Skip to main content
ĐGH Phanxicô (Getty Images)

Tông Huấn Gaudete et Exsultate - Chương II - Hai Kẻ Thù Tinh Vi Của Sự Thánh Thiện

CHƯƠNG HAI

HAI KẺ THÙ TINH VI CỦA SỰ THÁNH THIỆN

35. Ở đây tôi muốn đề cập đến hai hình thức giả của sự thánh thiện có thể làm cho chúng ta lạc lối: chủ thuyết ngộ đạo và chủ thuyết pelagius. Chúng là hai thứ dị giáo từ những thời kỳ đầu của Kitô Giáo, nhưng chúng vẫn đang tiếp tục tàn phá chúng ta. Trong thời đại của chúng ta cũng thế, nhiều Kitô Hữu, có lẽ vì không nhận biết ra nó, có thể bị cám dỗ bởi những ý tưởng mang tính cám dỗ này, là những thứ vốn phản ánh một chủ nghĩa nội tâm nhân chủng ngụy trang như là một sự thật Công Giáo.[33] Chúng ta hãy nhìn vào hai hình thức an toàn mang tính giáo lý và kỷ luật này vốn tạo nên “một kiểu nhóm ưu tuyển tự yêu mình và toàn trị, từ đó thay vì truyền giáo, người ta phân tích và phân loại người khác, và thay vì mở cánh cửa ra cho ân sủng, người ta làm cạn kiệt sức mạnh của mình trong việc kiểm tra và xác minh. Trong cả hai trường hợp thì người ta không hề quan tâm đến Chúa Giêsu Kitô hay người khác”.[34]

CHỦ THUYẾT NGỘ ĐẠO ĐƯƠNG THỜI

36. Chủ thuyết ngộ đạo mang lấy “một niềm tin mang tính chủ quan thuần túy mà điều quan tâm duy nhất là một kinh nghiệm cụ thể hay một mớ các ý tưởng và nhiều thông tin vốn chỉ có ý để an ủi và soi sáng, nhưng là điều mà sau cùng làm cho người ta bị tù túng trong những tư tưởng và cảm nhận của riêng bản thân họ”.[35]

Một kiểu trí tuệ không có Thiên Chúa và không có xác thịt

37. Nhờ Thiên Chúa, trong toàn bộ lịch sử của Giáo Hội vẫn luôn rõ ràng là sự trọn hảo của một người thì không được đo lường bởi lượng thông tin hay kiến thức mà người ấy thủ đắc, mà bởi chiều sâu của lòng bác ái của họ. “Những người ngộ nhận” không hiểu điều này, vì họ phán xét người khác dựa trên khả năng hiểu sự phức tạp của những giáo lý nhất định của họ. Họ nghĩ về trí tuệ như một sự tách ra khỏi xác thịt, và do đó trở nên không có khả năng chạm vào thân thể đau khổ của Đức Kitô ở nơi người khác, bị khóa chặt như họ là trong một bộ từ điển bách khoa toàn thư của những thứ trừu tượng. Cuối cùng, bởi việc không mặc lấy mầu nhiệm, họ thích “một Thiên Chúa không có Đức Kitô, một Đức Kitô không có Giáo Hội, một Giáo Hội không có dân của mình hơn”.[36]

38. Chắc chắn đây là một ý tưởng hời hợt: có một sự chuyển động như thế trên bề mặt, nhưng tư tưởng thì vừa không được đánh động vưa không được ảnh hưởng sâu sắc. Tuy nhiên, chủ thuyết ngộ nhận có được một sự thu hút quyến rũ đối với một số người, bởi vì cách tiếp cận ngộ nhận là hà khắc và được cho là thuần khiết, và có thể dường như là thủ đắc được một sự hòa hợp hay trật tự vốn bao gồm hết mọi sự.

