Skip to main content
ĐGH Phanxicô (Vatican News)

Tông Huấn Gaudete et Exsultate - Chương IV - Những Dấu Chỉ Của Sự Thánh Thiện Trong Thế Giới Ngày Nay

CHƯƠNG BỐN

NHỮNG DẤU CHỈ CỦA SỰ THÁNH THIỆN TRONG THẾ GIỚI NGÀY NAY

110. Trong khuôn khổ của sự thánh thiện mà Bát Phúc và Tin Mừng Mátthêu 25:31-56 mang lại, tôi muốn đề cập đến một vài dấu chỉ hay thái độ tinh thần, mà theo suy nghĩ của tôi, là cần thiết nếu chúng ta muốn hiểu về một lối sống mà Thiên Chúa mời gọi chúng ta. Tôi sẽ không dừng lại để giải thích các phương thế của sự thánh hóa mà chúng ta đã biết: nhiều phương pháp cầu nguyện khác nhau, những bí tích không thể đo lường được là Bí Tích Thánh Thể và Hòa Giải, việc dâng những hy sinh cá nhân, nhiều hình thức sùng kính khác nhau, linh hướng, và nhiều hình thức khác nữa. Ở đây tôi chỉ nói về những khía cạnh nhất định của lời mời gọi đến với sự thánh thiện mà tôi hy vọng là sẽ cho thấy là đặc biệt có ý nghĩa.

111. Những dấu chỉ mà tôi muốn nhấn mạnh thì không phải là một tổng hợp của một khuôn mẫu thánh thiện, mà chúng là năm biểu hiện của tình yêu của Thiên Chúa và người thân cận mà tôi coi là đặc biệt quan trọng dưới ánh sáng của những mối nguy và những giới hạn hiện diện trong nền văn hóa ngày nay. Ở đó chúng ta thấy một cảm thức lo lắng, đôi khi là bạo lực, những lo ra và những khiếm khuyết; sự tiêu cực và sự sỉ nhục; một bản ngã bị thiêu đốt bởi chủ nghĩa tiêu thụ; chủ nghĩa cá nhân; và tất cả mọi hình thức của linh đạo giả - chẳng có liên hệ gì đến Thiên Chúa – vốn đang thống trị thị trường tôn giáo hiện tại.

SỰ KIÊN TRÌ, NHẪN NẠI VÀ HIỀN LÀNH

112. Điều đầu tiên trong những dấu chỉ tuyệt vời này là việc đặt nền tảng vững vàng vào Thiên Chúa là Đấng yêu thương và nuôi dưỡng chúng ta. Nguồn sức mạnh nội tâm này sẽ giúp cho chúng ta kiên trì giữa những thăng trầm của đời sống, nhưng cũng là chịu đựng sự thù nghịch, sự phản bội và những thất bại về phía người khác. “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?” (Rm 8:31): đây là nguồn mạch của sự bình an được thấy ở nơi các vị thánh. Một sức mạnh nội tâm như thế sẽ làm cho chúng ta có thể, trong thế giới nhanh chóng như vũ bão, ồn ào và gân hấn này, biết làm chứng cho sự thánh thiện qua sự nhẫn nại và bền bỉ trong việc làm điều thiện. Đó là một dấu chỉ của sự trung thành được sinh ra bởi tình yêu, vì những người đặt niềm tin của họ vào Thiên Chúa (pístis) thì cũng có thể trung thành với người khác (pistós). Họ không bỏ mặc người khác trong những khi khó khăn; họ đồng hành với người khác trong nỗi lo âu và căng thẳng của họ, mặc dù làm thế có thể chẳng mang lại sự thỏa mãn tức thì.

113. Thánh Phaolô đã cấm người Rôma đừng lấy ác báo ác (x. Rm 12:17), không tìm cách trả thù (c. 19), và đừng để sự dữ thắng thế, mà thay vào đó “lấy sự lành mà chiến thắng sự dữ” (c. 21). Thái độ này không phải là một dấu chỉ của sự yếu đuối mà là của sức mạnh thật sự, vì chính Thiên Chúa “chậm giận, sức mạnh của Người thật phi thường” (Nh 1:3). Lời của Thiên Chúa giáo huấn chúng ta “đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thóa mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác” (Ep 4:31).

114. Chúng ta cần phải nhìn nhận và chiến đấu chống lại những khuynh hướng gây hấn và ích kỷ của chúng ta, và đừng để cho chúng bén rễ. “Anh em nổi nóng ư? Ðừng phạm tội: chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn” (Ep 4:26). Khi chúng ta cảm thấy bị choáng ngợp, chúng ta có thể luôn gắn liền với cái neo của sự cầu nguyện, một việc sẽ đưa chúng ta trở lại với bàn tay của Thiên Chúa và nguồn mạch sự bình an của chúng ta. “Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giải bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em...” (Pl 4:6-7).

115. Các Kitô Hữu cũng có thể bị mắc kẹt trong những mạng lưới của tình trạng bạo lực ngôn từ qua mạng internet và nhiều hình thức truyền thông số khác nhau. Ngay cả trong truyền thông Công Giáo, các giới hạn cũng có thể bị lấn loát, làm nhục danh dự và thóa mạ có thể trở nên phổ biến, và tất cả mọi chuẩn mực đạo đức và sự tôn trọng đanh thơm của người khác có thể bị bỏ mặc. Kết quả là một sự chia rẽ nguy hại, bởi vì mọi thứ có thể được nói ở đó điều vốn không thể chấp nhận được ở nơi công chúng, và người ta tìm cách đền bù cho sự bất mãn của mình bằng việc thóa mạ người khác. Thật đáng chú ý là đôi khi, trong việc tuyên bố tuân giữ các giới răn khác, họ hoàn toàn phớt lờ điều răn thứ tám, một điều ngăn cấm làm chứng dối hay nói dối, và phỉ báng người khác cách tàn nhẫn. Ở đây chúng ta thấy miệng lưỡi không được canh phòng, được hỏa ngục khai hỏa, đặt mọi sự trong sự tiêu hủy thế nào (x. Gc 3:6).

116. Sức mạnh nội tâm, như là một hoạt động của ân sủng, ngăn chặn chúng ta khỏi việc trở trở nên bị tình trạng bạo lực cuốn phăng là một thứ vốn đang là một phần của đời sống xã hội ngày nay, vì ân sủng sẽ làm tan biến sự hư vinh và làm cho sự hiền lành của tâm hồn nên khả thể. Các thánh không lãng phí thời gian để phàn nàn về những thất bại của người khác; các Ngài giữ miệng lưỡi trước những sai lỗi của anh chị em mình, và tránh tình trạng bạo lực ngôn từ vốn hạ thấp và đối xử tồi tệ với người khác. Các thánh thì chần chừ đối xử khà khắc với người khác; các vị coi người khác hơn chính họ (x. Pl 2:3).

