Skip to main content
Kinh Thánh (Pixabay)

Tông Huấn Gaudete et Exsultate - Chương III - Dưới Ánh Sáng Của Thầy

CHƯƠNG BA

DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA THẦY

63. Có thể có còn có nhiều lý thuyết khác về điều tạo nên sự thánh thiện, với nhiều giải thích và những phân biệt. Sự suy tư như thế có thể là hữu ích, nhưng chẳng có gì soi sáng hơn là hướng về những lời của Chúa Giêsu và nhìn cách dạy sự thật của Ngài. Chúa Giêsu đã giải thích bằng sự đơn giản lớn lao nên thánh thiện nghĩa là gì khi Ngài ban cho chúng ta Tám Mối Phúc (Mt 5:3-12; Lc 6:20-23). Bát Phúc giống như một tấm thẻ căn cước của một người Kitô Hữu. Vì thế nếu bất cứ ai hỏi: “Người ta phải làm gì để trở thành một người Kitô Hữu tốt?”, thì câu trả lời là rõ ràng. Chúng ta phải thực hiện, mỗi người theo cách riêng của mình, điều mà Chúa Giêsu nói với chúng ta trong Bài Giảng Trên Núi.[66] Trong Bát Phúc, chúng ta thấy chân dung của Vị Thầy, điều mà chúng ta được mời gọi để phản chiếu trong đời sống thường nhật của chúng ta.

64. Từ “hạnh phúc” hay “phúc” do đó trở nên một từ đồng nghĩa với từ “thánh thiện”. Nó diễn tả sự thật là những người trung thành với Thiên Chúa và lời của Ngài, bằng việc trao ban chính mình, sẽ có được hạnh phúc thật.

LỘI NGƯỢC DÒNG

65. Mặc dù những lời của Chúa Giêsu có thể đánh động chúng ta như một áng thơ, thì rõ ràng là những lời ấy đang đi ngược dòng với những điều vốn thường được thực hiện trong thế giới này. Ngay cả khi chúng ta thấy thông điệp của Chúa Giêsu thật hấp dẫn, thì thế giới này thúc đẩy chúng ta đến một lối sống khác. Bát Phúc trong mọi trường hợp thì không tầm thường hay không mang tính đòi hỏi, mà ngược lại là khác. Chúng ta chỉ có thể thực hành chúng khi Chúa Thánh Thần lấp đầy chúng ta bằng sức mạnh của Ngài và giải thoát chúng ta khỏi những yếu đuối của chúng ta, khỏi sự ích kỷ của chúng ta, khỏi tình trạng tự mãn của chúng ta và khỏi lòng kiêu hãnh của chúng ta.

66. Một lần nữa chúng ta hãy lắng nghe Chúa Giêsu, bằng tất cả tình yêu và sự tôn trọng mà Vị Thầy xứng đáng. Chúng ta hãy để cho lời của Ngài đánh động chúng ta, thách đố chúng ta và đòi hỏi một sự thay đổi thật sự trong cách mà chúng ta sống. Bằng không, thì sự thánh thiện vẫn chẳng khác gì hơn là một từ ngữ sáo rỗng. Giờ đây chúng ta hãy hướng về từng Mối Phúc theo Tin Mừng theo Thánh Mátthêu (x. Mt 5:3-12).[67]

"Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ”.

67. Tin Mừng mời gọi chúng ta đi vào trong những tầng sâu của cõi lòng chúng ta, để xem chúng ta đang tìm kiếm sự an toàn của mình ở đâu. Thông thường thì người giàu cảm thấy an toàn nơi của cải của họ, và nghĩ rằng, nếu sự giàu có ấy bị đe dọa, thì toàn bộ ý nghĩa đời sống trần thế của họ có thể sụp đổ. Chính Chúa Giêsu nói với chúng ta điều này trong dụ ngôn người giàu ngu ngốc: Ngài nói về một người rất chắc chắn về chính mình, nhưng ngu ngốc, vì nó không thức tỉnh ông là một ngày kia ông có thể chết vào lúc không ngờ (x. Lc 12:16-21).

68. Sự giàu có không đảm bảo điều gì. Thực vậy, một khi chúng ta nghĩ chúng ta giàu có, thì chúng ta có thể trở nên quá tự mãn đến mức chúng ta không có chỗ cho lời của Thiên Chúa, cho tình yêu thương dành cho anh chị em của chúng ta, hay cho việc vui hưởng những điều quan trọng nhất trong đời sống. Bằng cách này, chúng ta sẽ bỏ lỡ kho tàng quí giá nhất trong mọi sự. Đó là lý do vì sao mà Chúa Giêsu gọi là phúc cho những người có tinh thần nghèo khó, những người có một tâm hồn nghèo khó, vì ở đó Thiên Chúa có thể đi vào với sự mới mẻ nguyên sơ của Ngài.

69. Sự nghèo mang tính thiêng liêng này thì gắn liền cách sát sao với điều mà Thánh Ignatius Loyola gọi là “sự thờ ơ thánh”, là điều sẽ mang lại cho chúng ta sự tự do nội tâm sáng ngời: “Chúng ta cần phải huấn luyện bản thân chúng ta để biết thờ ơ trong thái độ của chúng ta trước mọi sự được tạo dựng, trong tất cả mọi điều cho phép ý chí tự do của chúng ta chứ không bị ngăn cấm; để về phần mình, chúng ta không đặt tâm hồn mình vào những sức khỏe tốt thay vì tồi tệ, những sự giàu có thay vì sự nghèo, danh dự thay vì mất danh dự, một đời sống trường thọ thay vì vắn vỏi, và tương tự với hết mọi điều còn lại”.[68]

70. Thánh Luca không nói về tình trạng nghèo nàn “về tinh thần” mà chỉ đơn giản là về những người “nghèo” (x. Lc 6:20). Bằng cách này, Ngài cũng mời gọi chung ta sống một đời sống thẳng thắn và khắc khổ. Ngài mời gọi chúng ta thông phần vào đời sống của những người đang cần giúp đỡ nhất, đời sống mà các Tông Đồ đã sống, và sau cùng rập khuôn bản thân chúng ta theo Chúa Giêsu Đấng, dù giàu sang phú quý, nhưng “lại tự trở nên nghèo khó” (2 Cr 8:9).