39. Ở đây chúng ta phải cẩn thận. Tôi không nói đến một nền lý luận trái với niềm tin Kitô Giáo. Điều đó có thể hiện diện trong Giáo Hội, cả nơi những giáo dân tại các giáo xứ và các thầy dạy triết học và thần học tại các trung tâm đào luyện. Những người ngộ nhận nghĩ rằng những giải thích của họ có thể làm cho niềm tin và Tin Mừng hoàn toàn có thể hiểu được cách hoàn hảo. Họ tuyệt đối hóa những lý thuyết của riêng họ và buộc người khác phải tuân thủ lối tư duy của họ. Việc sử dụng lý luận lành mạnh và khiêm nhường để suy tư về giáo huấn thần học và giáo lý của Tin Mừng là một lẽ. Lẽ khác là làm giảm giáo huấn của Chúa Giêsu thành một luận lý lạnh lùng và hà khắc vốn tìm cách thống trị mọi sự.[37]

Một giáo thuyết không có mầu nhiệm

40. Chủ thuyết ngộ nhận là một trong những ý thức hệ nham hiểm nhất vì, trong khi lạm dụng quá mức sự hiểu biết hay một kinh nghiệm cụ thể, thì nó tự coi tầm nhìn của chính nó về thực tại là hoàn hảo. Do đó, có lẽ ngay cả khi không nhận ra nó, thì ý thức hệ này đang tự nuôi dưỡng chính nó và thậm chí trở nên thiển cận hơn. Chủ thuyết ngộ nhận có thể trở nên hoàn toàn ảo tưởng hơn nữa khi nó tự ngụy trang chính nó như là một nền linh đạo không xác thân. Vì chủ thuyết ngộ nhận “bởi tự bản chất của nó đi tìm kiếm cách thuần hóa mầu nhiệm”,[38] bất luận là mầu nhiệm Thiên Chúa và ân sủng của Ngài, hay mầu nhiệm về sự sống của người khác.

41. Khi một người có câu trả lời cho mọi câu hỏi, thì đó là một dấu chỉ rằng họ đang không trên một con đường đúng. Họ rõ ràng là những ngôn sứ giả, người sử dụng tôn giáo cho các mục đích riêng của họ, để cổ võ cho những lý thuyết mang tính tâm lý hay trí tuệ của họ. Thiên Chúa trổi vượt trên chúng ta cách vô biên; Ngài đầy những kinh ngạc. Chúng ta không phải là những người quyết định khi nào và bằng cách nào gặp gỡ Ngài; thời gian và địa điểm chính xác của cuộc gặp gỡ ấy không thuộc về chúng ta. Có ai đó muốn mọi sự phải rõ ràng và chắc chắn thì đang giả định là kiểm soát sự trổi vượt của Thiên Chúa.

42. Kể cả chúng ta cũng không thể tuyên bố khi nói Thiên Chúa đang không ở đâu, vì Thiên Chúa đang hiện diện cách mầu nhiệm trong sự sống của mọi người, theo một cách thế là chính Thiên Chúa chọn lựa, và chúng ta không thể loại trừ điều này bởi những chắc chắn giả định của chúng ta. Ngay cả khi cuộc đời của ai đó có vẻ như hoàn toàn thất bại, ngay cả khi chúng ta thấy nó bị tàn phá bởi những thói hư hay những cơn nghiện, thì Thiên Chúa ở đó. Nếu chúng ta để cho bản thân chúng ta được Thần Khí dẫn dắt hơn là bởi những thiên kiến của chúng ta, thì chúng ta có thể và phải thấy Thiên Chúa ở nơi mọi sự sống con người. Đây là phần của mầu nhiệm mà một người có não trạng ngộ nhận không thể chấp nhận, bởi vì nó vượt quá sự kiểm soát của não trạng ấy.

Những giới hạn của lý luận

43. Thật không dễ dàng gì để hiểu được chân lý mà chúng ta lãnh nhận từ Thiên Chúa. Và thậm chí còn khó hơn nữa khi diễn tả chân lý ấy. Vì thế chúng ta không thể tuyên bố là cách hiểu của chúng ta về chân lý này trao quyền cho chúng ta thực thi một sự giám sát hà khắc trên đời sống của người khác. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh rằng trong Giáo Hội có sự đồng tồn tại cách hợp pháp những cách hiểu nhiều khía cạnh khác nhau về giáo lý và đời sống Kitô Giáo; trong sự đa dạng của họ, họ “giúp diễn đạt cách rõ ràng hơn những sự phong phú bao la của lời Thiên Chúa”. Đúng thật là “đối với những người đang khao khát một thân thể độc quyền về giáo lý được bảo vệ bởi tất cả mọi người và không có chỗ cho những sắc thái, điều này có thể dường như là không được mong muốn và dẫn đến sự xáo trộn”.[39] Thực vậy, một vài trào lưu của chủ thuyết ngộ đạo đã nguyền rủa sự đơn giản cụ thể của Tin Mừng và nỗ lực để thay thế Thiên Chúa ba ngôi và nhập thể bằng một Sự Hiệp Nhất cao hơn, mà từ đó sự đa dạn phong phú của lịch sử của chúng ta bị biến mất.