117. Thật không tốt khi coi khinh người khác giống như những thẩm phán không có trái tim, làm chủ trên họ và luôn dạy người khác những bài học. Tự bản thân việc ấy là một hình thức tinh vi của bạo lực.[95] Thánh Gioan Thánh Giá đề nghị một con đường khác: “Luôn yêu thích được người khác dạy bảo hơn, thay vì khao khát dạy ngay cả người bé mọn nhất”.[96] Và Ngài thêm lời khuyên về cách giam giữ ma quỷ: “Hãy vui trong điều tốt của người khác như là của chính mình, và khao khát rằng họ sẽ có quyền trước trên bạn trong mọi sự; đây là điều mà bạn phải hết lòng thực thi. Do đó bạn sẽ vượt thắng sự dữ bằng sự lành, xua trừ ma quỷ, và thủ đắc một tâm hồn vui tươi. Hãy nỗ lực thực thi điều này nhiều hơn nữa với những người ít hấp dẫn bạn nhất. Hãy nhận ra rằng nều bạn không tự đào luyện mình theo cách này, thì bạn sẽ không đạt được lòng bác ái chân thật hay có được bất cứ một sự tiến bộ nào”.[97]

118. Sự khiêm nhường chỉ có thể bén rễ nơi tâm hồn qua những sự hạ nhục. Không có những sự hạ nhục này, thì không có sự khiêm nhường hay sự thánh thiện. Nếu bạn không có khả năng chịu đựng hay đưa ra những sự hạ nhục mới, thì bạn không khiêm nhường và bạn đang không trên hành trình đến với sự thánh thiện. Sự thánh thiện mà Thiên Chúa ban tặng trên Giáo Hội của Ngài đi qua sự hạ nhục mà Con Ngài phải chịu. Ngài là con đường. Sự hạ nhục sẽ giúp bạn nên giống Chúa Giêsu; đó là một khía cạnh không thể tránh khỏi của việc noi theo Đức Kitô. Vì “Ðức Kitô đã chịu đau khổ vì anh em, để lại một gương mẫu cho anh em dõi bước theo Người” (1 Pr 2:21). Do đó, Ngài mạc khải sự khiêm nhường của Chúa Cha, Đấng đi xuống để đồng hành với dân của Ngài, chịu đựng những bất trung và phàn nàn của họ (x. Xh 34:6-9; Kn 11:23-12:2; Lc 6:36). Vì lý do này, các Tông Đồ, sau khi đã chịu hạ nhục, đã vui mừng lòng “ bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Ðức Giêsu” (Cv 5:41).

119. Ở đây tôi đang không chỉ nói về những hoàn cảnh đáng chú ý của sự tử đạo, nhưng về những lăng mạ hằng ngày của những người giữ thinh lặng để cứu lấy gia đình của họ, những người yêu thích khen người khác thay vì khoác lác về chính họ, hay những người chọn những việc yêu thích hơn, đôi khi thậm chí chọn để mang lấy một sự bất công nào đó như thể để dâng nó lên cho Thiên Chúa. “Nếu làm việc lành và phải khổ mà anh em vẫn kiên tâm chịu đựng, thì đó là ơn Thiên Chúa ban” (1 Pr 2:20). Điều này không có nghĩa là bước đi với đôi mắt khép lại, không nói một lời hay thoát khỏi sự đồng hành của người khác. Đôi khi, rõ ràng vì ai đó không ích kỷ, thì người ấy có thể dám bất đồng cách dịu dàng, đòi hỏi công lý hay bảo vệ người yếu thế trước người quyền thế, ngay cả khi việc ấy có thể gây tổn hại đến thanh danh của mình.

120. Tôi đang không nói rằng sự hạ nhục như thế là vui vẻ, vì đó có thể là một kiểu chủ nghĩa ái khổ, mà đó là một cách noi theo gương Chúa Giêsu và lớn lên trong sự hiệp nhất với Ngài. Điều này là không thể hiểu nổi ở mức độ thuần tự nhiên, và thế giới sẽ chế giễu bất cứ một sự tuân thủ nào như vậy. Thay vào đó, đó là một ân sủng cần phải tìm kiếm trong cầu nguyện: “Lạy Chúa, khi có những hạ nhục xuất hiện, xin giúp con biết rằng con đang đi theo bước của Chúa”.

121. Hành động theo cách này mặc lấy một tâm hồn được Đức Kitô đặt trong sự bình an, thoát khỏi sự gây hấn xuất phát từ chủ nghĩa cái tôi tự phụ. Cùng một tình trạng bình an ấy, hoa trái của ân sủng, làm cho việc duy trì niềm tín thác nội tâm và duy trì trong sự thiện trở nên có thể, “dù tôi bước đi trong thung lũng tối” (Tv 23:4) hay “cả đạo quân chống lại tôi” (Tv 27:3). Đứng vững trong Thiên Chúa, Đá Tảng, chúng ta có thể hát lên: “Thư thái bình an vừa nằm con đã ngủ, vì chỉ có mình Ngài, lạy Chúa, ban cho con được sống yên hàn” (Tv 4:9). Đức Kitô, tắt một lời, “là sự bình an của chúng ta” (Ep 2:14); Ngài đến để “dẫn ta bước vào đường nẻo bình an” (Lc 1:79). Như Ngài đã nói với Thánh Faustina Kowalska, “Nhân loại sẽ không có bình an cho đến khi nhân loại hướng với niềm tín thác vào lòng thương xót của Ta”.[98] Vì thế chúng ta đừng để rơi vào cơn cám dỗ của việc tìm kiếm sự an toàn nơi sự thành công, những thú vui chóng qua, những tài sản, quyền bính trên người khác hay địa vị xã hội. Chúa Giêsu nói: “Bình an Thầy ban cho anh em không giống như thế gian ban tặng” (Ga 14:27).

NIỀM VUI VÀ CẢM THỨC HÀI HƯỚC

122. Khác xa với việc nhút nhát, nhạt nhẽo, chua ngoa hay u sầu, hay mang lấy bộ mặt mỏi mệt, các vị thánh là những người vui tươi và đầy sự hài hước. Qua một tính cách hoàn toàn thực tế, các vị thánh chiếu tỏa một tinh thần tích cực và đầy hy vọng. Đời sống Kitô Hữu là “vui trong Thần Khí” (Rm 14:17), vì “kết quả nhất định của lòng yêu mến lòng bác ái là niềm vui; vì mọi người yêu đều vui hưởng với việc được hiệp nhất với người được yêu...hiệu quả của lòng bác ái là niềm vui”.[99] Khi đã lãnh nhận quà tặng tuyệt vời là lời của Thiên Chúa, chúng ta đón nhận Lời “giữa bao nỗi gian truân với niềm vui do Thánh Thần ban” (1 Tx 1:6). Nếu chúng ta để cho Thiên Chúa lôi cuốn chúng ta ra khỏi tháp ngà của chúng ta và thay đổi đời sống của chúng ta, thì chúng ta có thể thực thi như Thánh Phaolô nói với chúng ta: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em!” (Pl 4:4).

