Skip to main content
Người dân Châu Phi đang di dân qua biển địa trung hải (AFP)

ĐGH Phanxicô - Sứ Điệp Ngày Thế Giới Di Dân và Tị Nạn 2017

“Đón tiếp, bảo vệ, cổ võ và tháp nhập người di dân và tị nạn”

Anh Chị Em Thân Mến!

“Khi có khách lạ ngụ nhờ xứ các ngươi, các ngươi sẽ không bức hiếp: như một người bản hương trong các ngươi, các ngươi sẽ xử đãi người khách ngụ cư nơi các ngươi; ngươi sẽ mến yêu nó như chính mình ngươi vì ngươi cũng đã là khách ngụ cư nơi đất Aicập. Ta là Yavê, Thiên Chúa của các ngươi” (Lv 19:34).

Trong suốt những năm đầu tiên của triều đại giáo hoàng của tôi, tôi đã liên tục nói lên sự quan tâm đặc biệt của tôi đối với tình trạng đáng than khóc củ nhiều người di dân và tị nạn đang chạy thoát khỏi chiến tranh, bách hại, và thảm hoạ thiên nhiên và đói nghèo. Hoàn cảnh này không hoài nghi gì là “một dấu chỉ của thời đại” mà tôi đang nỗ lực để hiểu, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, kể từ chuyến thăm của tôi đến Lampedusa vào ngày 08/07/2013. Khi tôi thiết lập Bộ mới về Cổ Võ Sự Phát Triền Toàn Diện Con Người, tôi muốn có một bộ phận đặc biệt – dưới sự chỉ đạo của cá nhân tôi theo thời gian – để nói lên sự quan tâm của Giáo Hội đối với người di dân, người bị trục xuất, những người tị nạn và các nạn nhân của nạn buôn người.

Mỗi một người khách lạ gõ cửa nhà chúng ta là một dịp để gặp gỡ Đức Giêsu Kitô, Đấng đã đồng hoá với người khách lạ được đón tiếp và bị khước từ của mọi thời đại (Mt 25:35-43). Chúa đã uỷ thác cho tình yêu mẫu tử của Giáo Hội mọi người bị buộc phải rời khỏi quê hương mình để tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn.[1] Tình liên đới này phải được thể hiện cách cụ thể ở mọi giai đoạn của kinh nghiệm di dân – từ khởi hành qua hành trình đến điểm đến và trở về. Đây là một trách nhiệm lớn lao, mà Giáo Hội có ý chia sẻ với hết mọi người tín hữu và những người nam nữ thiện chí, những người được mời gọi để trả lời trước nhiều thách đố của cuộc di dân đương đại bằng lòng quảng đại, sự mau chóng, sự khôn ngoan và tầm nhìn, mỗi người theo các khả năng của riêng họ.

Theo đó, tôi muốn khẳng định lại rằng “sự đáp trả chung của chúng ta có thể được khơi dậy bởi bốn động từ: đón tiếp, bảo vệ, cổ võ và tháp nhập”.[2]

Nói về tình hình hiện tại, đón tiếp, trên hết có nghĩa là mang lại những chọn lựa rộng hơn cho những người di dân và tị nạn để đi vào những ngước điểm đến một cách an toàn và hợp pháp. Điều này mời gọi một sự dấn thân cụ thể để gia tăng và đơn giản hoá qui trình cấp thị thực nhân đạo và cho việc đoàn tụ các gia đình. Đồng thời, tôi hy vọng rằng nhiều nước sẽ áp dụng những chương trình tài trợ riêng và cộng đồng, và mở ra những hành lang nhân đạo cho những người tị nạn đặc biệt bị tổn thương. Hơn nữa, những loại thị thực xã hội đương thời cần phải được cấp cho những người trốn thoát mâu thuẫn ở các nước lân cận.  Trục xuất có chọn lọc và tuỳ tiện những người di dân và tị nạn thì không phải là những giải pháp phù hợp, đặc biệt nơi mà những người dân được trở về với những quốc gia mà họ không thể được đảm bảo một sự tôn trọng phẩm giá con người và các quyền căn bản. [3] Một lần nữa, tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mang lại cho người di dân và tị nạn đầy đủ nơi ở phù hợp với phẩm giá. “Càng có nhiều các chương trình đón tiếp rộng khắp, đã được khởi động ở nhiều nơi khác nhau, thì dường như là ưu tiên cho cuộc gặp gỡ cá nhân và giúp cho chất lượng phục vụ tốt hơn và sự đảm bảo ngày càng gia tăng về sự thành công”.[4] Nguyên tắc đặt trọng tâm vào con người, được xác định mạnh mẽ bởi Vị Tiền Nhiệm yêu quý của tôi là Đức Benedict XVI, [5] buộc chúng ta phải luôn ưu tiên cho sự an toàn cá nhân trên sự an toàn của quốc gia. Do đó, thật cần thiết để đảm bảo rằng các cơ quan đang chịu trách nhiệm về kiểm soát biên giới được đào luyện cách phù hợp. Tình hình của những người di dân, những người tìm kiếm tị nạn và những người tị nạn đòi hỏi rằng họ phải được đảm bảo sự an toàn cá nhân và được dùng các dịch vụ căn bản. Vì phẩm giá nền tảng của mọi người, chúng ta phải nỗ lực để tìm các giải pháp thay thế để duy trì những người đang đi vào một đất nước mà không được quyền. [6]