44. Trong thực tế, giáo lý, hay đúng hơn, sự hiểu biết và sự diễn tả của chúng ta về giáo lý, “không phải là một hệ thống khép kín, thiếu vắng khả năng năng động để đặt ra các câu hỏi, những hoài nghi, những tìm kiếm...Những câu hỏi của người dân của chúng ta, những nỗi thống khổ của họ, những đấu tranh của họ, những giấc mơ của họ, những thử thách của họ và những lo âu của họ, tất cả đều mang lấy một giá trị có thể giải thích mà chúng ta không thể phớt lờ nếu chúng ta muốn đón nhận nguyên tắc nhập thể cách nghiêm túc. Sự thắc mắc của họ sẽ giúp chúng ta biết thắc mắc, những câu hỏi của họ chất vấn chúng ta”.[40]

45. Một sự xáo trộn nguy hiểm có thể xuất hiện. Chúng ta có thể nghĩ rằng vì chúng ta biết điều gì đó, hoặc có thể giải thích điều đó theo một nghĩa nhất định nào đó, chúng ta là những vị thánh, hoàn hảo và giỏi hơn “đám đông ngu muội kia”. Thánh Gioan Phaolô II đã cảnh báo về cơn cám dỗ về phía những người trong Giáo Hội là những người được giáo dục cao hơn “cảm thấy một cách nào đó ở trên các thành viên khác của những tín hữu”.[41] Sự thật là, điều chúng ta nghĩ chúng ta biết luôn luôn thúc đẩy chúng ta đáp trả cách trung thành hơn nữa trước tình yêu của Thiên Chúa. Thật vậy, “bạn học để sống: thần học và sự thánh thiện không thể tách lìa”.[42]

46. Khi Thánh Phanxicô Assisi thấy rằng một số môn đệ của Ngài đang tham gia vào việc giảng dạy, thì Ngài muốn tránh cơn cám dỗ của thuyết ngộ đạo. Ngài viết cho Thánh Anthony Padua: “Tôi vui mừng là anh đang dạy thần học thánh cho các anh em, với điều kiện là...anh đừng dập tắt tinh thần cầu nguyện và thờ phượng trong việc nghiên cứu này”.[43] Thánh Phanxicô nhận ra cơn cám dỗ để biến kinh nghiệm Kitô Giáo thánh một mớ những suy tư thuộc trí tuệ vốn làm cho chúng ta xa lìa sự tươi mới của Tin Mừng. Thánh Bonaventure, mặt khác, chỉ ra rằng sự khôn ngoan Kitô Giáo đích thực không bao giờ có thể bị tách ra khỏi lòng thương xót dành cho người thân cận của chúng ta: “Sự khôn ngoan lớn lao nhất có thể là chia sẻ cách sinh hoa trái dồi dào điều mà chúng ta phải cho đi...Ngay cả khi lòng thương xót là một sự đồng hành của sự khôn ngoan, tham vọng là kẻ thù của sự khôn ngoan”.[44] “Có những hoạt động mà, khi hiệp nhất với sự chiêm niệm, thì không ngăn cản điều sau, mà thay vào đó lại tạo điều kiện cho nó, như những công việc của lòng thương xót và thờ phượng”.[45]

CHỦ THUYẾT PELAGIUS ĐƯƠNG ĐẠI

47. Chủ thuyết ngộ đạo thì mở lối cho một dị giáo khác, một trật đang hiện diện trong thời đại chúng ta hôm nay. Khi thời gian qua đi, nhiều người đi đến chỗ nhận biết rằng không phải sự hiểu biết làm cho chúng ta tốt hơn hay giúp cho chúng ta nên thánh, nhưng là kiểu đời sống mà chúng ta sống. Nhưng sự tinh vi này dẫn trở về với sai lỗi cũ của những người ngộ đạo, vốn chỉ được biến đổi hơn là loại bỏ.