123. Các tiên tri đã loan báo về thời của Chúa Giêsu, mà hiện giờ chúng ta đang sống, như là một sự mạc khải của niềm vui. “Hãy reo hò mừng rỡ!” (Is 12:6). “Hỡi kẻ loan tin mừng cho Xi-on, hãy trèo lên núi cao. Hỡi kẻ loan tin mừng cho Giê-ru-sa-lem!” (Is 40:9). “Trời hãy hò reo, đất hãy nhảy múa, núi non hãy bật tiếng hò reo, vì Ðức Chúa ủi an dân Người đã chọn và chạnh lòng thương những kẻ nghèo khổ của Người” (Is 49:13). “Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Ðức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Ðấng Chính Trực, Ðấng Toàn Thắng” (Da 9:9). Cũng ta cũng không quên giáo huấn của Nêhêmya: “Anh em đừng buồn bã, vì niềm vui của Ðức Chúa là thành trì bảo vệ anh em” (8:10).

124. Mẹ Maria, khi nhận ra sự mới mẻ mà Chúa Giêsu mang lại, đã hát lên: “Thấn trí tôi hớn hở vui mừng” (Lc 1:47), và chính Chúa Giêsu “hớn hở vui mừng trong Thần Khí” (Lc 10:21). Khi Ngài đi qua, “đám đông vui mừng” (Lc 13:17). Sau khi Ngài phục sinh, thì bất cứ nơi nào các môn đệ đến, thì có “nhiều niềm vui” (Cv 8:8). Chúa Giêsu đảm bảo với chúng ta: “Anh em sẽ khóc lóc và than van, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui. Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được” (Ga 16:20.22). “Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” (Ga 15:11).

125. Những thời điểm khó khăn sẽ đến, khi thập giá phủ bóng, nhưng chằng có gì có thể hủy diệt được niềm vui siêu nhiên vốn “đáp ứng và thay đổi, nhưng luôn bền bỉ, thậm chí như một tia sáng xuất phát từ sự chắc chắn cá nhân là, khi mọi sự đã được viết và thực hiện, thì chúng ta được yêu thương cách vô biên”.[100] Niềm vui ấy mang lại một sự an toàn thẳm sâu, niềm hy vọng bình thản và một sự thành toàn thiêng liêng mà thế giới này không thể hiểu hay chấp nhận.

126. Niềm vui Kitô Giáo thì thường đi kèm với một cảm thức về sự hài hước. Chúng ta thấy điều này cách rõ ràng, chẳng hạn, ở nơi Thánh Thomas More, Thánh Vincent de Paul và Thánh Phillip Neri. Sự hài hước bệnh hoạn thì không phải là sự thánh thiện. “Hãy đẩy lui sầu não khỏi tâm hồn” (Gv 11:10). Chúng ta đón nhận quá nhiều từ Thiên Chúa “vì niềm vui của chúng ta” (1 Tm 6:17), đến nỗi sự buồn sầu có thể là một dấu chỉ của sự vô ơn. Chúng ta đã quá mắc kẹt ở nơi chính bản thân chúng ta đến nỗi chúng ta không thể nhận ra những ơn ban của Thiên Chúa.[101]

127. Với tình yêu của một người cha, Thiên Chúa nói với chúng ta: “Con ơi, nếu có của, hãy làm cho đời con được tốt đẹp... Ðừng từ chối không hưởng một ngày vui” (Hc 14:11.14). Thiên Chúa muốn chúng ta phải tích cực, biết ơn và không phức tạp: “Ngày gặp may mắn, hãy cứ vui hưởng... con người do Thiên Chúa làm nên, vốn đơn sơ ngay thẳng, nhưng chính họ lại đi tìm đủ chuyện rắc rối quanh co” (Gv 7:14.29). Trong bất cứ trường hợp nào, thì chúng ta vẫn luôn tỉnh táo và noi gương Thánh Phaolô: “tôi đã học sống tự lập trong bất cứ hoàn cảnh nào” (Pl 4:11). Thánh Phanxicô Assisi đã sống điều này; Ngài có thể bị choáng ngợp với lòng biết ơn trước một mẩu bánh khô cứng, hay vui mừng ngợi khen Thiên Chúa chỉ vì một cơn gió mát tạt nhẹ qua mặt Ngài.

128. Đây không phải là niềm vui mà nền văn hóa cá nhân và tiêu thụ ngày nay đang chiếm giữ. Chủ nghĩa tiêu thụ chỉ làm sưng phù tâm hồn. Nó có thể mang lại những thú vui thoáng qua và chóng qua, nhưng không phải là niềm vui. Ở đây tôi đang nói về một niềm vui sống trong sự hiệp thông, một niềm vui chia sẻ và được sẻ chia, bởi vì “cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20:35) và “ai vui vẻ dâng hiến, thì được Thiên Chúa yêu thương” (2 Cr 9:7). Tình yêu huynh đệ làm gia tăng khả năng vui của chúng ta, bởi vì nó giúp cho chúng ta có khả năng vui mừng nơi sự tốt lành của người khác: “Vui với người vui” (Rm 12:15). “Chúng tôi vui mừng khi chúng tôi yếu mà anh em lại mạnh” (2 Cr 13:9). Mặt khác, khi chúng ta “chỉ tập trung vào những nhu cầu của chúng ta, thì chúng ta tự kết án lấy chính mình cho một sự sống không có niềm vui”.[102]

SỰ CAN ĐẢM VÀ NIỀM ĐAM MÊ

129. Sự thánh thiện cũng mang sự can đảm lên tiếng nói (parrhesía): đó là sự can đảm, một động lực để phúc âm hóa và để lại một dấu ấn trên thế giới này. Để giúp chúng ta làm điều này, chính Chúa Giêsu đã đến và nói với chúng ta một lần nữa, bình thản nhưng mạnh mẽ: “Đừng sợ” (Mc 6:50). “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20). Những lời này giúp cho chúng ta tiến bước và phục vụ với cùng một lòng can đảm mà Chúa Thánh Thần đã khuấy động lên nơi các Tông Đồ, thúc đẩy họ hãy loan báo Chúa Giêsu Kitô. Sự can đảm, lòng nhiệt thành, sự tự do lên tiếng, lòng nhiệt huyết tông đồ, tất cả những điều này đều bao gồm trong từ parrhesía. Kinh Thánh cũng dùng từ này để mô tả về sự tự do của một đời sống mở ra cho Thiên Chúa và cho người khác (x. Cv 4:29, 9:28, 28:31; 2 Cr 3:12; Ep 3:12; Dt 3:6, 10:19).

