Skip to main content
Đoàn người di dân trong trại tị nạn ở Slovenia (ibtimes.co.uk)

ĐGH Phanxicô - Thông Điệp Ngày Thế Giới Hòa Bình 2018

Người Di Dân và Tị Nạn: Những người nam nữ tìm kiếm hòa bình

1. Những lời chúc tốt lành dành cho hòa bình

Bình an cho hết mọi dân tộc và mọi quốc gia trên trái đất! Bình an, điều mà các thiên thân loan báo cho các mục đồng vào đêm Giáng Sinh,[1] là một động lực sâu sắc cho mọi người, cho mỗi cá nhân và cho hết mọi dân tộc, và đặc biệt là cho những người đang phải chịu sự vắng bóng của hòa bình cách sâu sắc. Trong số những người mà tôi thường nhớ trong tư tưởng và lời cầu nguyện, một lần nữa tôi đề cập đến 250 triệu người di dân trên khắp thế giới, mà trong số đó có 22.5 triệu người là tị nạn. Đức Giáo Hoàng Benedict XVI, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, đã nói về họ là “những người nam nữ, trẻ em, người trẻ và người lớn tuổi, là những người đang tìm kiếm một nơi khác để sống trong hòa bình”.[2] Để tìm kiếm sự bình an đó, thì họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro mạng sống của họ trên một hành trình vốn thường quá dài và gian lao, để chịu đựng những khó khăn và đau khổ, và gặp gỡ những rào cản và bức tường được dựng nên để ngăn chặn họ khỏi mục tiêu của mình.

Trong tinh thần thương cảm, chúng ta hãy đón nhận tất cả mọi người chạy thoát chiến tranh và nạn đói, hoặc bị ép buộc vì sự phân biệt đối xử, bách hại, nghèo nàn và sự suy thoái môi trường để phải rời khỏi quê hương của mình.

Chúng ta biết rằng chỉ mở tâm hồn chúng ta ra trước nỗi khổ của người khác thì chưa đủ. Còn nhiều điều cần phải được thực hiện trước khi người anh chị em của chúng ta có thể một lần nữa sống cách hòa bình tại một quê hương an toàn. Việc đón tiếp người khác đòi hỏi một sự dấn thân cụ thể, một mạng lưới trợ giúp và thiện chí, sự chú tâm đầy tỉnh thức và đồng cảm, sự quản trị có trách nhiệm những hoàn cảnh mới và phức tạp mà đôi khi kết hợp nhiều vấn đề đang tồn tại, để chẳng nói gì về các nguồn tài nguyên, vốn luôn luôn là bị giới hạn. Bằng việc thực thi đức tính cẩn trọng, các nhà lãnh đạo chính phủ cần phải thực hiện các biện pháp thực tế để đón tiếp, cổ võ, bảo vệ, tháp nhập và, “trong những giới hạn cho phép bởi một sự hiểu biết đúng về thiện ích chung, cho phép họ trở thành một thành phần của xã hội mới”.[3] Các nhà lãnh đạo có một trách nhiệm rõ ràng trước những cộng đồng của riêng họ, mà các quyền lợi hợp pháp và sự phát triển hòa hợp mà họ phải đảm bảo, thì chớ gì họ không trở thành một người xây dựng hà khắc là người tính toán sai lầm và thất bại trong việc hoàn tất tòa tháp mà người ấy đã bắt đầu xây dựng”.[4]

2. Tại sao lại có quá nhiều người di dân và tị nạn?

Khi Ngài nhìn đến Đại Năm Thánh đánh dấu đoạn đường của hai ngàn năm kể từ khi việc loan báo sự bình an được các sứ thẩn khởi sự tại Bethlehem, Thánh Gioan Phaolô II đã nói đến con số ngày càng gia tăng về số người di tản như là một trong những hậu quả của “kết quả vô định và đáng kinh sợ của các cuộc chiến, mâu thuẫn, diệt chủng và thanh trừng sắc tộc”[5] vố đã là nét đặc trưng của thế kỷ 20. Cho đế ngày nay, một hế kỷ mới đã chẳng có gì là đột phá thật sự: những mâu thuẫn vũ trang và các hình thức bạo lực có tổ chức khác vẫn đang tiếp tục tạo nên phong trào các dân bên trong và bên ngoài biên giới quốc gia.