Có một tâm hồn nghèo: đó là sự thánh thiện.

“Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Hứa làm gia nghiệp”.

71. Đây là những lời mạnh mẽ trong một thế giới mà ngay từ đầu đã là một nơi của mâu thuẫn, những tranh cãi và thù nghịch ở mọi phía, nơi mà chúng ta liên tục phân loại người khác dựa trên nền tảng là những ý tưởng của họ, những phong tục của họ và ngay cả lối nói hay ăn mặc của họ. Sau cùng, đó là nơi ngự trị của lòng kiêu hãnh và hư vinh, nơi mà mỗi người chúng ta nghĩ rằng mình có quyền thống trị người khác. Tuy nhiên, vốn không thể như nó là, Chúa Giêsu đưa ra một con đường khác của việc giải quyết mọi sự: con đường của sự hiền lành. Đó là điều mà chúng ta thấy Ngài thực hiện với các môn đệ của Ngài. Đó là điều mà chúng ta chiêm ngắm trên hành trình Ngài vào Jerusalem: “Kìa Ðức Vua của ngươi đang đến với ngươi hiền hậu ngồi trên lưng lừa, lưng lừa con, là con của một con vật chở đồ” (Mt 21:5; Dc 9:9).

72. Đức Kitô nói: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:29). Nếu chúng ta liên tục nổi giận hay mất nhẫn nại với người khác, thì chúng ta sẽ mang lấy kết cục là cạn khô và mỏi mệt. Nhưng nếu chúng ta xét đến những sai lỗi và những giới hạn của người khác bằng sự dịu dàng và hiền lành, mà không có một bầu khí kẻ cả, thì chúng ta có thể thực sự giúp họ và dừng lại việc đánh mất sức lực cho sự phàn nàn vô ích. Thánh Thérèse Lisieux dạy chúng ta rằng “lòng bác ái hoàn hảo hệ tại ở việc chịu đựng những sai lỗi của người khác, chứ không phải bị vấp phạm bởi những sai lỗi của họ”.[69]

73. Thánh Phaolô nói về sự hiền lành như là một trong những hoa trái của Chúa Thánh Thần (x. Gl 5:23). Ngài cho rằng, nếu một hành động sai trái của một trong những anh em hay chị em của chúng ta làm phiền lòng chúng ta, thì chúng ta phải nỗ lực chỉnh sửa họ, nhưng “với tinh thần hiền lành”, bởi vì “bạn cũng đễ bị cám dỗ” (Gl 6:1). Ngay cả khi chúng ta bảo vệ niềm tin hay những niềm xác tín của mình, thì chúng ta cũng cần phải làm thế “bằng sự hiền lành” (x. 1 Pr 3:16). Những kẻ thù của chúng ta cũng thế sẽ được đối xử “bằng sự hiền lành” (2 Tm 2:25). Trong Giáo Hội chúng ta thường mắc lỗi bằng việc không đón nhận lệnh truyền này của lời Thiên Chúa.

74. Sự hiền lành lại là một lối diển tả khác của sự nghèo nội tâm của những người chỉ đặt niềm tin vào một mình Thiên Chúa. Thực vậy, trong Kinh Thánh cùng một từ - anawim – thường có ý nói đến cả người nghèo và người hiền lành. Một số người có thể bác bỏ: “Nếu tôi là người hiền kiểu đó, thì họ sẽ nghĩ rằng tôi là một kẻ ngốc, một kẻ ngu đần hay một kẻ yếu đuối”. Đôi khi họ sẽ thế, nhưng nó phải thế. Hiền lành vẫn luôn tốt hơn cả, vì rồi sau đó những ước muốn thẳm sâu nhất của chúng ta sẽ được thành toàn. Người hiền lành “sẽ được đất hứa làm gia nghiệp”, vì họ sẽ thấy những lời hứa của Thiên Chúa được thành toàn nơi cuộc đời họ. Trong mọi hoàn cảnh, người hiền lành đặt niềm hy vọng của họ vào Chúa, và những người trông cậy Ngài sẽ được hưởng đất hứa...và vui hưởng sự thành toàn của hòa bình (x. Tv 37:9.11). Về phần Ngài, Thiên Chúa tin tưởng nơi những người hiền lành: “Kẻ được Ta đoái nhìn: đó là người nghèo khổ, người có tâm hồn tan nát, người nghe lời Ta mà run sợ” (Is 66:2).

Phản ứng bằng sự hiền lành và khiêm nhường: đó là sự thánh thiện.

“Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an”.

75. Thế giới nói cho chúng ta chính xác điều ngược lại: giải trí, thú vui, lạc hướng và trốn thoát sẽ tạo nên một cuộc đời tốt lành. Người thế tục thì phớt lờ các vấn đề về bệnh tật hay sầu khổ trong gia đình hay môi trường xung quanh mình; người ấy đảo tầm nhìn của mình. Thế giới không có khao khát sầu khổ; thay vào đó nó coi thường những hoàn cảnh đớn đau, che đậy chúng hay che giấu chúng. Rất nhiều công sức được dành cho việc chạy trốn khỏi những hoàn cảnh đau khổ trong niềm tin là thực tại có thể được che đậy. Nhưng thập giá thì không bao giờ có thể thiếu vắng.

76. Một người nhìn mọi sự như chúng thật sự là và đồng cảm với nỗi đau và sầu khổ thì có khả năng chạm vào những tầng sâu của đời sống và tìm được niềm hạnh phúc thật.[70] Người ấy sẽ được ủi an, không phải bởi thế giới mà bởi Chúa Giêsu. Những người như thế thì không sợ chia sẻ nỗi khổ của người khác; họ không chạy trốn những hoàn cảnh đớn đau. Họ khám phá ra ý nghĩa của đời sống bằng việc đi đến trợ giúp những người đang đau khổ, hiểu được nỗi thống khổ của họ và mang lại sự xoa dịu. Họ cảm thấy rằng người khác là thịt bởi thịt ta, và không sợ đến gần, ngay cả khi phải chạm vào các vết thương của họ. Họ cảm thấy lòng thương cảm dành cho người khác theo một cách là mọi khoảng cách phải tan biến. Bằng cách này, họ có thể đón nhận giáo huấn của Thánh Phaolô: “Khóc với người khóc” (Rm 12:15).

