chúng ta nỗ lực để trở về với cội nguồn và khôi phục lại sự tươi mới nguyên thủy của Tin Mừng, thì những địa điểm mới sẽ xuất hiện, những con đường mới của sự sáng tạo sẽ mở ra, với những hình thức thể hiện khác nhau, những dấu chỉ và lời rõ ràng hơn với ý nghĩa mới cho thế giới ngày nay”.[8] Thật tốt lành biết bao để tất cả chúng ta biết để cho Chúa Giêsu biến đổi tâm hồn chúng ta.

Khi cuộc gặp gỡ này bắt đầu, tôi đã nói với các bạn là chúng ta đến để canh tân lại tiếng “vâng” của chúng ta, bằng lòng nhiệt thành, bằng niềm đam mê. Chúng ta muốn canh tân lại tiếng “vâng” của mình, nhưng như là một tiếng “vâng” thực tế, được nuôi dưỡng bởi cái nhìn của Chúa Giêsu. Khi các bạn trở về nhà mình, tôi xin các bạn hãy vẽ lên trong tâm hồn các bạn một kiểu giao ước thiêng liêng, theo những lời mà Đức Hồng Y Raúl Silva Henríquez và lời cầu nguyện tuyệt vời của Ngài thế này:

Giáo Hội mà con yêu là Giáo Hội thánh thiện mỗi ngày...Giáo Hội của Chúa, của con, Giáo Hội thánh thiện mỗi ngày...

Chúa Giêsu Kitô, Tin Mừng, bánh, Thánh Thể, Thân Mình khiêm hạ của Đức Kitô mỗi ngày. Với những diện mạo của người nghèo, những diện mạo của những người nam nữ đang hát, đang đấu tranh, đang đau khổ. Giáo Hội thánh thiện mỗi ngày.

Đâu là kiểu Giáo Hội mà các bạn yêu? Các bạn có yêu Giáo Hội bị thương tích này vốn đang gặp gỡ sự sống nơi các thương tích của Chúa Giêsu không?

Xin cám ơn các bạn vì buổi gặp gỡ này. Xin cám ơn các bạn vì cơ hội để nói vâng một lần nữa với các bạn. Xin Mẹ Núi Carmel che chở các bạn dưới áo choàng của Mẹ. Xin vui lòng, đừng quên cầu nguyện cho tôi.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Vatican News)

 

[1] Jorge M. Bergoglio, Las Cartas de la tribulación, 9, ed. Diego de Torres, Buenos Aires, 1987.

[2] Ibid.

[3] Video Message to CELAM for the Extraordinary Jubilee of Mercy on the American Continent, 27 August 2016.

[4] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium, 94.

[5] Ibid., 96.

[6] SAINT ALBERTO HURTADO, Address to the Young People of Catholic Action, 1943.

[7] “Whoever wants to be first must be last of all and servant of all” (Mk 9:35).

[8] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium, 11