Tuy nhiên người ta cũng di dân vì những lý do khác nữa, về nguyên tắc vì họ “mong muốn một đời sống tốt đẹp hơn, và không thường xuyên là nỗ lực để lại phía sau ‘sự vô vọng’ của một tương lai không hứa hẹn”.[6] Họ ra đi để đoàn tụ với gia đình của họ hay để tìm kiếm những cơ hội nghề nghiệp và giáo dục, vì những người này không thể vui hưởng các quyền của họ để được sống trong hòa bình. Hơn thế, như tôi đã nhấn mạnh trong Tông Thư Laudato Si’, có “một sự gia tăng bi đát về mặt số lượng những người di dân đi tìm kiếm sự trốn thoát khỏi tình trạng nghèo ngày càng gia tăng bởi sự suy thoái môi trường”.[7]

Đa số người dân di dân qua các kênh thông thường. Tuy nhiên, một số người lại chọn những con đường khác, chủ yếu vì tuyệt vọng, khi đất nước của họ không mang lại sự an toàn cũng như cơ hội, và mọi con đường hợp pháp đều dường như không thực tế, bị ngăn chặn hoặc quá chậm chạp.

Nhiều đất nước điểm đến đã cho thấy một sự lan rộng lối biện minh bác bỏ những mối nguy được đặt ra cho tình trạng an ninh quốc gia hoặc chi phí cao của việc đón tiếp người mới, và bằng việc làm như thế đang có nghĩa là làm hạ thấp phẩm giá con người xứng với tất cả mọi người trong tư cách là con trai và con gái của Thiên Chúa. Những người mà, có lẽ vì những lý do chính trị, lại làm gia tăng nỗi sợ người di dân thay vì xây dựng hòa bình thì lại gieo sự bạo lực, sự phân biệt đối xử sắc tộc, và bệnh sợ người nước ngoài, vốn là những vấn đề quan ngại lớn đối với tất cả mọi người đang quan tâm đến sự an toàn của con người nhân loại.[8]

Tất cả mọi dấu chỉ đều sẵn sàng đối với cộng đồng quốc tế cho thấy tình trạng di dân toàn cầu sẽ tiếp tục trong tương lai. Một số đang coi đây là một mối đe dọa. Về phần tôi, tôi xin các bạn hãy nhìn nó bằng niềm tin như là một cơ hội để xây dựng hòa bình.

3. Bằng cái nhìn chiêm niệm

Sự khôn ngoan của niềm tin nuôi dưỡng một cái nhìn chiêm niệm vốn nhìn nhận rằng tất cả chúng ta “đều thuộc về một gia đình, những người di dân và người dân địa phương vốn đón tiếp họ, và tất cả đều có cùng một quyền được vui hưởng tài nguyên của trái đất, mà đích điểm của nó mang tính phổ quát, như học thuyết xã hội của Giáo Hội dạy. Chính tại đây mà tình liên đới và sự chia sẻ được tìm thấy”.[9] Những lời này gợi lại hình hảnh của Thành Jerusalem mới. Sách Tiên Tri Isaia (Chương 60) và Sách Khải Huyền (Chương 21) mô tả thành với những chiếc cổng của nó luôn mở ra cho người thuộc mọi dân nước, những người kinh ngạc vì thành này và lấp đầy thành bằng những sự phong phú. Hòa bình là một đặc quyền vốn dẫn dắt thành và công lý là nguyên lý vận hành sự sống chung trong thành ấy.

Chúng ta phải hướng cái nhìn chiêm niệm này đến các thành phố nơi chúng ta sống, “một cái nhìn của niềm tin vốn nhìn thấy Thiên Chúa cự ngụ nơi những căn nhà của họ, nơi các đường phố và quảng trường của họ, [...] nuôi dưỡng tình huynh đệ, tình liên đới, và lòng muốn sự tốt lành, sự thật, và công lý” [10] – nói cách khác, chu toàn lời hứa hòa bình.

Khi chúng ta hướng cái nhìn ấy về phía người di dân và tị nạn, thì chúng ta sẽ khám phá ra rằng họ không đến với đôi bàn tay trắng. Họ mang theo với họ sự can đảm của họ, các kĩ năng, sức sống và động lực của họ, cũng như là quà tặng của nền văn hóa riêng họ, vốn làm phong phú đời sống của các quốc gia tiếp đón họ. Chúng ta cũng sẽ thấy sự sáng tạo, sự bền bỉ, và tinh thần hy sinh của biết bao nhiêu cá nhân, gia đình, cộng đồng trên khắp thế giới biết mở các cánh cửa của họ ra và tâm hồn họ ra cho người di dân và tị nạn, ngay cả nơi mà nguồn tài nguyên đang hiếm hoi.

Một cái nhìn mang tính chiêm niệm cũng sẽ hướng dẫn sự biện phân của những người có trách nhiệm về lợi ích công, và khích lệ họ theo đuổi những chính sách đón tiếp, “trong những giới hạn cho phép bởi một sự hiểu đúng về thiện ích chung” [11] – khi nhớ rằng, đó là nhu cầu của tất cả mọi thành viên của gia đình nhân loại và phúc lợi của mỗi người.