48. Cùng một sức mạnh ấy mà những người ngộ đạo đã gán cho trí tuệ, thì giờ đây những người khác bắt đầu gán cho ý chí con người, cho sự nỗ lực cá nhân. Đây là trường hợp với những người theo thuyết Pelagius và những người bán-pelagius. Giờ đây không phải là trí tuệ chiếm vị trí của mầu nhiệm và ân sủng nữa, mà là ý chí con người của chúng ta. Họ đã quên rằng mọi sự “không phải vì muốn hay chạy vạy, nhưng vì được Thiên Chúa thương xót” (Rm 9:16) và rằng “Ngài yêu thương chúng ta trước” (x. 1 Ga 4:19).

Một ý chí thiếu sự khiêm nhường

49. Những người chạy theo não trạng pelagius hay bán-pelagius này, ngay cả khi họ nói thật nồng nhiệt về ân sủng của Thiên Chúa, “thì cuối cùng cũng chỉ tin vào những sức riêng của họ và cảm thấy ở trên cao hơn người khác vì họ tuân giữ những luật nhất định hoặc vẫn đang trung tín cách ngoan cường vói một phong cách Công Giáo đặc biệt”.[46] Khi một ai trong số họ nói với người yếu rằng mọi sự đều có thể đạt được với ân sủng của Thiên Chúa, thì tận thẳm sâu họ đang nỗ lực đưa ra ý tưởng là mọi sự đều có thể với ý chí của con người, như thể đó là một điều gì đó tinh tuyền, hoàn hảo, toàn năng, mà ân sủng được thêm vào. Họ thất bại không nhận ra rằng “không phải mọi người có thể làm được mọi sự”,[47] và rằng trong cuộc đời này những yếu đuối con người thì không được chữa lành hoàn toàn và một lần cho tất cả bởi ân sủng.[48] Trong mọi trường hợp, như Thánh Augustine đã dạy, Thiên Chúa truyền cho bạn làm điều mà bạn có thể và đòi hỏi điều bạn không thể,[49], và thực vậy hãy khiêm tốn cầu nguyện với Ngài: “Xin ban cho con điều Chúa truyền, và truyền điều mà Chúa muốn”.[50]

50. Sau cùng, sự thiếu sự nhìn nhận thật tâm và đầy cầu nguyện về những giới hạn của chúng ta sẽ ngăn cản ân sủng khỏi việc hoạt động cách hiệu quả hơn ở trong chúng ta, vì không còn chỗ cho việc mang lại sự tốt lành tiềm năng vốn là một phần của hành trình trưởng thành chân thành và đúng đắn.[51] Ân sủng, rõ ràng là vì nó xây dựng trên tự nhiên, không làm cho chúng ta trở thành siêu nhân ngay lập tức. Kiểu tư duy ấy sẽ cho thấy niềm tin thái quá vào những khả năng của chúng ta. Bên dưới nền chính thống của chúng ta, thì các thái độ của chúng ta phải không được đáp ứng lại cách nói của chúng ta về sự cần thiết đối với ân sủng, và trong những hoàn cảnh cụ thề chúng ta có thể mang lấy kết cục là đặt chút niềm tin vào đó. Nếu chúng ta không thể nhìn nhận tình trạng giới hạn và cụ thể của chúng ta, thì chúng ta sẽ không thể thấy những bước thật sự và khả thể mà Thiên Chúa đòi hỏi mỗi người chúng ta trong mọi thời khắc, một khi chúng ta được ân sủng của Ngài cuốn hút và trao ban sức mạnh. Ân sủng hoạt động trong lịch sử; bình thường thì ân sủng sẽ chiếm lấy chúng ta và làm cho chúng ta biến đổi cách tiệm tiến.[52] Nếu chúng ta khước từ thực tại mang tính lịch sử và mang tính tiệm tiến này, thì chúng ta thật sự có thể khước từ và ngăn chặn ân sủng, ngay cả khi chúng ta khen ngợi ân sủng bằng chính lời nói của chúng ta.