Biết cách sầu khổ với người khác: đó là sự thánh thiện.

“Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng”.

77. Đói và khát là những kinh nghiệm rất mạnh mẽ, bời vì chúng có liên hệ đến những nhu cầu căn bản và bản năng sinh tồn của chúng ta. Có những người khao khát công lý và khát khao điều công chính với cùng một sức mạnh như thế. Chúa Giêsu nói rằng họ sẽ được thỏa lòng, vì sớm muộn gì thì sự công chính cũng sẽ xuất hiện. Chúng ta có thể cộng tác để làm cho điều ấy khả thi, ngay cả khi chúng ta không luôn thấy hoa trái của những nỗ lực của mình.

78. Chúa Giêsu mang lại một nền công lý khác biệt với công lý của thế giới, quá thường bị làm cho lu mờ bởi những lợi ích đầy mưu mô và bị thao túng bằng nhiều cách khác nhau. Kinh nghiệm cho thấy thật dễ dàng biết bao để bị sa lầy vào trong tình trạng tham nhũng, mắc kẹt vào trong những chính trị hằng ngày theo kiểu hòn đá ném đi hòn chì ném lại, nơi mà mọi sự trở thành kinh doanh. Biết bao nhiêu người chịu cảnh bất công, đứng cách bất lực trong khi người khác chia chác những điều tốt của đời sống này. Một số đầu hàng khi đấu tranh cho nền công lý thật và chọn đi theo con tàu của người thắng cuộc. Điều này chẳng có liên hệ gì đến sự đói và khát công lý mà Chúa Giêsu khen ngợi.

79. Công lý đích thực diễn ra trong đời sống cảu mọi người khi chính bản thân họ công bằng trong các quyết định của họ; nó được thể hiện trong sự theo đuổi công lý của họ vì người nghèo và người yếu thế. Trong khi đúng thật là từ “công bằng” có thể là một từ đồng nghĩa của sự trung thành theo ý muốn của Thiên Chúa trong mọi khía cạnh của đời sống chúng ta, nếu chúng ta dành cho từ này nghĩa quá phổ quát, thì chúng ta sẽ lãng quên là nó được thể hiện cách đặc biệt trong công lý đối với những người đang bị tổn thương nhất: “Hãy tập làm điều thiện, tìm kiếm lẽ công bình, sửa phạt người áp bức, xử công minh cho cô nhi, biện hộ cho quả phụ” (Is 1:17).

Đói và khát công chính: đó là sự thánh thiện.

“Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”.

80. Lòng thương xót có hai khía cạnh. Nó có liên hệ đến việc cho đi, giúp đỡ và phục vụ người khác, nhưng lòng thương xót cũng bao gồm việc tha thứ và hiểu. Thánh Mátthêu tóm lược điều đó trong một luật vàng: “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (7:12). Giáo Lý nhắc nhớ chúng ta rằng luật này cũng được áp dụng “trong mọi trường hợp”,[71] đặc biệt khi chúng ta “phải đối diện với những hoàn cảnh khiến cho việc thực hiện những phán quyết luân lý ít được đảm bảo hơn và quyết định khó”.[72]

81. Cho đi và tha thứ nghĩa là tái tạo lại trong đời sống chúng ta một phương thế nhỏ bé sự hoàn hảo của Thiên Chúa, một sự hoàn hảo cho đi và tha thứ một cách siêu dồi dào. Vì lý do này, trong Tin Mừng Luca chúng ta không nghe thấy những lời, “Hãy nên hoàn hảo” (Mt 5:48), mà thay vào đó là "Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em Ðấng nhân từ. Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại” (6:36-38). Sau đó, Thánh Luca thêm một điều mà chúng ta không được coi nhẹ: “Anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy” (6:38). Thước đo mà chúng ta dùng để hiểu và tha thứ cho người khác sẽ là thước đo của sự tha thứ mà chúng ta nhận lãnh. Thước đo mà chúng ta dùng để cho đi sẽ là thước đo của điều mà chúng ta sẽ nhận lãnh. Chúng ta phải không bao giờ được lãng quên điều này.

82. Chúa Giêsu không hề nói, “Phúc cho ai lập mưu đồ trả thù”. Ngài gọi là “phúc” cho những người tha thứ và làm thế “bảy mươi lần bảy” (Mt 18:22). Chúng ta cần phải suy nghĩ về chính mình như là một đạo binh của những người được tha thứ. Tất cả chúng ta đều được đoái nhìn đến bằng lòng thương cảm thánh. Nếu chúng ta đến với Thiên Chúa bằng lòng chân thành và chăm chú lắng nghe, thì sẽ có những lúc chúng ta nghe thấy lời quở trách của Ngài: “Ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?” (Mt 18:33).

Nhìn và hành động bằng lòng thương xót: đó là sự thánh thiện.

“Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”.

83. Mối Phúc này nói về những người mà tâm hồn của họ đơn sơ, trong sạch và không ô uế, vì một tâm hồn có khả năng yêu thương thì không chấp nhận điều gì có thể gây nguy hại, làm suy yếu hay làm nguy hiểm tình yêu ấy. Kinh Thánh sử dụng tâm hồn để mô tả những ý định thật sự của chúng ta, những điều mà chúng thật sự tìm kiếm và khao khát, tách biệt khỏi mọi thứ hình thức bề ngoài. “Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Ðức Chúa thì thấy tận đáy lòng” (1 Sm 16:7). Thiên Chúa muốn nói với tâm hồn chúng ta (x. Hs 2:16); ở đó Ngài khao khát khắc ghi lề luật của Ngài (x. Gr 31:33). Tắt một lời, Ngài muốn ban tặng cho chúng ta một quả tim mới (x. Ed 36:26).