Động từ thứ hai – bảo vệ - có thể được hiểu là hàng loạt các bước có ý để bảo vệ quyền và phẩm giá của người di dân và tị nạn, độc lập về tình trạng hợp pháp của họ.[7] Sự bảo vệ như thế bắt đầu tại nước quê hương, và bao gồm trong việc mang lại thông tin đáng tin cậy và đúng đắn trước khi khởi hành, và trong việc mang lại sự an toàn khỏi một thụ tục phi pháp. [8] Điều này phải đang diễn ra, càng nhiều càng tốt, ở các nước di dân, đảm bảo cho họ sự trợ giúp tư vấn đủ, quyền để một cách cá nhân có được những giấy tờ tuỳ thân của họ vào mọi lúc, sự dự phần công bằng vào công lý, khả năng mở tài khoản ngân hàng, và một sự tiện nghi tối thiểu để sống. Khi được công nhận và đánh giá đúng mức, thì những tiềm năng và kĩ năng của người di dân, người tìm kiếm tị nhạn và những người tị nạn là một nguồn lực thật sự của những cộng đồng vốn đón tiếp họ. [9] Đây là lý do vì sao mà tôi hy vọng rằng, ở các nước đến, người di dân có thể được phép tự do đi lại, cơ hội việc làm, và sử dụng các tiện nghi giao tiếp, vì sự tôn trọng phẩm giá của họ. Đối với những người quyết định trở về quê hương của họ, tôi muốn nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển các chương trình tái tháp nhập xã hội và nghề nghiệp. Tổ Chức Quốc Tế Về Quyền Trẻ Em sẽ mang lại một nền tảng pháp lý để bảo vệ những người di dân dưới tuổi qui định. Những người này phải được nằm trong bất cứ một hình thức lưu giữ nào có liên hệ đến tình trạng di dân, và phải được đảm bảo việc tham gia cách đầy đủ vào việc giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Một cách bình đẳng, khi chúng đến tuổi thì chúng phải được đảm bảo quyền để tiếp tục và vui hưởng cơ hội để tiếp tục việc học của chúng. Các chương trình quản thúc hay nuôi dưỡng hiện nay cần phải được cung cấp cho những trẻ nhỏ không có người đồng hành và những trẻ nhỏ  bị tách ra khỏi gia đình của chúng. [10] Quyền toàn cầu đối với một quốc tịch phải được nhìn nhận và chứng nhận cách đầy đủ đối với tất cả các trẻ em được sinh ra. Tình trạng vô nhà nước mà người di dân và tị nạn đôi khi bị rơi vào có thể dễ dàng tránh được bằng việc áp dụng “pháp lý quốc tịch vốn đang phù hợp với các nguyên tắc nền tảng của luật pháp quốc tế”. [11] Tình trạng di dân cần phải không giới hạn trước các chương trình bảo hiểm y tế và lương quốc gia, cũng không ảnh hưởng đến việc chuyển phần đóng góp của họ nếu họ hồi hương.