51. Khi Thiên Chúa nói với ông Abraham, Ngài nói với ông: "Ta là Thiên Chúa Toàn Năng. Ngươi hãy bước đi trước mặt Ta và hãy sống hoàn hảo” (St 17:1). Để trở nên hoàn hảo, như Ngài muốn chúng ta, thì chúng ta cần phải sống cách khiêm tốn trong sự hiện diện của Ngài, được chìm vào trong vinh quang của Ngài; chúng ta cần phải bước đi trong sự hiệp nhất với Ngài, nhận ra tình yêu liên lỉ của Ngài trong đời sống của chúng ta. Chúng ta cần phải đánh mất sự sợ hãi của chúng ta trước sự hiện diện ấy vốn chỉ có thể là phần ích cho chúng ta. Thiên Chúa là Cha là Đấng ban cho chúng ta sự sống và yêu thương chúng ta quá đỗi. Một khi chúng ta đón nhận Ngài, và ngừng lại việc nỗ lực để sống cuộc sống của chúng ta mà không có Ngài, thì nỗ đắng cay của sự cô đơn sẽ tan biến (x. Tv 139:23-24). Và bằng cách này chúng ta sẽ biết ý muốn làm vui lòng và hoàn hảo của Thiên Chúa (x. Rm 12:1-2) và để cho Ngài uốn nắn chúng ta giống như một người thợ gốm (x. Is 29:16). Quá thường là chúng ta nói rằng Thiên Chúa ngự trong chúng ta, nhưng tốt hơn nên nói là chúng ta cư ngụ trong Ngài, rằng Ngài giúp cho chúng ta cư ngụ trong ánh sáng và tình yêu của Ngài. Ngài là đền thờ của chúng ta; chúng ta xin để được ngự vào nhà Chúa trong suốt mọi ngày đời chúng ta (x. Tv 27:4). “Một ngày tại khuôn viên thánh điện quý hơn cả ngàn ngày” (Tv 84:10). Trong Ngài là sự thánh thiện của chúng ta.

Một giáo huấn Giáo Hội thường bị coi thường

52. Giáo Hội đã liên tục dạy rằng chúng ta được công chính không phải bởi những việc làm hay nỗ lực của chúng ta, mà là bởi ân sủng của Thiên Chúa, Đấng luôn đi bước trước. Các Giáo Phụ, ngay cả trước thời Thánh Augustine, đã rõ ràng thể hiện niềm tin nền tảng này. Thánh John Chrysotom nói rằng Thiên Chúa tuôn đổ vào trong chúng ta tận nguồn của mọi ơn ban của Ngài ngay cả trước khi chúng ta đi vào cuộc chiến.[53] Thánh Basil Cả đã nhấn mạnh rằng vinh quang của người tín hữu chỉ ở trong Thiên Chúa mà thôi, vì “họ nhận biết rằng họ đang thiếu công lý thật và được công chính hóa chỉ nhờ bởi đức tin vào Đức Kitô”.[54]

53. Công Đồng Orange II đã dạy bằng thẩm quyền vững mạnh rằng không có gì con người có thể ra lệnh, đạt được hay mua được quà tặng của ân sủng thánh, và tất cả mọi sự hợp tác với ân sủng là một quà tặng ban trước của cùng một ân sủng ấy: “Ngay cả lòng khao khát được sạch diễn ra trong chúng ta qua việc tuôn đổ và hoạt động của Chúa Thánh Thần”.[55] Do đó, Công Đồng Trent, trong khi nhấn mạnh tầm quan trọng của sự cộng tác của chúng ta vì sự phát triển thiêng liêng, đã tái khẳng định giáo lý tín điều ấy: “Chúng ta được cho biết là được công chính hóa cách nhưng không vì chẳng có gì tạo ra sự công chính hóa, kể cả niềm tin hay các việc làm, mà lại đạt được ân sủng công chính hóa; vì ‘nếu được chọn nhờ ân sủng, thì không phải là do việc làm, chẳng vậy ân sủng không còn là ân sủng nữa’ (Rm 11:6)”.[56]

54. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo cũng nhắc nhớ chúng ta rằng quà tặng của ân sủng “vượt quá sức mạnh trí hiểu và ý muốn của con người” [57] và rằng “liên hệ đến Thiên Chúa, sẽ không có một quyền nghiêm ngặt nào đối với bất cứ một công trạng nào về phía con người. Giữa Thiên Chúa và chúng ta có một sự bất bình đẳng khôn lường”.[58] Tình bằng hữu của Ngài làm cho chúng ta trổi việt cách vô biên; chúng ta không thể mua được điều đó bằng những việc làm của chúng ta, đó chỉ có thể là một quà tặng được sinh ra từ sáng kiến yêu thương của Ngài. Điều này mời gọi chúng ta hãy sống trong thái độ vui tươi vì quà tặng hoàn toàn không thể tự đạt lấy được này, bời vì “sau khi người ta có ân sủng, thì ân sủng đã thủ đắc không thể diễn ra theo công trạng”.[59] Các thánh đã tránh đặt niềm tin vào các việc làm của các vị: “Trong buổi chiều tà của đời sống này, con sẽ xuất hiện trước Ngài với đôi bàn tay trắng, vì con không xin Chúa, lạy Chúa, đếm các việc con làm. Tất cả mọi lẽ công bằng của chúng con đều có những vết nhơ trong đôi mắt của Ngài”.[60]