Những người nhìn mọi sự theo cách này sẽ có thể nhận ra được những hạt giống hòa bình vốn đang nảy mầm và nuôi dưỡng sự phát triển của họ. Các thành phố của chúng ta, thường bị chia rẽ và phân cực bởi những mâu thuẫn có liên quan đến sự hiện diện của người di dân và tị nạn, do đó sẽ biến thành những phân xưởng của hòa bình.

4. Bốn trụ cột cho hành động

Mang lại cho những người tìm kiến sự tị nạn, những người tị nạn, những người di dân và nạn nhân của nạn buôn người một cơ hội để tìm được sự bình an mà họ tìm kiếm đòi hỏi một chiến lược gồm bốn hành động: đón tiếp, bảo vệ, cổ võ và tháp nhập.[12]

“Đón tiếp” mời gọi việc mở rộng các hành lang pháp lý để đi vào và kh6ong còn đẩy người di dân và những người di tản đến các quốc gia mà họ sẽ phải đối diện với sự bách hại và bạo lực nữa. Việc này cũng đòi hỏi sự quân bình các mối quan tâm của chúng ta về an ninh quốc gia với mối quan tâm về nhân quyền nền tảng. Kinh Thánh nhắc nhớ chúng ta: “Anh em đừng quên tỏ lòng hiếu khách, vì nhờ vậy, có những người đã được tiếp đón các thiên thần mà không biết”.[13]

“Bảo vệ” có liên hệ đến bổn phận của chúng ta khi nhận biết và bảo vệ phẩm giá bất khả xâm phạm của những người đang chạy thoát khỏi những mối nguy trong khi tìm kiếm sự tị nạn và sự an toàn, và ngăn chặn họ khỏi việc bị bóc lột. Tôi nghĩ cách cụ thể đến những phụ nữ và trẻ em đang ở torng hoàn cảnh mà họ đang phải đối diện với những mối nguy và lạm dụng vốn thậm chí có liên quan đến tình trạng nô lệ. Thiên Chúa không phân biệt đối xử: “CHÚA phù trợ những khách ngoại kiều, Người nâng đỡ cô nhi quả phụ, nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân”.[14]

“Cổ võ” đi kèm với việc hỗ trợ sự phát triển con người toàn diện cho người di dân và tị nạn. Trong số nhiều phương thế khả thi của việc làm như thế, thì tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo sự tham gia vào tất cả mọi cấp độ giáo dục đối với trẻ em và giới trẻ. Điều này sẽ giúp cho chúng không chỉ nuôi dưỡng và nhận ra khả năng của chúng mà còn trang bị cho chúng tốt hơn khi gặp gỡ người khác và nuôi dưỡng một tinh thần đối thoại hơn là bác bỏ hay đối đầu. Kinh Thánh dạy rằng Thiên Chúa “Ðấng xử công minh cho cô nhi quả phụ, và yêu thương ngoại kiều, cho họ bánh ăn áo mặc. Anh em phải yêu thương ngoại kiều, vì anh em đã từng là ngoại kiều ở đất Ai-cập.”[15]

Sau cùng, “Tháp nhập”, có nghĩa là giúp cho người di dân và tị nạn được tham gia hoàn toàn vào trong đời sống của xã hội đón tiếp họ, như là một phần của tiến trình làm phong phú nhau và sự hợp tác sinh hoa trái trong việc phục vụ sự phát triển con người toàn diện của cộng đồng địa phương. Thánh Phaolô thể hiện điều này trong những lời sau: “Vậy anh em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú, nhưng là người đồng hương với các thánh, và là người nhà của Thiên Chúa”.[16]

5. Một đề xuất cho các hiệp định quốc tế

Niềm hy vọng trong thẳm sâu trái tim tôi là tinh thần này sẽ hướng dẫn tiến trình mà trong năm 2018 này sẽ dẫn dắt Liên Hiệp Quốc đến việc soạn thảo và phê chuẩn hai Hiệp Ước Toàn Cầu, một cho tình trạng di dân an toàn, trật tự và bình thường và một cho người tị nạn. Là những thỏa thuận chung ở cấp độ toàn cầu, những hiệp ước này sẽ mang lại một khuôn khổ cho những đề xuất chính sách và những biện pháp thực tế. Vì lý do này, các hiệp ước cần phải được gợi hứng bởi lòng thương cảm, sự tiên liệu, và lòng can đảm, để tận dụng mọi cơ hội để thăng tiến tiến trình xây dựng hòa bình. Chỉ bằng cách này thì chủ nghĩa thực tế cần thiết cho các chính sách quốc tế mới có thể tránh được việc đầu hàng trước chủ nghĩa hoài nghi và trước tình trạng toàn cầu hóa sự thờ ơ.