130. Chân Phúc Phaolô VI, khi nói về những trở ngại cho việc phúc âm hóa, thì đã nói về lòng nhiệt thành (parrhesía) vốn “quan trọng hơn cả vì nó xuất phát từ bên trong”.[103] Quá thường là chúng ta bị cám dỗ để khép kín trước bờ biển! Nhưng Chúa lại mời gọi chúng ta hãy ra chỗ sâu và thả lưới (x. Lc 5:4). Ngài buộc chúng ta phải dành đời sống chúng ta trong công việc phục vụ của Ngài. Gắn chặt vào Ngài, chúng ta được thúc đẩy để đặt hết mọi đặc sủng của chúng ta trong việc phục vụ người khác. Chớ gì chúng ta luôn cảm thấy được thoio thúc bởi tình yêu của Ngài (2 Cr 5:14) và nói cùng với Thánh Phaolô: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cr 9:6).

131. Nhìn vao Chúa Giêsu. Lòng thương cảm thẳm sâu của Ngài đi ra chạm vào người khác. Lòng thương cảm không làm cho Ngài chần chừ, ngại ngần hay tự ý thức, như thường xảy ra với chúng ta. Mà trái lại là khác. Lòng thương cảm của Ngài làm cho Ngài ra đi cách tích cực để rao giảng và sai người khác đi rao giảng chữa lành và giải thoát. Chúng ta hãy nhìn nhận sự yếu đuối của chúng ta, nhưng hãy để cho Chúa Giêsu nắm giữ lấy nó và cũng sai cả chúng ta đi làm truyền giáo. Chúng ta yếu đuối, nhưng chúng ta đang nắm giữ kho tàng có thể làm cho chúng ta mở rộng hơn và làm cho những người lãnh nhận kho tàng ấy trở nên tốt hơn và hạnh phúc hơn. Sự can đảm và sự can đảm tông đồ là một phần thiết yếu của việc truyền giáo.

132. Parrhesía là một dấu ấn của Thần Khí; dấu ấn này làm chứng cho tính đúng đắn của việc rao giảng. Đó là một sự đảm bảo vui tươi vốn dẫn chúng ta đến với vinh quang trong Tin Mừng mà chúng ta rao giảng. Đó là một sự tín thác không lay chuyển vào Lời Chứng trung tín là Đấng ban cho chúng ta sự chắc chắn mà chẳng có gì có thể “tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa” (Rm 8:39).

133. Chúng ta cần một sự mau chóng của Thần Khí, chúng ta đừng để bị tê liệt bởi sự sợ hãi và sự thận trọng thái quá, chúng ta đừng trở nên quen dần với việc ở lại trong những ranh giới an toàn. Chúng ta hãy nhớ rằng những không gian khép kín thì ngày càng trở nên mốc nấm và bệnh hoạn. Khi các Tông Đồ bị cám dỗ để cho bản thân các vị bị khập khiễng bởi nguy hiểm và những đe dọa, thì các vị đã đồng tâm cầu nguyện để khẩn xin parrhesía: “Giờ đây, lạy Chúa, xin để ý đến những lời ngăm đe của họ, và cho các tôi tớ Ngài đây được nói lời Ngài với tất cả sự mạnh dạn” (Cv 4:29). Kết quả là, “Họ cầu nguyện xong, thì nơi họ họp nhau rung chuyển; ai nấy đều được tràn đầy Thánh Thần và bắt đầu mạnh dạn nói lời Thiên Chúa” (Cv 4:31).

134. Giống như tiên trị Giôna, chúng ta liên tục bị cám dỗ để chạy đến một nơi an toàn. Nó có nhiều tên gọi khác nhau: chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa linh đạo, sống trong một thế giới nhỏ bé, nghiện ngập, ngoan cố, sự bác bỏ những ý tưởng và cách tiếp cận mới, chủ nghĩa giáo điều, hoài niệm, chủ nghĩa bi quan yếm thế, núp phía sau những lề luật và qui định. Chúng ta có thể chống lại khi bỏ lại phía sau lối giải quyết mọi sự cách dễ dãi và quen thuộc. Nhưng những thách đố có liên quan có thể giống như cơn bão, con cá heo, con sâu làm khô cây thầu dầu, hay làn gió và mặt trời làm cho đầu Giôna nóng lên. Đối với chúng ta, cũng như đối với ông, chúng có thể đóng vai trò đưa chúng ta trở về với Thiên Chúa của sự dịu dàng, Đấng mời gọi chúng ta hãy luôn thực hiện một hành trình mới mẻ.

135. Thiên Chúa là sự mới mẻ vĩnh cửu. Ngài thúc đẩy chúng ta hãy liên lỉ lên đường cách mới mẻ, vượt ra khỏi điều gì là thân quen, ra khỏi những ranh giới và hơn nữa. Ngài dẫn chúng ta đến nơi mà nhân loại của chúng ta bị tổn thương nhất, nơi mà những người nam nữ, dưới dáng vẻ của một sự tuân thủ nông cạn, để tiếp tục tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời. Thiên Chúa thì không sợ hãi! Ngài không biết sợ! Ngài luôn lớn hơn những kế hoạch và mưu tính của chúng ta. Không sợ những ranh giới, chính Ngài đã trở thánh một ranh giới (x. Pl 2:6-8; Ga 1:14). Vì thế nếu chúng ta dám đi đến những ranh giới, thì chúng ta sẽ thấy Ngài ở đó; thực vậy, Ngài đã ở đó. Chúa Giêsu đã ở đó, nơi tâm hồn của những anh chị em của chúng ta, nơi thân xác bị thương tổn của họ, trong những rắc rối của họ và trong tình trạng bị bỏ mặc thẳm sâu của họ. Ngài đã ở đó.

136. Thật đủ, chúng ta cần phải mở ra cánh cửa lòng của chúng ta cho Chúa Giêsu, Đấng đang đứng ở ngoài và gõ (x. Kh 3:20). Tuy nhiên, đôi khi tôi tự hỏi lẽ nào Chúa Giêsu lại đã ở trong chúng ta và gõ lên cửa để chúng ta để cho Ngài thoát ra khỏi tình trạng qui ngã nhạt nhẽo của chúng ta. Trong Tin Mừng, chúng ta thấy cách mà Chúa Giêsu “rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa” (Lc 8:1). Sau khi phục sinh, khi các môn đệ tản mát tứ phía, Chúa đã đồng hành với các ông (x. Mc 16:20). Đây là điều xảy ra như là kết quả của một cuộc gặp gỡ thật sự.