84. “Hãy gìn giữ tim con cho thật kỹ” (Cn 4:23). Chẳng có gì bị nhiễm bẩn bởi sự giả trá mà lại có bất cứ một giá trị thật nào trong đôi mắt của Thiên Chúa. Ngài “luôn tránh thói lọc lừa, rời xa những lý luận ngu dốt, và ghê tởm những chuyện bất công” (Kn 1:5). Chúa Cha, “Đấng thấu suốt nơi kín ẩn” (Mt 6:6), nhận biết điều gì là không trong sạch và không chân thành, sự thể hiện thuần túy hay vẻ bề ngoài, như Chúa con cũng thế, là Đấng biết “mọi sự nơi con người” (x. Ga 2:25).

85. Chắc chắn sẽ không thể có tình yêu mà lại không có những việc làm của tình yêu, nhưng Mối Phúc này nhắc nhớ chúng ta rằng Thiên Chúa mong đợi một sự dấn thân cho anh chị em của chúng ta vốn xuất phát từ con tim. Vì “giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (1 Cr 13:3). Trong Tin Mừng Mátthêu cũng thế, chúng ta thấy rằng điều xuất phát từ tâm hồn là điều làm cho con người ra ô uế (x. 15:8), vì từ tâm hồn xuất phát những điều như giết người, trộm cướp, chứng dối, và những hành động tội lỗi khác (x. 15:19). Từ những ý định của tâm hồn xuất phát những mong muốn và những quyết định thẳm sâu nhất vốn sẽ quyết định những hành động của chúng ta.

86. Một tâm hồn yêu mến Thiên Chúa và người thân cận (x. Mt 22:36-40), thì ngay chính và không chỉ trong lời nói, là một tâm hồn trong sạch; tâm hồn ấy có thể nhìn thấy Thiên Chúa. Trong bài ca đức ái, Thánh Phaolô nói rằng “bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương” (1 Cr 13:12), nhưng cho đến mức mà sự thật và tình yêu thắng thế, thì khi đó chúng ta có thể thấy “diện đối diện”. Chúa Giêsu hứa rằng những người có tâm hồn trong sạch “sẽ nhìn thấy Thiên Chúa”.

Giữ cho tâm hồn thoát khỏi mọi sự làm hư hỏng tình yêu: đó là sự thánh thiện.

“Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”.

87. Mối Phúc này giúp cho chúng ta nghĩ về nhiều hoàn cảnh chiến tranh không hồi kết trong thế giới. Nhưng chính bản thân chúng ta thường là một căn nguyên của sự mâu thuẫn hay ít nhất là sự hiểu lầm. Chẳng hạn, tôi có thể nghe thấy điều gì đó về ai đó và rồi tôi đi và nói lại. Thậm chí tôi có thể thêm nếm vào đó lần thứ hai và làm cho nó lan tỏa...Và điều đó càng gây hủy hoại bao nhiêu, thì dường như càng nhiều sự thỏa mãn mà tôi có từ đó bấy nhiêu. Thế giới buôn chuyện, được cư ngụ bởi những con người tiêu cực và phá hoại, sẽ không mang lại hòa bình. Những người như thế là những kẻ thù của hòa bình; chẳng có một lý do gì mà họ “được chúc phúc” cả.[73]

88. Những người kiến tạo hòa bình thật sự “tạo nên” hòa bình; họ xây dựng hòa bình và tình bằng hữu trong xã hội. Với những người gieo hòa bình thì Chúa Giêsu thực hiện lời hứa tuyệt vời này: “Họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5:9). Ngài nói với các môn đệ rằng, bất cứ nơi nào các vị ấy đi, thì các vị ấy cần phải nói: “Bình an cho nhà này!” (Lc 10:5). Lời của Thiên Chúa giáo huấn mọi người tin hãy làm việc vì hòa bình, “ cùng những ai kêu cầu Chúa với tấm lòng trong sạch” (x. 2 Tm 2:22), vì “người xây dựng hòa bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hòa bình, là cuộc đời công chính” (Gc 3:18). Và nếu có đôi khi trong cộng đoàn của chúng ta khi chúng ta đặt câu hỏi chúng ta cần phải làm gì, “thì chúng ta hãy theo đuổi điều mang lại hòa bình” (Rm 14:19), vì sự hiệp nhất thì được yêu thích hơn so với mâu thuẫn.[74]

89. Thật không dễ dàng gì để “tạo nên” nền hòa bình thuộc kinh thánh này, một nền hòa bình không loại trừ ai nhưng đón nhận ngay cả những người có một chút trái nghịch, gây rối hay khó khăn, đòi hỏi, khác biệt, bị cuộc đời đánh cho tơi tả hay chỉ đơn giản là không hứng thú gì. Đó là một công việc khó; công việc này đòi hỏi một sự mở rộng lớn lao của tư tưởng và tâm hồn, bởi vì đó không phải là việc tạo ra “một sự đồng thuận trên giấy tờ hay một nền hòa bình tạm thời đối với một thiểu số bằng lòng”,[75] hay một dự án “bởi một số người cho một số ít người”.[76] Công việc này cũng không thể nỗ lực để phớt lờ hay coi thường mâu thuẫn; thay vào đó, nó phải được “đối diện với mâu thuẫn đang diễn ra, giải quyết nó và làm cho mâu thuẫn trở thành một mối liên hệ trong chuỗi mắt xích của một tiến trình mới”.[77] Chúng ta cần phải là những người kiến tạo hòa bình, vì xây dựng hòa bình là một việc làm đòi hỏi sự bình thản, sự sáng tạo, sự nhạy bén và sự khéo léo.

Gieo hòa bình xung quanh chúng ta: đó là sự thánh thiện.

“Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ”.