Cổ võ nhất thiết có nghĩa là một nỗ lực đầy quyết tâm để đảm bảo rằng tất cả mọi người di dân và tị nạn – cũng như là các cộng đồng đang đón tiếp họ - được trao quyền để đạt được khả năng của họ trong tư cách là con người, trong tất cả mọi chiều kích vốn thiết lập nên nhân loại này như Đấng Tạo Hoá đã tiền định. [12] Trong số những điều này, chúng ta phải nhìn nhận giá trị thật của chiều kích tôn giáo, đảm bảo cho hết mọi người ngoại quốc ở bất cứ một đất nước nào quyền tự do niềm tin và thực hành tôn giáo. Nhiều người di dân và tị nạn có các khả năng vốn phải được nhìn nhận và đánh giá cách đúng đắn. Bởi vì “công việc, về bản chất, có nghĩa là làm cho mọi dân tộc hiệp nhất”, [13] Tôi khích lệ một sự nỗ lực quyết tâm để cổ võ sự bao gồm về mặt xã hội và nghề nghiệp của người di dân và tị nạn, đảm bảo cho hết mọi người – gồm cả những người tìm kiếm tị nạn – cơ hội việc làm, thiết chế ngôn ngữ và quyền công dân, cùng với thông tin đủ được cung cấp theo tiếng mẹ đẻ của họ. Đối với những trường hợp người dân dưới tuổi thành niên, thì sự liên hệ của chúng vào lao động phải được qui định để tránh sự khai thác và các mối nguy cho sự trưởng thành và sự phát triển bình thường của chúng. Năm 2006, Đức Giáo Hoàng Benedict XVI đã nhấn mạnh, trong bối cảnh di dân, gia đình là “một nơi và nguồn lực của nền văn hoá sự sống và một yếu tố của sự tháp nhập các giá trị thế nào”. [14] Đạo đức gia đình phải luôn luôn được cổ võ, hỗ trợ các cuộc đoàn tụ gia đình – gồm cả ông bà, con cháu và anh chị em – độc lập khỏi những đòi buộc về tài chính. Những người di dân, người tìm kiếm tị nạn và người tị nạn với các khuyết tật phải được trao ban sự trợ giúp và hỗ trợ nhiều hơn.  Trong khi tôi nhìn nhận những nỗ lực đáng khen ngợi, cho đến nay, của nhiều nước, theo nghĩa sự hợp tác quốc tế và cứu trợ nhân đạo, thì tôi hy vọng rằng việc mang lại sự trợ giúp này sẽ xem xét đến những nhu cầu (như sự trợ giúp y tế và xã hội, cũng như là giáo dục) cảu các nước đang phát triển vốn đang tiếp nhận một dòng chảy quan trọng của những người di dân và tị nạn. Tôi cũng hy vọng rằng các cộng đồng địa phương nội tại vốn đang mỏng giòn và đang đối diện với sự khó khăn về tài chính, sẽ được gồm vào trong số những người được thừa hưởng sự cứu trợ”. [15]

Động từ cuối cùng – tháp nhập – có liên quan đến các cơ hội cho sự phong phú về liên văn hoá mà sự hiện diện của người di dân và tị nạn mang lại. Sự tháp nhập không phải là “một sự đồng hoá dẫn người di dân đến chỗ đè nén hay quên đi căn tính văn hoá của họ. Hơn thế, liên hệ với người khác dẫn đến việc khám phá “bí mật” của họ, mở ra cho họ để đón nhận các khía cạnh có giá trị của họ và do đó góp phần hiểu biết lẫn nhau tốt hơn. Đây là một quá trình dài nhằm hình thành lên các xã hội và các nền văn hoá, làm cho chúng ngày càng là một sự phản ảnh của những quà tặng đa diện của Thiên Chúa đối với con người”. [17] Tiến trình này có thể được gia tăng bởi việc ban quyền công dân miễn phí hoặc những đòi hỏi ngôn ngữ, và bằng việc mang lại cơ hội pháp lý đặc biệt cho người di dân đã khai một thời gian sống lâu dài tại đất nước sở tại. Tôi nhắc lại sự cần thiết để nuôi dưỡng một nền văn hoá gặp gỡ bằng mọi giá có thể - bằng việc gia tăng các cơ hội trao đổi liên văn hoá, cung cấp tài liệu và phổ biến các thực hành tháp nhập tốt nhất, và phát triển các chương trình để chuẩn bị cho các cộng đồng địa phương các tiến trình tháp nhập. Tôi mong muốn nhấn mạnh trường hợp đặc biệt của người bị buộc phải bỏ đất nước của họ để đến nước sở tại vì một cuộc khủng hoảng nhân đạo. Những người này phải được đảm bảo sự trợ giúp đầy đủ để hồi hương và các chương trình tái tháp nhập hiệu quả tại các nước quê hương của họ.