137. Sự tự mãn là mang tính cám dỗ; nó nói với chúng ta rằng không có điểm nào trong việc nỗ lực thay đổi mọi sự cả, rằng chẳng có gì chúng ta có thể làm cả, vì đây là cách mà mọi sự vẫn luôn là và rồi chúng ta phải luôn thu xếp mà tồn tại. Bởi sức mạnh của thói quen chúng ta không còn đứng lên trước sự dữ nữa. Chúng ta “để cho mọi thứ là thế”, hoặc như thể ai đó khác quyết định mọi thứ cần phải là. Nhưng chúng ta hãy để cho Chúa đánh thức chúng ta khỏi tình trạng hôn mê của chúng ta, giải thoát chúng ta khỏi tình trạng lười biếng của chúng ta. Chúng ta hãy suy nghĩ lại về cách giải quyết công việc thông thường của chúng ta; chúng ta hãy mở mắt và tai chúng ta ra, và trên hết là tâm hồn chúng ta ra, để không tự mãn về mọi sự như chúng là, nhưng được thúc đẩy bởi lời hằng sống và hiệu năng của Chúa phục sinh.

138. Chúng ta được thôi thúc để hành động theo gương của tất cả mọi linh mục, tu sĩ, và giáo dân này là những người đã tận hiến đời mình cho việc loan báo và phục vụ người khác với lòng trung thành tuyệt vời, thường là chịu rủi ro mạng sống họ và chắc chắn là với cái giá là sự an nhàn của họ. Chứng từ của họ nhắc nhớ chúng ta rằng, hơn cả những người quan liêu và làm chức năng, Giáo Hội cần những nhà truyền giáo đầy đam mê, nhiệt thành về việc chia sẻ sự sống thật. Các thánh làm cho chúng ta kinh ngạc, các vị an ủi chúng ta, vì qua đời sống của các vị mà các vị mời gọi chúng ta bỏ đi sự tầm thường vô nghĩa và buồn chán.

139. Chúng ta hãy xin Thiên Chúa ân sủng để không chần chừ khi Thần Khí mời gọi chúng ta hãy tiến bước. Chúng ta hãy xin lòng can đảm tông đồ để chia sẻ Tin Mừng với người khác và dừng lại việc nỗ lực biến đời sống Kitô Giáo của chúng ta thành một viện bảo tàng của những ký ức. Trong mọi hoàn cảnh, chớ gì Chúa Thánh Thần thúc đẩy chúng ta chiêm ngắm lịch sử dưới ánh sáng của Chúa Giêsu phục sinh. Bằng cách này, Giáo Hội sẽ không đứng yên, mà liên lỉ đón nhận những kinh ngạc của Thiên Chúa.

TRONG CỘNG ĐOÀN

140. Khi chúng ta sống tách ra khỏi người khác, thì thật rất khó để chiến đấu chống lại tính xác thịt, những cạm bẫy và những cơn cám dỗ của ma quỷ và sự ích kỷ của thế giới. Chúng ta thường bị tấn công bởi quá nhiều những quyến rũ, chúng ta cũng có thể trở nên cô lập, đánh mất cảm thức về thực tại của mình và sự mạch lạc nội tâm, và dễ dàng bị sa ngã.

141. Sự trưởng thành trong sự thánh thiện là một hành trình trong một cộng đoàn, bên cạnh người khác. Chúng ta thấy điều này nơi một vài cộng đoàn thánh thiện. Từ thời này đến thời kia, Giáo Hội đã phong thánh nhiều cộng đồng đã sống Tin Mừng cách anh hùng hay đã dâng lên Thiên Chúa đời sống của các thành viên của các cộng đoàn này. Chẳng hạn, chúng ta có thể nghĩ đến bảy nhà sáng lập thánh của Dòng Tôi Tớ Đức Maria, bảy nữ tu chân phúc của tu viện đầu tiên có tên là Dòng Thăm Viếng tại Madrid, các vị tử đạo Nhật Bản là Thánh Paul Miki và các đồng bạn, các vị tử đạo Hàn Quốc là Thánh Andrew Taegon và đồng bạn, hay các vị tử đạo Nam Phi Thánh Roque González, Thánh Alonso Rodríguez và đồng bạn. Chúng ta cũng nhớ đến việc làm chứng mới đây được tạo ra bởi các tu sĩ Tibhirine, Algeria, những vị đã chuẩn bị như là một cộng đoàn cho sự tử đạo. Trong nhiều cuộc hôn nhân thánh thiện nữa, mỗi người vợ chồng trở thành một phương thế mà Đức Kitô sử dụng để thánh hóa người kia. Sống hay làm việc cùng người khác là một con đường chắc chắn cho sự trưởng thánh thiêng liêng. Thánh Gioan Thánh Giá đã nói với một trong các môn đệ của Ngài: “Con đang sống với người khác trong hội dòng để được đào luyện và thử thách”.[104]

142. Mỗi một cộng đoàn đều được mời gọi để tạo ra “một không gian được Thiên Chúa soi sáng mà trong đó kinh nghiệm được sự hiện diện kín ẩn của Chúa phục sinh”.[105] Chia sẻ lời và cử hành Thánh Thể cùng nhau sẽ nuôi dưỡng tình huynh đệ và làm cho chúng ta trở thành một cộng đoàn thánh và truyền giáo. Cộng đoàn cũng mang lại những kinh nghiệm thần bí đúng đắn và được chia sẻ. Như trường hợp của Thánh Benedict và Scholastica. Chúng ta cũng có thể nghĩ về kinh nghiệm thiêng liêng cao cả được chia sẻ bởi Thánh Augustine và mẹ Ngài, Thánh Monica. “Khi giờ đây là ngày đã điểm ngày mà mẹ con muốn rời khỏi đời này, một ngày Ngài biết đến chứ không phải với chúng con, ngày ấy đến, như con tin bởi sự sắp đặt bí nhiệm của Ngài, là ngày mà mẹ con và con đứng một mình tựa vào một khung cửa sổ nhìn ra vườn...Chúng con mở rộng tâm hồn mình ra để uống lấy những dòng chảy từ suối nguồn của Chúa, nguồn sự sống vốn ở trong Chúa...Và khi chúng con nói về sự khôn ngoan ấy và mệt mỏi chạy theo sự khôn ngoan ấy, thì chúng con chạm vào sự khôn ngoan ấy theo một cách thế bởi sức mạnh của tâm hồn chúng con...sự sống vĩnh cửu có thể giống như sự sống mà trong một giây phút hiểu biết giờ đây chúng con đang dõi theo”.[106]

143. Tuy nhiên, những kinh nghiệm như thế, không thường xuyên cũng chẳng quan trọng nhất. Đời sống chung, bất luận là trong gia đình, giáo xứ, cộng đoàn tu trì hay bất cứ hình thức nào khác, được tạo thành từ những điều nhỏ bé thường ngày. Điều này đúng về cộng đoàn tạo thành bởi Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse, một cộng đoàn phản chiếu một cách gương mẫu vẻ đẹp của sự hiệp thông Ba Ngôi. Điều đó cũng đúng với đời sống mà Chúa Giêsu chia sẻ với các môn đệ và thường dân của Ngài.