90. Chính Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta rằng con đường mà Ngài đặt ra thì đi ngược dòng, thậm chí còn làm cho chúng ta thách đố xã hội bởi cách chúng ta sống và, kết quả là, trở nên một sự phiền toái. Ngài nhắc nhớ chúng ta về việc biết bao nhiêu người đã từng, và vẫn đang bị bách hại chỉ đơn giản là vì họ đang đấu tranh cho công lý, vì họ thực hiện sự dấn thân nghiêm túc cho Thiên Chúa và cho người khác. Trừ khi chúng ta mong muốn chìm vào trong một sự tầm thường mập mờ, thì chớ gì chúng ta đừng khao khát một đời sống dễ dãi, vì “ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất” (Mt 16:25).

91. Trong việc sống Tin Mừng, chúng ta không thể mong đời mọi sự sẽ dễ dàng, vì lòng khao khát quyền lực và những lợi ích thế tục thường cản lối chúng ta. Thánh Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh rằng “một xã hội bị vong thân nếu những hình thái tổ chức, sản xuất và tiêu thụ xã hội của nó làm cho xã hội ấy thật khó để trao ban quà tặng bản thân và thiết lập tình liên đới này giữa con người với nhau”.[78] Trong một xã hội như thế, thì chính trị, thì truyền thông đại chúng và các tổ chức kinh tế, văn hóa và thậm chí cả tôn giáo cũng trở nên quá bị mắc kẹt như thể là trở thành một cản trở cho sự phát triển con người và xã hội đúng đắn. Kết quả là, Bát Phúc không dễ gì để sống; bất cứ một nỗ lực nào để làm thế sẽ bị nhìn một cách rất tiêu cực, bị nhìn bằng sự ngờ vực, và được đáp trả bằng sự ngu xuẩn.

92. Bất cứ sự mỏi mệt và đớn đau nào mà chúng ta kinh nghiệm trong việc sống giới luật yêu thương và đi theo nẻo đường công lý, thì thập giá vẫn là một nguồn của sự phát triển và thánh hóa của chúng ta. Chúng ta phải không bao giờ được lãng quên rằng khi Tân Ước nói với chúng ta rằng chúng ta sẽ phải chịu đau khổ vì Tin Mừng, thì Tân Ước đang nói cách cụ thể về sự bách hại (x. Cv 5:41; Pl 1:29; Cl 1:24; 2 Tm 1:12; 1 Pr 2:20; 4:14-16; Kh 2:10).

93. Ở đây chúng ta đang nói về sự bách hại không thể thiếu, chứ không phải là một kiều bách hại mà chúng ta tự chuốc về phía mình do bởi lối cư xử sai trái với người khác của chúng ta. Các vị thánh thì không gây hấn và xa cách, không thể chịu đựng được vì sự hư vinh, sự tiêu cực và đắng cay của các vị. Các Tông Đồ của Đức Kitô thì không phải như thế. Sách Tông Đồ Công Vụ liên tục nói rằng các vị vui hưởng sự yêu thích “với hết mọi người dân” (2:47; x. 4:21.33; 5:13), ngay cả khi một số nhà cầm quyền đã hà khắc và bách hại các Ngài (x. 4:1-3; 5:17-18).

94. Những cuộc bách hại không phải là một thực tại của quá khứ, mà ngay cả ngày nay chúng ta cũng đang kinh qua chúng, bất luận bởi việc đổ máu, như trường hợp của quá nhiều các vị tử đạo đương thời, hay bởi những phương thế tinh vi hơn, bởi sự thóa mạ và dối trá. Chúa Giêsu gọi chúng ta là phúc khi ta “sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa” (Mt 5:11). Vào lúc khác, thì sự bách hại có thể mặc lấy dáng vẻ của những lời nhạo báng vốn đang nỗ lực biếm họa niềm tin của chúng ta và biến chúng ta trở nên dường như là ngu ngốc.

Chấp nhận nẻo đường hằng ngày của Tin Mừng, ngay cả khi việc ấy có thể mang lại cho chúng ta những vấn đề: đó là sự thánh thiện.

TIÊU CHÍ QUAN TRỌNG

95. Ở chương 25 của Tin Mừng Mátthêu (c. 31-46), Chúa Giêsu mở rộng về Mối Phúc vốn gọi người biết xót thương là người có phúc. Nếu chúng ta tìm kiếm sự thánh thiện làm hài lòng đôi mắt của Thiên Chúa, thì chương này sẽ mang lại cho chúng ta tiêu chí rõ ràng mà qua đó chúng ta sẽ bị phán xét. “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm" (c. 35-36).

Trung thành với Thầy

96. Do đó, sự thánh thiện thì không phải là về việc ngây ngất trong sự hân hoan thần bí. Như Thánh Gioan Phaolô II đã nói: “Nếu chúng ta thật sự khởi đầu mới từ việc chiêm ngắm Đức Kitô, thì chúng ta phải học cách nhìn Ngài cách đặc biệt nơi diện mạo của những người mà chính Ngài đang muốn đồng hóa”.[79] Bản văn Tin Mừng Mátthêu 25:35-36 “không phải là một lời mời đơn giản đến với lòng bác ái: đó là một trang cuả nền Kitô Học vốn chiếu tỏa một tia sáng trên mầu nhiệm về Đức Kitô”.[80] Trong lời mời gọi để nhận ra Ngài này nơi người nghèo và người đau khổ, chúng ta thấy tỏ lộ trái tim rất thánh của Đức Kitô, những tâm tình và chọn lựa thẳm sâu của Ngài, những điều mà các vị thánh tìm cách noi theo.