Đối thoại và hợp tác là một sự cần thiết và nghĩa vụ cụ thể đối với cộng đồng quốc tế. Vượt ra khỏi biên giới quốc gia, những con số ngày càng cao về người tị nạn có thể được đón nhận – hay được đón nhận tốt hơn – ngay cả với những nước ít thịnh vượng hơn, nếu sự hợp tác quốc tế đảm bảo cho các nước này nguồn ngân quĩ cần thiết.

Bộ Phận Di Dân và Tị Nạn của Thánh Bộ Phát Triển Con Người Toàn Diện đã công bố một loạt 20 điểm hành động mang lại những hướng dẫn cụ thể để áp dụng bốn động từ này trong chính sách công và nơi những thái độ và hoạt động của các cộng đồng Kitô Giáo.[17] Mục đích của bản hướng dẫn này và những đóng góp khác là để thể hiện sự quan tâm của Giáo Hội Công Giáo trong tiến trình dẫn đến việc áp dụng hai Hiệp Ước Toàn Cầu của Liên Hiệp Quốc. Sự quan tâm này là dấu chỉ của một sự quan tâm mục vụ mang tính phổ quát hơn vốn có nguồn gốc rất sớm của Giáo Hội và vẫn đang tiếp tục trong nhiều công việc của Giáo Hội cho đến nay.

6. Vì ngôi nhà chung của chúng ta

Chúng ta hãy lấy động lực từ những lời của Thánh Gioan Phaolô II: “Nếu ‘giấc mơ’ về một thế giới hòa bình được hết mọi người chia sẻ, và sự đóng góp của người di dân và tị nạn có thể được đánh giá đúng, thì nhân loại sẽ trở nên ngày càng thành một gia đình hoàn vũ hơn và trái đất của chúng ta trở thành một ‘ngôi nhà chung’ thật sự”.[18] Trong suốt dòng lịch sử, nhiều người đã tin vào “giấc mơ” này, và những thành tựu của họ là một lời chứng cho sự thật là đó không đơn thuần là một sự không tưởng.

Trong số những người này, chúng ta nhớ đến Thánh Frances Xavier Cabrini trong năm nay đánh dấu dịp kỷ niệm 100 năm ngày mất của Ngài. Vào ngày 13 tháng 11 này, nhiều cộng đoàn giáo hội tổ chức mừng kỷ niệm Ngài. Người phụ nữ xuất chúng này, người đã dành cả đời của mình để phục vụ người di dân và đã trở thành vị thánh bảo trợ của họ, đã dạy chúng ta biết đón tiếp, bảo vệ, cổ võ và tháp nhập anh em của chúng ta. Qua sự chuyển cầu của thánh nữ, Chúa sẽ giúp tất cả chúng ta kinh nghiệm được một “mùa gặt sự công chính được gieo trong hòa bình bởi những người kiến tạo hòa bình”.[19]

Làm từ Vatican, 13/11/2017

Kính Nhớ Thánh Frances Xavier Cabrini, Thánh Bổn Mạng Người Di Dân

Phanxicô

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ)

 

[1] Luca 2:14.

[2] Kinh Truyền Tin, 15/01/2012.

[3] GIOAN XXIII, Tông Thư Pacem in Terris, 106.

[4] Luca 14:28-30.

[5] Thông Điệp Ngày Thế Giới Hòa Bình 2000, 3…

[6] BENEDICT XVI, Thông Điệp Ngày Thế Giới Người Di Dân và Tị Nạn 2013

[7] No. 25.

[8] Cf. Diễn Từ Trước Các Giám Đốc Quốc Gia Ủy Ban Chăm Sóc Người Di Dân Thuộc Các Hội Đồng Giám Mục Châu Âu, 22/09/2017.

[9] BENEDICT XVI Thông Điệp Ngày Thế Giới Người Di Dân và Tị Nạn 2011.

[10] Tông Huấn Evangelii Gaudium, 71.

[11] GIOAN XXIII Tông Thư Pacem in Terris, 106.

[12] Thông Điệp Ngày Thế Giới Người Di Dân và Tị Nạn 2018.

[13] Do Thái 13:2.

[14] Thánh Vịnh 146:9.

[15] Đệ Nhị Luật 10:18-19.

[16] Ê-phê-xô 2:19.

[17] “Hai Mươi Điểm Hành Động Mục Vụ” và “Hai Mươi Điểm Hành Động Cho Hiệp Ước Toàn Cầu” (2017); cf. Văn Kiện LHQ A/72/528.

[18] Thông Điệp Ngày Thế Giới Người Di Dân và Tị Nạn 2004., 6.

[19] Gia-cô-bê 3:18