144. Chúng ta đừng quên rằng Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ của Ngài chú ý đến những chi tiết. Chi tiết nhỏ bé là rượu đã hết trong một buổi tiệc. Chi tiết nhỏ bé là một con chiên bị lạc. Chi tiết nhỏ bé của việc chú ý đến người đàn bà góa đã dâng cúng hai đồng xu của bà. Chi tiết nhỏ bé của việc có thêm dầu dự phòng cho những chiếc đèn, để lỡ chàng rể trì hoãn. Chi tiết nhỏ bé của việc hỏi các môn đệ là họ có bao nhiêu chiếc bánh. Chi tiết nhỏ bé của việc dọn sẵn than hồng và cá nướng khi Ngài đợi các môn đệ ngay lúc bình minh ló rạng.

145. Một cộng đoàn nuôi dưỡng những chi tiết nhỏ bé của tình yêu,[107] mà các thành viên của cộng đoàn ấy quan tâm đến nhau và tạo ra một môi trường cởi mở và truyền giáo, là một nơi mà Chúa phục sinh đang hiện diện, thánh hóa cộng đoàn ấy theo kế hoạch của Chúa Cha. Có nhiều khi, bởi ân sủng của tình yêu Thiên Chúa, chúng ta được ban giữa những chi tiết nhỏ bé này, kinh nghiệm ủi an về Thiên Chúa. “Một đêm đông nọ tôi đang thực hiện nhiệm vụ nhỏ bé của mình như thường lệ...Đột nhiên, tôi nghe từ xa một âm thanh hòa hợp của một loại nhạc cụ. Rồi tôi thấy rõ một căn phòng vẽ, được trang hoàn ánh sáng lộng lẫy, đầy những người phụ nữ trẻ tuổi ăn mặc lịch lãm đang trò chuyện với nhau và dành cho nhau hết mọi kiểu khen ngợi và những lời có cánh thế tục khác. Rồi ánh nhìn của tôi chạm vào một người nghèo là người không giá trị mà tôi hỗ trợ. Thay vì những dòng nhạc tuyệt vời, thì tôi chỉ nghe thấy những lời than vãn...Tôi không thể diễn đạt bằng lời điều gì đã xảy ra trong tâm hồn tôi; điều mà tôi biết là Chúa đã soi sáng điều đó bằng những tia sáng của sự thật vốn vượt quá xa vẻ rực rỡ tăm tối của những buổi tiệc trần thế đến nỗi tôi không thể tin vào hạnh phúc của tôi”.[108]

146. Trái với chủ nghĩa tiêu thụ đang ngày càng phát triển vốn có xu hướng cô lập chúng ta trong một mong muốn tìm kiếm sự giàu có tách ra khỏi người khác, thì con đường thánh thiện của chúng ta chỉ có thể làm cho chúng ta ngày càng đồng hóa hơn nữa với lời cầu nguyện của Chúa Giêsu “để tất cả nên một, như, lạy Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha” (Ga 17:21).

TRONG SỰ CẦU NGUYỆN LIÊN LỈ

147. Sau cùng, mặc dù điều này dường như tỏ tường, thì chúng ta cần nhớ rằng sự thánh thiện hệ tại ở nơi sự mở ra theo thói quen trước Đấng siêu việt, được thể hiện trong cầu nguyện và tôn thờ. Các thánh được nhận ra bởi tinh thần cầu nguyện và một nhu cầu hiệp thông với Thiên Chúa. Các Ngài có được một sự quan tâm đặc biệt đối với thế giới này là hạn hẹp và ngột ngạt, và, giữa những quan tâm và dấn thân của các Ngài, thì các Ngài khao khát Thiên Chúa, đánh mất chính bản thân các Ngài trong ngợi khen và chiêm ngắm Thiên Chúa. Tôi không tin vào sự thánh thiện mà không có cầu nguyện, ngay cả khi việc cầu nguyện không nhất thiết phải dài giờ hay có liên quan đến những cảm xúc mạnh.

148. Thánh Gioan Thánh Giá nói với chúng ta: “Nỗ lực để luôn ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa hoặc là thật, tưởng tượng, hay hiệp nhất, cho đến mức độ công việc của bạn cho phép”.[109] Sau cùng, lòng khao khát Thiên Chúa của chúng ta chắc chắn sẽ có được sự thể hiện trong đời sống hằng ngày của chúng ta: “Hãy nỗ lực để liên lỉ trong cầu nguyện, và giữa những hoạt động thể lý thì đừng bỏ việc cầu nguyện. Bất luận khi bạn ăn, uống, trò chuyện với người khác, hay làm điều gì đó, hãy luôn hướng đến Thiên Chúa và gắn chặt tâm hồn bạn vào Ngài”.[110]

149. Tuy nhiên, để cho điều này xảy ra, một vài phút giây dành một mình với Thiên Chúa cũng rất cần thiết. Đối với Thánh Teresa Avila, thì cầu nguyện “chẳng là gì khác ngoài việc đối thoại thân tình, và trong sự trò chuyện liên đới thường xuyên với Thiên Chúa mà chúng ta biết là yêu thương chúng ta”.[111] Tôi muốn khẳng định rằng điều này thật đúng không chỉ với một vài người đặc biệt, mà với tất cả chúng ta, vì “chúng ta đều cần sự tĩnh lặng này, được lấp đầy bởi sự hiện diện của Thiên Chúa là Đấng chúng ta tôn thờ”.[112] Việc cầu nguyện đầy tín thác là một sự đáp trả của một tâm hồn mở ra cho việc gặp gỡ Thiên Chúa diện đối diện, nơi mà tất cả đều bình an và tiếng nói âm thầm của Thiên Chúa có thể được lắng nghe giữa sự tĩnh lặng.