97. Trước những đòi hỏi không thỏa hiệp này của Chúa Giêsu, thì nghĩa vụ của tôi là kêu gọi người Kitô Hữu hãy nhìn nhận và chấp nhận chúng theo tinh thần cởi mở đúng đắn, sine glossa. Nói cách khác, không có bất cứ một sự “nếu hay nhưng” nào vốn có thể làm suy yếu sức mạnh của những đòi hỏi này. Chúa chúng ta đã nói rất rõ rằng sự thánh thiện không thể được hiểu hay sống mà tách khỏi những đòi hỏi này, vì lòng thương xót là “con tim rung nhịp của Tin Mừng”.[81]

98. Nếu tôi gặp gỡ một người ngủ ở ngoài trời vào một đêm giá lạnh, tôi có thể thấy người ấy như một sự phiền toái, một sự đình trệ, một trở ngại trên con đường của tôi, một cảnh tượng khó chịu, một vấn đề đối với các chính trị gia cần phải giải quyết, hay thậm chí là một mảnh chối từ đang chiếm lấy một không gian chung.  Hoặc tôi có thể đáp trả bằng niềm tin và lòng bác ái, và thấy ở nơi người này một con người có phẩm giá giống như phẩm giá của riêng tôi, một thọ tạo được Chúa Cha yêu thương cách vô biên, một hình ảnh của Thiên Chúa, một người anh em hay chị em được Chúa Giêsu Kitô cứu chuộc. Đó chính là ý nghĩa của việc là một người Kitô Hữu! Liệu sự thánh thiện có thể một cách nào đó được hiểu tách ra khỏi việc nhìn nhận phẩm giá sống động của mỗi người nhân loại này không?”[82]

99. Đối với các Kitô Hữu, điều này có liên hệ đến một sự khó chịu liên lỉ và lành mạnh. Ngay cả việc giúp mọt người thôi có thể công chính hóa hết mọi nỗ lực của chúng ta, thì việc ấy vẫn chưa đủ. Hội Đồng Giám Mục Canada đã làm rõ về điều này khi các vị ấy nhấn mạnh, chẳng hạn, rằng sự hiểu biết kinh thánh về năm thánh là về việc hơn cả chỉ đơn thuần thực hiện một số việc lành nào đó. Điều đó cũng có nghĩa là tìm kiếm sự thay đổi về mặt xã hội: “Vì các thế hệ sau cũng cần được giải thoát, rõ ràng là mục tiêu cần phải là sự khôi phục các hệ thống kinh tế và xã hội công bằng, vì thế sẽ không còn sự loại trừ”.[83]

Những thứ ý thức hệ đánh vào trọng tâm của Tin Mừng

100. Tôi lấy làm tiếc là các thứ ý thức hệ nhiều khi dẫn chúng ta đến hai sai lỗi nguy hại. Một mặt, có một sai lỗi của những người Kitô Hữu là những người tách những đòi hỏi này của Tin Mừng ra khỏi mối quan hệ cá nhân của họ với Thiên Chúa, khỏi sự hiệp nhất nội tâm của họ với Ngài, khỏi sự mở ra cho ân sủng của Ngài. Do đó, Kitô Giáo trở thành một kiểu Tổ Chức Phi Chính Phủ (NGO) bị tước khỏi nền thần bí rực rỡ quá tỏ tường nơi đời sống của Thánh Phanxicô Assisi, Thánh Vincent de Paul, Thánh Teresa Calcutta, và nhiều vị khác nữa. Đối với những vị đại thánh này, tâm tình cầu nguyện, tình yêu dành cho Thiên Chúa và việc đọc Tin Mừng không có cách nào tách ra khỏi sự dấn thân đầy đam mê và hiệu năng dành cho người thân cận của họ; mà ngược lại là khác.

101. Một sai lỗi ý thức hệ nguy hại khác được tìm thấy ở nơi những người tìm thấy sự hoài nghi về sự dấn thân xã hội của người khác, coi đó như là một kiểu chủ nghĩa duy vật, cộng sản hay dân túy hời hợt, mang tính thế gian, và tục hóa. Hoặc là họ sẽ tương đối hóa nó, như thể có những vấn đề khác quan trọng hơn, hoặc điều duy nhất có ý nghĩa là một vấn đề hay một căn nguyên đạo đức cụ thể mà chính bản thân họ bảo vệ. Việc bảo vệ trẻ còn trong thai vô tội của chúng ta, chẳng hạn, cần phải được rõ ràng, vững chắc và đầy đam mê, vì phẩm giá của sự sống con người đang lâm nguy, sự sống ấy vốn luôn thánh thiêng và đòi hỏi tình yêu dành cho mỗi người, bất chấp tình trạng phát triển của người ấy. Tuy nhiên, thánh thiêng không kém là đời sống của người nghèo, những người đã được sinh ra, người bị lãng quên, người bị bỏ rơi và người không có đặc quyền gì, người bị dị tật bẩm sinh và người già cả đang trở thành đối tượng của tình trạng an tử kín ẩn, các nạn nhân của nạn buôn người, những hình thức mới của nô lệ, và mọi hình thức khước từ khác.[84] Chúng ta không thể tôn trọng lý tưởng về sự thánh thiện mà lại phớt lờ đi tình trạng bất công trong một thế giới mà nơi đó một số người tiêu khiển, chi tiêu bằng sự bỏ mặc và chỉ sống vì những món hàng tiêu dùng mới nhất, ngay cả khi có người khác nhìn từ ở xa, đang sống cả đời họ trong một tình trạng nghèo triền miên.

102. Chúng ta thường nghe người ta nói điều đó, với sự tôn trọng đối với chủ thuyết tương đối và theo trào lưu của thế giới hiện đại của chúng ta, hoàn cảnh của những người di dân, chẳng hạn, là một vấn đề ít quan trọng hơn. Một số người Công Giáo thì coi đó là một vấn đề thứ yếu so với các vấn đề đạo đức sinh học “nghiêm trọng”. Kiểu tìm kiếm phiếu bầu mang tính chính trị ấy có thể nói một điều như thế là không thể hiểu nổi, nhưng không phải là một Kitô Hữu, vì đối với người Kitô Hữu thì thái độ đúng đắn duy nhất là đi vào trong hoàn cảnh của anh chị em của chúng ta là những người đang chấp nhận rủi ro đời mình để mang lại một tương lai cho con em của họ. Chẳng lẽ chúng ta không thể nhận ra rằng đây chính xác là điều mà Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta, khi Ngài nói cho chúng ta biết rằng khi đón tiếp một người khách lạ là chúng ta đón tiếp chính Ngài (x. Mt 25:35)? Thánh Benedict đã thực hiện như thế một cách quá sẵn sàng, và mặc dù điều đó có thể “gây phức tạp” cho đời sống của các tu sĩ của Ngài, thì Ngài đã ra lệnh rằng mọi người khách gõ cửa tu viện phải được đón tiếp “như Đức Kitô”,[85] với một cử chỉ tôn kính;[86] người nghèo và người hành hương cần phải được đón tiếp bằng “sự quan tâm và thái độ đón tiếp quan trọng nhất”.[87]