55. Đây là một trong những niềm xác tín quan trọng mà Giáo Hội đang giữ cách vững vàng. Điều này được thể hiện quá rõ ràng trong lời của Thiên Chúa đến nỗi không thể có một chất vấn nào về nó. Giống như giới răn tối hậu của tình yêu, chân lý này cần phải ảnh hưởng trên cách mà chúng ta sống, vì nó chảy tràn từ trái tim của Tin Mừng và đòi hỏi rằng chúng ta không chỉ đón nhận nó bằng trí tuệ mà còn làm cho nó thành một nguồn mạch của niềm vui lây lan. Tuy nhiên, chúng ta không thể vui hưởng quà tặng nhưng không này của tình bằng hữu của Thiên Chúa chừng nào chúng ta chua nhận biết rằng đời sống trần thế của chúng ta và các khả năng tự nhiên của chúng ta là quà tặng của Ngài. Chúng ta cần phải “nhìn nhận cách vui tươi rằng đời sống của chúng ta nhất định là một quà tặng, và nhìn nhận rằng sự tự do của chúng ta là một ân sủng. Điều này không dễ gì trong thời này, trong một thế giới vố nghĩ là nó có thể giữ điều gì đó cho riêng nó, những hoa trái của sự sáng tạo hay tự do của nó”.[61]

56. Chỉ trên nền tảng quà tặng của Thiên Chúa, được chấp nhận cách tự do và khiêm tốn lãnh nhận, chúng ta mới có thể cộng tác bằng những nỗ lực của riêng chúng ta trong sự biến đổi mang tính tiệm tiến của chúng ta.[62] Trước hết chúng ta phải thuộc về Thiên Chúa, phó dâng chính bản thân chúng ta cho Ngài là Đấng đã ở đó trước, và phó thác cho Ngài mọi khả năng của chúng ta, nỗ lực của chúng ta, cuộc chiến chống lại sự dữ của chúng ta và khả năng sáng tạo của chúng ta, để quà tặng nhưng không của Ngài có thể triển nở và phát triển trong chúng ta: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Ðó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12:1). Đối với vấn đề đó, Giáo Hội đã luôn dạy rằng chỉ đức ái mà thôi mới làm cho sự phát triển trong ân sủng nên có thể, vì “nếu tôi không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì” (1 Cr 13:2).

Những Tân Pelagius

57. Tuy nhiên, một số người Kitô Hữu vẫn khăng khăng đi trên con đường khác, con đường của sự công chính hóa bằng chính những nỗ lực riêng họ, việc tôn thờ ý chí con người và những khả năng của riêng họ. Kết quả là sự quy hướng về bản thân và sự tự mãn của người ưu tuyển, không có tình yêu thật sự. Điều này tìm thấy sự thể hiện trong nhiều cách thế rõ ràng về suy nghĩ và hành động: một nỗi ám ảnh với lề luật, một sự hấp thụ với những tiến bộ xã hội và chính trị, sự bận tâm mang tính câu nệ với phụng vụ, giáo lý và uy tín của Giáo Hội, một sự hư vinh về khả năng giải quyết các vấn đề thực tế, và một sự bận tâm thái quá với những chương trình tự giúp đỡ bản thân và sự thành toàn cá nhân. Một số Kitô Hữu dành thời gian và sức lực của họ vào những thứ này, hơn là để cho bản thân họ đươc Thần Khí dẫn dắt theo con đường của tình yêu, hơn là đam mê về việc thông truyền vẻ đẹp và niềm vui của Tin Mừng và tìm kiếm người lạc trong đám đông bao la người đang khao khát Đức Kitô.[63]