150. Trong sự tĩnh lặng ấy, chúng ta có thể biện phân, dưới ánh sáng của Thần Khí , những nẻo đường của sự thánh thiện mà Thiên Chúa mời gọi chúng ta. Bằng không, thì bất cứ một quyết định nào mà chúng ta thực hiện chỉ là một sự sắp đặt mang tính bề ngoài mà, thay vì tôn vinh Tin Mừng trong đời sống của chúng ta, sẽ ngụy trang hoặc nhận chìm Tin Mừng. Đối với mỗi người môn đệ, thì thật thiết yếu để dành thời gian với Thầy, để luôn lắng nghe lời Ngài, và luôn học từ Ngài. Trừ khi chúng ta lắng nghe, bằng không thì tất cả mọi lời của chúng ta sẽ chẳng là gì ngoài là lời tán gẫu vô dụng.

151. Chúng ta cần phải nhớ rằng “sự nghiêm ngắm diện mạo của Chúa Giêsu, đã chết và sống lại, khôi phục bản tính con người chúng ta, ngay cả khi nó đã bị đổ vỡ bởi những khó khăn của cuộc đời này hay mị làm cho biến dạng bởi tội lỗi. Chúng ta phải không được thuần hóa sức mạnh của diện mạo Chúa Kitô”.[113] Vì thế tôi xin hỏi bạn: Có những giây phút bạn đặt mình thinh lặng trước sự hiện diện của Thiên Chúa, khi bạn bình thản dành thời gian với Ngài, khi bạn chìm ngập trong cái nhìn của Ngài không? Bạn có để cho ngọn lửa của Ngài bừng cháy trong tâm hồn bạn không? Trừ khi bạn để cho Ngài làm cho bạn thêm nóng hơn mỗi ngày một hơn bằng tình yêu và sự dịu dàng của Ngài, thì bạn sẽ không bốc cháy được. Do đó làm sao mà bạn có thể làm cho tâm hồn của người khác bừng cháy bởi lời và việc làm chứng của bạn? Nếu, khi nhìn ngắm diện mạo của Đức Kitô, bạn cảm thấy không thể để cho chính bản thân bạn được chữa lành và biến đổi, để rồi đi vào trong trái tim của Chúa, đi vào trong các vết thương của Ngài, vốn chính là ngai tòa của lòng thương xót thánh.[114]

152. Tôi kêu gọi rằng chúng ta đừng bao giờ coi việc cầu nguyện thinh lặng như là một hình thức thoát ly khỏi thế giới xung quanh chúng ta. Một lữ khách người Nga, một người đã cầu nguyện liên lỉ, nói rằng việc cầu nguyện như thế không tách ông ra khỏi điều đang xảy ra xung quanh ông. “Mọi người đều tử tế với tôi; điều đó như thể là mọi người yêu thương tôi....Không chỉ tôi cảm thấy [hạnh phúc và an ủi] trong linh hồn tôi, nhưng cả thế giới bên ngoài dường như đối với tôi cũng đầy sự hấp dẫn và niềm vui”.[115]

153. Lịch sử cũng không tan biến. Cầu nguyện, vì nó được nuôi dưỡng bởi ơn ban của Thiên Chúa hiện diện và đang hoạt động trong đời sống của chúng ta, phải luôn được đánh dấu bởi sự tưởng nhớ. Ký ức về những công việc của Thiên Chúa là trung tâm cho kinh nghiệm về giao ước giữa Thiên Chúa và dân của Ngài. Thiên Chúa muốn đi vào lịch sử, và vì thế việc cầu nguyện của chúng ta được đan dệt bằng những ký ức. Chúng ta nghĩ lại không chỉ về Lời mạc khải của Ngài, mà còn về cả đời sống của chúng ta, đời sống của người khác, và tất cả mọi điều mà Thiên Chúa đã thực hiện trong Giáo Hội. Đây là ký ức tạ ơn mà Thánh Ignatius Loyola nói đến trong tập sách Chiêm Niệm Để Đạt Tới Tình Yêu của Ngài,[116] khi Ngài mời gọi chúng ta hãy nhớ về hết mọi phúc lành mà chúng ta đã lãnh nhận từ Thiên Chúa. Hãy nghĩ về lịch sử của riêng bạn khi bạn cầu nguyện, và ở đó bạn sẽ tìm thấy lòng thương xót đầy tràn. Điều này cũng sẽ làm gia tăng sự ý thức của bạn là Thiên Chúa hằng luôn nhớ đến bạn; Ngài không bao giờ lãng quên bạn. Vì thế việc ấy tạo nên cảm thức để xin Ngài chiếu ánh sáng trên những chi tiết nhỏ bé nhất của cuộc đời bạn, vì Ngài biết hết tất cả những chi tiết ấy.

154. Cầu nguyện xin ơn là một sự diễn tả của một tâm hồn tín thác vào Thiên Chúa và nhận biết rằng tự thân tâm hồn ấy chẳng thể làm được việc gì. Đời sống của dân trung tín của Thiên Chúa được đánh dấu bởi sự xin ơn liên lỉ được phát xuất từ một tình yêu đầy tràn niềm tin và sự tin tưởng lớn lao. Chúng ta đừng coi thường việc cầu nguyện xin ơn, một việc quá thường sẽ làm dịu tâm hồn chúng ta và giúp chúng ta kiên trì trong hy vọng. Việc cầu nguyện chuyển cầu có một giá trị đặc biệt, vì đó là một hành động của việc tín thác vào Thiên Chúa và, đồng thời, là một sự diễn tả tình yêu dành cho người thân cận của chúng ta. Có những người nghĩ rằng, dựa vào nền linh đạo một phía, thì việc cầu nguyện ấy phải là sự chiêm ngắm thuần túy Thiên Chúa, thoát khỏi mọi sự lo ra, như thể các tên gọi và diện mạo của người khác một cách nào đó là một sự chen ngang cần phải né tránh. Nhưng trong thực tế, việc cầu nguyện của chúng ta sẽ làm hài lòng Thiên Chúa hơn nữa và hiệu nghiệm hơn nữa cho sự trưởng thành về sự thánh thiện của chúng ta nếu, qua sự chuyển cầu, chúng ta đang nỗ lực để thực hiện giới răn chấp đôi mà Chúa Giêsu để lại cho chúng ta. Việc cầu nguyện chuyển cầu là một sự diễn tả sự quan tâm huynh đệ của chúng ta dành cho người khác, vì chúng ta có thể đón nhận lấy đời sống của họ, những vấn đề thẳm sâu nhất của họ và những giấc mơ cao cả nhất của họ. Đối với những người dấn thân cách đại lượng cho việc cầu nguyện chuyển cầu thì chúng ta có thể áp dụng những lời này từ Kinh Thánh: “Đây là người hằng yêu mến anh em đồng bào mình, cầu nguyện nhiều cho toàn dân” (2 Mcb 15:14).