Cùng với truyền thống mục vụ của mình, Giáo Hội sẵn sàng dân thân để đưa ra hết mọi sáng kiến đã được đề xuất ở trên. Nhưng để đạt được kết quả mong muốn, sự đóng góp của các cộng đồng chính trị và xã hội dân sự là không thể thiếu, mỗi người theo các trách nhiệm của riêng mình.

Tại Hội Nghị Thượng Đỉnh Liên Hiệp Quốc được tổ chức tại New York ngày 29/09/2016, các nhà lãnh đạo thế giới đã thể hiện mong muốn của họ cách rõ ràng để thực hiện hành động dứt khoát trong việc hỗ trợ người di dân và tị nạn để cứu lấy mạng sống của họ và bảo vệ các quyền của họ, chia sẻ trách nhiệm này ở cấp độ toàn cầu. Đối với mục đích này, các nhà nước dân thân để soạn thảo và phê chuẩn, trước khi kết thúc năm 2018, hai Hiệp Ước Toàn Cầu, một dành cho người tị nạn và một cho người di dân.

Anh chị em thân mến, dưới ánh sáng của những tiến trình này đang được thực hiện, những tháng tiếp theo sẽ mang lại một dịp để cổ võ và ủng hộ những hành động cụ thể mà tôi đã mô tả bằng bốn động từ. Do đó, tôi mời gọi anh chị em, hãy tận dụng mọi dịp để chia sẻ thông điệp này với các nhà hoạt động chính trị và xã hội có liên hệ (hoặc những người tìm cách để liên hệ vào) trong tiến trình vốn sẽ dẫn đến sự phê chuẩn hai Hiệp Ước Toàn Cầu này.

Hôm nay, ngày 15/08, chúng ta cử hành Lễ Trọng Mẹ Maria Hồn Xác Lên Trời. Mẹ Thiên Chúa đã tự kinh nghiệm được nỗi khó khăn của cuộc lưu đày (Mt 2:13-15), đồng hành cách yêu thương cuộc hành trình của Con Mẹ đến Đồi Can-vê, và giờ đây chia sẻ vinh quang vĩnh cửu với Ngài. Trước sự bầu cử mẫu tử của Mẹ, chúng ta tín thác mọi niềm hy vọng của tất cả mọi người di dân và tị nạn và các động lực của các cộng đồng trên thế giới sẽ đón tiếp họ cho Mẹ, để, đáp lại lệnh truyền tối thượng của Chúa, tất cả chúng ta sẽ học cách để yêu thương nhau, người khách lạ, như chính bản thân mình.

Vatican, 15/08/2017

Lễ Trọng Thể Mừng Kính Mẹ Maria Hồn Xác Lên Trời

GIÁO HOÀNG PHANXICÔ

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Vatican Radio)

 

[1] Cf. Pius XII, Apostolic Constitution Exsul Familia, Titulus Primus, I.

[2] Address to Participants in the International Forum on “Migration and Peace”, 21 February 2017.

[3] Cf. Statement of the Permanent Observer of the Holy See to the 103rd Session of the Council of the IOM, 26 November 2013.

[4] Address to Participants in the International Forum on “Migration and Peace”, 21 February 2017.

[5] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate, 47.

[6] Cf.  Statement of the Permanent Observer of the Holy See to the 20th Session of the UN Human Rights Council, 22 June 2012.

[7] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate, 62.

[8] Cf. Pontifical Council for the Pastoral Care of Migrants and Itinerant People, Instruction Erga Migrantes Caritas Christi, 6.

[9] Cf. Benedict XVI, Address to the Participants in the 6th World Congress for the Pastoral Care of Migrants and Itinerant People, 9 November 2009.

[10] Cf. Benedict XVI, Message for the World Day of Migrants and Refugees (2010) and Statement of the Permanent Observer of the Holy See to the 26th Ordinary Session of the Human Rights Council on the Human Rights of Migrants, 13 June 2014.

[11] Pontifical Council for the Pastoral Care of Migrants and Itinerant People and Pontifical Council Cor Unum, Welcoming Christ in Refugees and Forcibly Displaced Persons, 2013, 70.

[12] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 14.

[13] John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 27.

[14] Benedict XVI, Message for the World Day of Migrants and Refugees (2007).

[15] Cf. Pontifical Council for the Pastoral Care of Migrants and Itinerant People and Pontifical Council Cor Unum, Welcoming Christ in Refugees and Forcibly Displaced Persons, 2013, 30-31.

[16] John Paul II, Message for the World Day of Migrants and Refugees (2005).