103. Một cách tiếp cận tương tự được tìm thấy trong Cựu Ước: “Người ngoại kiều, ngươi không được ngược đãi và áp bức, vì chính các ngươi đã là ngoại kiều ở đất Ai-cập” (Xh 22:20). “Khi có khách lạ ngụ nhờ xứ các ngươi, các ngươi sẽ không bức hiếp: 34 như một người bản hương trong các ngươi, các ngươi sẽ xử đãi người khách ngụ cư nơi các ngươi; ngươi sẽ mến yêu nó như chính mình ngươi vì ngươi cũng đã là khách ngụ cư nơi đất Ai-cập” (Lv 19:33-34). Đây không phải là một luật mà một Giáo Hoàng nào đó tạo ra, hay một kiểu biên bản ghi nhớ. Trong cả thế giới ngày nay nữa, chúng ta cũng được đi theo con đường của sự khôn ngoan thiêng liêng mà tiên tri Isaia đã đề xướng để cho thấy điều gì là làm hài lòng Thiên Chúa. Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục? Bấy giờ ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông” (58:7-8).

Việc thờ phượng được Thiên Chúa chấp nhận nhất

104. Chúng ta có thể nghĩ rằng chúng ta làm vinh danh Thiên Chúa chỉ bằng việc thờ phượng và cầu nguyện của chúng ta, hay chỉ đơn giản bằng việc tuân thủ một vài giới luật đạo đức. Đúng thật là sự tối thượng thuộc về mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa, nhưng chúng ta không thể lãng quên là tiêu chí tối hậu mà đời sống của chúng ta sẽ bị phán xét trên đó là điều mà chúng ta đã làm cho người khác. Cầu nguyện là quý giá nhất, vì nó nuôi dưỡng sự dấn thân hằng ngày để yêu thương. Việc thờ phượng của chúng ta sẽ trở nên hài lòng Thiên Chúa khi chúng ta dấn thân chính mình để sống đại lượng, và để cho ơn ban của Thiên Chúa, được ban trong cầu nguyện, được thể hiện trong sự quan tâm của chúng ta dành cho anh chị em của chúng ta.

105. Tương tự, cách tốt nhất để biện phân liệu là việc cầu nguyện của chúng ta có chính đáng là hãy phán xét xem đời sống của chúng ta được biến đổi đến mức độ nào trong ánh sáng của lòng thương xót. Vì “lòng thương xót không chỉ là một hành động của Chúa Cha; nó còn trở thành một tiêu chí cho việc xác định ai là con cái thật sự của Ngài”[88] Lòng thương xót “là nền tảng rất căn bản của đời sống của Giáo Hội”.[89] Theo đó, tôi muốn lặp lại rằng lòng thương xót không loại trừ công lý và sự thật; thực vậy, “chúng ta phải nói rằng lòng thương xót là sự thành toàn của công lý và là sự biểu hiện rạng ngời nhất chân lý của Thiên Chúa”.[90] Đó là “chìa khóa vào nước trời”.[91]

106. Đến đây tôi nghĩ đến Thánh Thomas Aquinas, Ngài là người khi được hỏi những hành động nào của chúng ta là cao quí nhất, hành động bên ngoài nào là thể hiện tốt nhất tình yêu của chúng ta dành cho Thiên Chúa. Thánh Thomas trả lời không do dự là đó là những công việc của lòng thương xót đối với người thân cận của chúng ta,[92] thậm chí còn hơn cả những hành động thờ phượng của chúng ta: “Chúng ta thờ phượng Thiên Chúa bằng những hy sinh và lễ dâng bên ngoài, chứ khong phải vì phần ích của Ngài, nhưng vì phần ích của bản thân chúng ta và người thân cận của chúng ta. Vì Ngài không cần những hy sinh của chúng ta, mà mong muốn những hy sinh ấy được dâng cho Ngài, để khơi lòng sùng kính của chúng ta và mưu ích cho người thân cận của chúng ta. Do đó lòng thương xót, từ đó mà chúng ta chu cấp cho những thiếu sót của người khác, là một sự hy sinh được Ngài chấp nhận hơn, khi thực hiện trực tiếp nhiều hơn nữa đến sự tốt lành của người thân cận của chúng ta”.[93]

107. Những người đang thật sự mong muốn làm vinh danh Thiên Chúa bằng đời sống của họ, những người thật sự khao khát lớn lên trong sự thánh thiện, đều được mời gọi để một lòng một trí và tập trung trong sự thực thi các công việc thương xót của họ. Thánh Teresa Calcutta đã rõ ràng nhận biết điều này: “Đúng, tôi có nhiều thiếu sót và thất bại mang tính con người...Nhưng Thiên Chúa cúi xuống và sử dụng chúng ta, bạn và tôi, để là tình yêu của Ngài và lòng thương cảm của Người trong thế giới; Ngài mang lấy tội lỗi của chúng ta, những bối rối và sai lỗi của chúng ta. Ngài lệ thuộc vào chúng ta để yêu thương thế giới và thể hiện ra Ngài yêu thế giới này biết bao. Nếu chúng ta quá bận tâm về bản thân mình, thì chúng ta sẽ không có thời gian để dành cho người khác”.[94]