155. Nếu chúng ta nhìn nhận Thiên Chúa tồn tại, thì chúng ta không thể không tôn thờ Ngài, đôi khi trong sự tự vấn thinh lặng, và ngợi khen Ngài trong bài ca vui nhộn. Do đó chúng ta cùng chung kinh nghiệm với Chân Phúc Charles de Foucauld, là vị đã nói: “Ngay khi tôi tin rằng có một Thiên Chúa, thì tôi hiểu rằng tôi chẳng thể làm gì hơn là sống cho Ngài”.[117] Trong đời sống của dân lữ hành của Thiên Chúa, có thể có nhiều cử chỉ đơn sơ của sự tôn thờ thuần túy, như khi “cái nhìn của một lữ khách vào một hình ảnh biểu trưng cho tình cảm và sự gần gũi của Thiên Chúa. Tình yêu sẽ dừng lại, chiêm ngắm mầu nhiệm, và vui hưởng trong sự tĩnh lặng”.[118]

156. Việc đọc lời của Thiên Chúa trong tinh thần cầu nguyện, Lời “ngọt ngào hơn mật ong” (Tv 119:103) nhưng lại là “thanh gươm hai lưỡi” (Dt 4:12), sẽ giúp chúng ta dừng lại và lắng nghe tiếng nói của Vị Thầy. Việc ấy trở thành ngọn đèn soi bước chúng ta và ánh sáng cho hành trình của chúng ta (x. Tv 119:105). Như hội đồng giám mục Ấn Độ đã nhắc nhớ chúng ta, “việc tôn kính lời của Thiên Chúa không chỉ là một trong nhiều hình thức tôn kính, tuyệt với và đôi khi mang tính chọn lựa. Việc tôn kính này đi vào tận trọng tâm và căn tính của đời sống Kitô Giáo. Lời Chúa có sức mạnh làm biến đổi cuộc đời chúng ta”.[119]

157. Gặp gỡ Chúa Giêsu trong Kinh Thánh sẽ dẫn chúng ta đến với Thánh Thể, nơi mà lời được viết ra đạt tới hiệu năng cao cả nhất của nó, vì ở đó Lời hằng sống thật sự hiện diện. Trong Thánh Thể, Thiên Chúa duy nhất chân thật sẽ nhận lãnh sự thờ phượng cao cả nhất mà thế giới có thể dành cho Ngài, vì đó là chính Đức Kitô là Đấng được trao ban. Khi chúng ta lãnh nhận Ngài trong Hiệp Lễ, chúng ta có thể canh tân giao ước của chúng ta với Ngài và để cho Ngài thực hiện công việc tròn đầy hơn nữa của việc biến đổi đời sống chúng ta.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ)

CHƯƠNG 1 - LỜI MỜI GỌI ĐẾN SỰ THÁNH THIỆN

CHƯƠNG 2 - HAI KẺ THÙ TINH VI CỦA SỰ THÁNH THIỆN

CHƯƠNG 3 - DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA THẦY

 

[95] There are some forms of bullying that, while seeming delicate or respectful and even quite spiritual, cause great damage to others’ self-esteem.

 

[96] Precautions, 13.

 

[97] Ibid., 13.

 

[98] Cf. Diary. Divine Mercy in My Soul, Stockbridge, 2000, p. 139 (300).

 

[99] THOMAS AQUINAS, Summa Theologiae, I-II, q. 70, a. 3.

 

[100] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 6: AAS 105 (2013), 1221.

 

[101] I recommend praying the prayer attributed to Saint Thomas More: “Grant me, O Lord, good digestion, and also something to digest. Grant me a healthy body, and the necessary good humour to maintain it. Grant me a simple soul that knows to treasure all that is good and that doesn’t frighten easily at the sight of evil, but rather finds the means to put things back in their place. Give me a soul that knows not boredom, grumbling, sighs and laments, nor excess of stress, because of that obstructing thing called ‘I’. Grant me, O Lord, a sense of good humour. Allow me the grace to be able to take a joke and to discover in life a bit of joy, and to be able to share it with others”.

 

[102] Post-Synodal Apostolic Exhortation Amoris Laetitia (19 March 2016), 110: AAS 108 (2016), 354.

 

[103] Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 80: AAS 68 (1976), 73. It is worth noting that in this text Blessed Paul VI closely links joy and parrhesía. While lamenting a “lack of joy and hope” as an obstacle to evangelization, he extols the “delightful and comforting joy of evangelizing”, linked to “an interior enthusiasm that nobody and nothing can quench”. This ensures that the world does not receive the Gospel “from evangelizers who are dejected [and] discouraged”. During the 1975 Holy Year, Pope Paul devoted to joy his Apostolic Exhortation Gaudete in Domino (9 May 1975): AAS 67 (1975), 289-322.

 

[104] Precautions, 15.

 

[105] JOHN PAUL II, Apostolic Exhortation Vita Consecrata (25 March 1996), 42: AAS 88 (1996), 416.

 

[106] Confessiones, IX, 10, 23-25: PL 32, 773-775.

 

[107] I think especially of the three key words “please”, “thank you” and “sorry”. “The right words, spoken at the right time, daily protect and nurture love”: Post-Synodal Apostolic Exhortation Amoris Laetitia (19 March 2016), 133: AAS 108 (2016), 363.

 

[108] THÉRÈSE OF THE CHILD JESUS, Manuscript C, 29 v-30r.

 

[109] Degrees of Perfection, 2.

 

[110] ID., Counsels to a Religious on How to Attain Perfection, 9.

 

[111] Autobiography, 8, 5.

 

[112] JOHN PAUL II, Apostolic Letter Orientale Lumen (2 May 1995), 16: AAS 87 (1995), 762.

 

[113] Meeting with the Participants in the Fifth Convention of the Italian Church, Florence, (10 November 2015): AAS 107 (2015), 1284.

 

[114] Cf. BERNARD OF CLAIRVAUX, Sermones in Canticum Canticorum, 61, 3-5: PL 183:1071-1073.

 

[115] The Way of a Pilgrim, New York, 1965, pp. 17, 105-106.

 

[116] Cf. Spiritual Exercises, 230-237.

 

[117] Letter to Henry de Castries, 14 August 1901.

 

[118] FIFTH GENERAL CONFERENCE OF THE LATIN AMERICAN AND CARIBBEAN BISHOPS, Aparecida Document (29 June 2007), 259.

 

[119] CONFERENCE OF CATHOLIC BISHOPS OF INDIA, Final Declaration of the Twenty-First Plenary Assembly, 18 February 2009, 3.2