58. Không phải là không thường xuyên, trái lại với những thúc đẩy của Thần Khí, đời sống của Giáo Hội có thể trở thành một viện bảo tàng hay tài sản của một vài người được chọn. Điều này có thể xảy ra khi các nhóm người Kitô Hữu dành tầm quan trọng thái quá cho những lề luật, những tập tục hay những cách hành động nhất định. Do đó, Tin Mừng có xu hướng bị coi nhẹ, bị co rút lại và bị tước đi sự đơn giản, sự hấp dẫn và hương thơm của nó. Đây có thể là một hình thức tinh vi cảu chủ nghĩa pelagius, vì nó có vẻ như muốn đưa đời sống ân sủng làm đối tượng cho những kết cấu mang tính con người. Nó có thể ảnh hưởng lên các nhóm, các phong trào và các cộng đoàn, và điều đó giải thích vì sao quá thường họ bắt đầu bằng một đời sống mạnh trong Thần Khí, chỉ mang lấy kết cục là bị hóa thạch...hay hư hỏng.

59. Một khi chúng ta tin rằng mọi sự tùy thuộc vào nỗ lực con người như đã được thông truyền qua các qui định và tổ chức thuộc giáo hội, thì một cách vô ý thức chúng ta làm phức tạp Tin Mừng và trở nên nô lệ cho một kế hoạch chỉ để lại một vài sự mở ra cho hoạt động của ân sủng. Thánh Thomas Aquinas đã nhắc nhớ chúng ta rằng những qui định thêm vào với Tin Mừng bởi Giáo Hội cần phải được áp đặt bằng sự điều độ “để không làm sự tuân thủ của người tín hữu trở nên nặng nề”, vì rồi tôn giáo của chúng ta sẽ trở thành một hình thức của tình trạng nô lệ”.[64]

Sự thêm vào của Lề Luật

60. Để tránh điều này, sẽ thật tốt để chúng ta hãy luôn tự nhắc chính bản thân chúng ta rằng có một phẩm trật các nhân đức ngăn cấm chúng ta tìm kiếm điều gì là thiết yếu. Sự tối thượng thuộc về các nhân đức đối thần, vốn đặt Thiên Chúa làm đối tượng và động lực. Trọng tâm là đức ái. Thánh Phaolô nói điều thật sự quan trọng là “đức tin hành động nhờ đức ái” (Gl 5:6). Chúng ta được mời gọi để thực hiện mọi nỗ lực để giữ đức bác ái: “ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật... yêu thương là chu toàn Lề Luật” (Rm 13:8.10). “Vì chưng tất cả Lề luật đã được nên trọn nội một lời này: Ngươi hãy yêu mến đồng loại như chính mình” (Gl 5:14).

61. Nói cách khác, giữa sự dày đặc của những luật lệ và những qui định, Chúa Giêsu mở ra một đường lối để thấy hai diện mạo, diện mạo của Chúa Cha và diện mạo của anh em chúng ta. Ngài không đưa ra cho chúng ta hai công thức hay hai giới răn nữa. Ngài mang lại cho chúng ta hai diện mạo, hay đúng hơn, một mà thôi: diện mạo của Thiên Chúa hiện diện trong quá nhiều diện mạo khác. Vì trong mỗi một diện mạo của anh chị em chúng ta, đặc biệt nơi người thấp hèn nhất, người mỏng giòn nhất, những người mất khả năng tự vệ và những người cần giúp đỡ, người ta tìm thấy hình ảnh rất quan trọng của Thiên Chúa. Thực vậy, với những mảnh vụn của sự mỏng giòn con người này, Thiên Chúa sẽ hình thành công trình nghệ thuật sau cùng của Ngài. Vì “điều nhẫn nại, điều có giá trị trong đời sống, và điều làm cho phong phú sẽ không qua đi? Chắc chắn hai điều này: Thiên Chúa và người thân cận của chúng ta. Hai sự phong phú này sẽ không biến mất!”[65]

62. Xin Thiên Chúa giải thoát Giáo Hội khỏi những hình thức mới của chủ thuyết ngộ nhận và pelagius này vốn đang đè nặng Giáo Hội và ngăn chặn Giáo Hội đi theo con đường đến với sự thánh thiện. Những điều lệch lạc này đang mặc lấy nhiều hình dáng khác nhau, theo tâm trạng và tính cách của mỗi người. Vì thế tôi khích lệ mọi người hãy suy tư và biện phân trước Thiên Chúa liệu họ có đang hiện hiện trong đời sống của họ hay không.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Vatican.va)

CHƯƠNG 1 - LỜI MỜI GỌI ĐẾN SỰ THÁNH THIỆN

CHƯƠNG 2 - HAI KẺ THÙ TINH VI CỦA SỰ THÁNH THIỆN 

CHƯƠNG 3 - DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA THẦY

[34] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 94: AAS 105 (2013), 1060.