108. Chủ nghĩa khoái lạc và chủ nghĩa tiêu thụ có thể cho thấy về sự sa ngã của chúng ta, vì khi chúng ta bị ám ảnh với chính thú vui của mình, thì chúng ta mang lấy kết cục là trở nên quá bận tâm về bản thân chúng ta và quyền của chúng ta, và chúng ta cảm thấy một nhu cầu hết sức khẩn thiết đối với thời gian rảnh để vui thỏa với chính mình. Chúng ta thấy thật khó để cảm thấy và thể hiện bất cứ một sự quan tâm nào cho những người đang cần giúp đỡ, trừ khi chúng ta có nuôi dưỡng một sự giản dị của đời sống, chống lại những đòi hỏi nóng bỏng của một xã hội tiêu thụ, vốn chỉ làm cho chúng ta khánh kiệt và không thỏa mãn, lo lắng để cho hết mọi sự ngay bây giờ. Tương tự, khi chúng ta để cho bản thân mình bị mắc kẹt trong thông tin hời hợt, sự giao tiếp tốc thời và thực tại ảo, thì chúng ta có thể làm lãng phí thời gian và trở nên thờ ơ với thân thể đang đau khổ của những anh chị em của chúng ta. Nhưng ngay cả giữa vòng xoáy của những hoạt động, Tin Mừng vẫn tiếp tục vang vọng, mang lại cho chúng ta một lời hứa về một đời sống mới, một đời sống lành mạnh và hạnh phúc hơn.

* * *

109. Chứng tá mạnh mẽ của các thánh được tỏ lộ trong đời sống của họ, được hình thành bởi Bát Phúc và tiêu chí phán xét chung. Những lời của Chúa Giêsu thì ít và trực khởi, nhưng thực tế và có giá trị với hết mọi người, vì Kitô Giáo trước hết có nghĩa là phải được đưa vào trong thực hành. Kitô Giáo cũng có thể là một đối tượng nghiên cứu và suy tư, nhưng chỉ để giúp chúng ta sống Tin Mừng tốt hơn trong đời sống thường nhật của chúng ta. Tôi đề nghị khi đọc lại những bản văn kinh thánh tuyệt vời này thường xuyên, suy tư đi suy tư lại chúng, cầu nguyện với chúng, nỗ lực để nhập thể chúng. Chúng sẽ hữu ích cho chúng ta; chúng sẽ làm chúng ta hạnh phúc cách đúng đắn.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ)

CHƯƠNG 1 - LỜI MỜI GỌI ĐẾN SỰ THÁNH THIỆN

CHƯƠNG 2 - HAI KẺ THÙ TINH VI CỦA SỰ THÁNH THIỆN

CHƯƠNG 3 - DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA THẦY

CHƯƠNG 4 - NHỮNG DẤU CHỈ CỦA SỰ THÁNH THIỆN TRONG THẾ GIỚI NGÀY NAY

[66] Cf. Homily at Mass in Casa Santa Marta, 9 June 2014: L’Osservatore Romano, 10 June 2014, p. 8.

 

[67] The order of the second and third Beatitudes varies in accordance with the different textual traditions.

 

[68] Spiritual Exercises, 23d.

 

[69] Manuscript C, 12r.

 

[70] From the patristic era, the Church has valued the gift of tears, as seen in the fine prayer “Ad petendam compunctionem cordis”. It reads: “Almighty and most merciful God, who brought forth from the rock a spring of living water for your thirsting people: bring forth tears of compunction from our hardness of heart, that we may grieve for our sins, and, by your mercy, obtain their forgiveness” (cf. Missale Romanum, ed. typ. 1962, p. [110]).

 

[71] Catechism of the Catholic Church, 1789; cf. 1970.

 

[72] Ibid., 1787.

 

[73] Detraction and calumny are acts of terrorism: a bomb is thrown, it explodes and the attacker walks away calm and contented. This is completely different from the nobility of those who speak to others face to face, serenely and frankly, out of genuine concern for their good.

 

[74] At times, it may be necessary to speak of the difficulties of a particular brother or sister. In such cases, it can happen that an interpretation is passed on in place of an objective fact. Emotions can misconstrue and alter the facts of a matter, and end up passing them on laced with subjective elements. In this way, neither the facts themselves nor the truth of the other person are respected.

 

[75] Apostolic Exhortation, Evangelii Gaudium (24 November 2013), 218: AAS 105 (2013), 1110.

 

[76] Ibid., 239: 1116.

 

[77] Ibid., 227: 1112.

 

[78] Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 41c: AAS 81 (1993), 844-845.

 

[79] Apostolic Letter Novo Millennio Ineunte (6 January 2001), 49: AAS 93 (2001), 302.

 

[80] Ibid.

 

[81] Bull Misericordiae Vultus (11 April 2015), 12: AAS 107 (2015), 407.

 

[82] We can recall the Good Samaritan’s reaction upon meeting the man attacked by robbers and left for dead (cf. Lk 10:30-37).

 

[83] SOCIAL AFFAIRS COMMISSION OF THE CANADIAN CONFERENCE OF CATHOLIC BISHOPS, Open Letter to the Members of Parliament, The Common Good or Exclusion: A Choice for Canadians (1 February 2001), 9.

 

[84] The Fifth General Conference of the Latin American and Caribbean Bishops, echoing the Church’s constant teaching, stated that human beings “are always sacred, from their conception, at all stages of existence, until their natural death, and after death”, and that life must be safeguarded “starting at conception, in all its stages, until natural death” (Aparecida Document, 29 June 2007, 388; 464).

 

[85] Rule, 53, 1: PL 66, 749.

 

[86] Cf. ibid., 53, 7: PL 66, 750.

 

[87] Ibid., 53, 15: PL 66, 751.

 

[88] Bull Misericordiae Vultus (11 April 2015), 9: AAS 107 (2015), 405.

 

[89] Ibid., 10, 406.

 

[90] Post-Synodal Apostolic Exhortation Amoris Laetitia (19 March 2016), 311: AAS 108 (2016), 439.

 

[91] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 197: AAS 105 (2013), 1103.

 

[92] Cf. Summa Theologiae, II-II, q. 30, a. 4.

 

[93] Ibid., ad 1.

 

[94] Cited (in Spanish translation) in: Cristo en los Pobres, Madrid, 1981, 37-38.