 

[35] Ibid.: AAS 105 (2013), 1059.

 

[36] Homily at Mass in Casa Santa Marta, 11 November 2016: L’Osservatore Romano, 12 November 2016, p. 8.

 

[37] As Saint Bonaventure teaches, “we must suspend all the operations of the mind and we must transform the peak of our affections, directing them to God alone… Since nature can achieve nothing and personal effort very little, it is necessary to give little importance to investigation and much to unction, little to speech and much to interior joy, little to words or writing but all to the gift of God, namely the Holy Spirit, little or no importance should be given to the creature, but all to the Creator, the Father and the Son and the Holy Spirit”: BONAVENTURE, Itinerarium Mentis in Deum, VII, 4-5.

 

[38] Cf. Letter to the Grand Chancellor of the Pontifical Catholic University of Argentina for the Centenary of the Founding of the Faculty of Theology (3 March 2015): L’Osservatore Romano, 9-10 March 2015, p. 6.

 

[39] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 40: AAS 105 (2013), 1037.

 

[40] Video Message to Participants in an International Theological Congress held at the Pontifical Catholic University of Argentina (1-3 September 2015): AAS 107 (2015), 980.

 

[41] Post-Synodal Apostolic Exhortation Vita Consecrata (25 March 1996), 38: AAS 88 (1996), 412.

 

[42] Letter to the Grand Chancellor of the Pontifical Catholic University of Argentina for the Centenary of the Founding of the Faculty of Theology (3 March 2015): L’Osservatore Romano, 9-10 March 2015, p. 6.

 

[43] Letter to Brother Anthony, 2: FF 251.

 

[44] De septem donis, 9, 15.

 

[45] In IV Sent. 37, 1, 3, ad 6.

 

[46] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 94: AAS 105 (2013), 1059.

 

[47] Cf. Bonaventure, De sex alis Seraphim, 3, 8: “Non omnes omnia possunt”. The phrase is to be understood along the lines of the Catechism of the Catholic Church, 1735.

 

[48] Cf. THOMAS AQUINAS, Summa Theologiae II-II, q. 109, a. 9, ad 1: “But here grace is to some extent imperfect, inasmuch as it does not completely heal man, as we have said”.

 

[49] Cf. De natura et gratia, 43, 50: PL 44, 271.

 

[50] Confessiones, X, 29, 40: PL 32, 796.

 

[51] Cf. Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 44: AAS 105 (2013), 1038.

 

[52] In the understanding of Christian faith, grace precedes, accompanies and follows all our actions (cf. ECUMENICAL COUNCIL OF TRENT, Session VI, Decree on Justification, ch. 5: DH 1525).

 

[53] Cf. In Ep. ad Romanos, 9, 11: PG 60, 470.

 

[54] Homilia de Humilitate: PG 31, 530.

 

[55] Canon 4: DH 374.

 

[56] Session VI, Decree on Justification, ch. 8: DH 1532.

 

[57] No. 1998.

 

[58] Ibid., 2007.

 

[59] Thomas Aquinas, Summa Theologiae, I-II, q. 114, a. 5.

 

[60] ThÉrÈse of the Child Jesus, “Act of Offering to Merciful Love” (Prayers, 6).

 

[61] Lucio Gera, Sobre el misterio del pobre, in P. GRELOT-L. GERA-A. DUMAS, El Pobre, Buenos Aires, 1962, 103.

 

[62] This is, in a word, the Catholic doctrine on “merit” subsequent to justification: it has to do with the cooperation of the justified for growth in the life of grace (cf. Catechism of the Catholic Church, 2010). Yet this cooperation in no way makes justification itself or friendship with God the object of human merit.

 

[63] Cf. Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 95: AAS 105 (2013), 1060.

[64] Summa Theologiae I-II, q. 107, art. 4.

 

[65] FRANCIS, Homily at Mass for the Jubilee of Socially Excluded People (13 November 2016): L’Osservatore Romano, 14-15 November 2016, p. 8.