Đức Hồng Y Cantalamessa - Bài giảng Mùa Vọng Thứ II năm 2020

"Chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời" (1 Ga 1:2)

“Hãy an ủi dân ta: Thiên Chúa anh em phán” (Is 40:1). Bài đọc thứ I của Chúa Nhật Thứ II Mùa Vọng Chính bắt đầu bằng những lời này của Isaiah. Những lời này có liên hệ đến một lời mời gọi, thực ra là một mệnh lệnh, thật phù hợp là nói với các vị mục tử và những vị giảng thuyết của Giáo Hội. Ngày hôm nay chúng ta muốn đón nhận vào tâm hồn lời mời gọi này và suy tư về việc loan báo mang tính ủi an nhất mà niềm tin vào Đức Kitô mang lại cho chúng ta.

“Chân lý vĩnh cửu thứ hai” mà hoàn cảnh nạn dịch này làm nổi bật là tính bất ổn và tạm thời của mọi sự. Mọi sự ở trong tình trạng chuyển biến: sự giàu có, sức khoẻ tốt, vẻ đẹp, sức mạnh thể lý…Đó là điều mà chúng ta đối diện trong mọi lúc. Để nhận ra điều này thì người ta chỉ phải so sánh bất cứ hình ảnh nào thời nay – hình ảnh của riêng mình hay hình ảnh của bất cứ một người nổi tiếng nào – với những hình ảnh của 20 hay 30 năm về trước. Khi bị choáng váng bởi nhịp sống mà chúng ta không chú ý đến, chúng ta không đắm chìm vào đó để đưa ra những kết luận cần thiết.

Và này đây, thật đột ngột, tất cả mọi điều mà chúng ta đang giả đò cho thấy khía cạnh mỏng giòn của nó, như mặt của một lớp băng mà bạn đang vui vẻ lướt trên đó đột nhiên tan vỡ ngay dưới chân và bạn bị nhận chìm dưới làn nước lạnh cóng. Như Đức Thánh Cha đã nói trong phần thông điệp “urbi et orbi” đáng nhớ ấy vào ngày 27/3: “Cơn bão làm bộc lộ sự mỏng giòn của chúng ta và làm lộ những thứ chắc chắn giả và chóng qua mà chúng ta đang xây dựng xung quanh trong các chương trình hằng ngày của mình, các dự án, những thói quen và ưu tiên của mình”.

Cuộc khủng hoảng toàn thế giới mà chúng ta đang kinh qua có thể là một cơ hội để khám phá với một sự xoa dịu là, ngoài bất cứ thứ gì khác, thì có một điểm vững chắc, một nền tảng vững chắc, hay đúng hơn là một tảng đá mà chúng ta có thể xây dựng đời mình trên đó khi ở mặt đất này. Từ Phục Sinh – Pesach theo tiếng Híp-ri – có nghĩa là một sự trung chuyển và tiếng La Tinh có nghĩa là transitus. Từ này gợi lên một điều gì đó “sẽ qua đi” và “mang tính trung chuyển”, do đó một điều mang tính tiêu cực. Thánh Augustine cảm thấy sự khó khăn này và đã giải quyết nó theo một cách thế mang tính khai sáng. Ngài giải thích là sống kinh nghiệm Phục Sinh thực ra không có nghĩa là đi qua/chuyển đổi, mà “đi qua điều sẽ không qua đi”; nó có nghĩa là “đi qua khỏi thế gian, để không qua đi với thế gian”. Vượt qua với tâm hồn bạn, trước khi qua đi với thân xác bạn!

Điều “sẽ không bao giờ qua đi”, theo định nghĩa, là sự vĩnh cửu. Chúng ta phải khám phá niềm tin vào đời sau. Đây là một trong những đóng góp mà các tôn giáo có thể cùng nhau nỗ lực tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn và huynh đệ hơn. Định nghĩa này giúp chúng ta hiểu rằng chúng ta đang đi cùng nhau trên con đường của chúng ta về một quê hương chung, nơi không có những cách biệt về chủng tộc hay quốc tịch. Chúng ta không chỉ chia sẻ con đường, mà còn chung cả đích điểm. Với những khái niệm và bối cảnh quan trọng này, chân lý này là chung đối với mọi tôn giáo lớn, ít nhất là những người tin vào một Thiên Chúa cá vị. “Ai đến gần Thiên Chúa, thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người” (Dt 11:6). Đây là cách mà Thư Gửi Tín Hữu Do Thái đúc kết một nền tảng phổ quát – và mẫu số chung tối thiểu – của mọi niềm tin và mọi tôn giáo.

Đối với các Kitô Hữu thì niềm tin vào sự sống vĩnh cửu không dựa trên những lý luận triết học về tính bất tử của linh hồn. Niềm tin này dựa trên một sự thật rõ ràng, đó là sự phục sinh của Đức Kitô, và vào lời hứa của Ngài: “Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.4 Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi” (Ga 14:2-3). Đối với chúng ta là các Kitô Hữu thì sự sống vĩnh cửu không phải là một kiểu trừu tượng, mà là một con người. Nó có nghĩa là sống với Chúa Giêsu, “tạo thành một thân thể” với Ngài, thông phần sự sống của Đấng phục sinh trong sự trọn vẹn và niềm vui sự sống của Ba Ngôi: “Cupio dissolvi et esse cum Christo”, như Thánh Phaolô nói với người dân Phi-líp-phê yêu dấu của Ngài: “ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Ki-tô” (Pl 1:23).

Một vòng tròn của niềm tin

Chúng ta có thể tự hỏi điều gì đã xảy ra với chân lý Kitô Giáo về sự sống đời đời. Trong những thời điểm như thời điểm của chúng ta hiện nay, khi đã bị thống lĩnh bởi vật lý và vũ trụ học, những người vô thần trên hết diễn tả sự chối bỏ sự hiện hữu của một đấng tạo thành thế giới của họ; vào thế kỷ 19 họ thích chối bỏ sự sống đời sau. Hegel đã tuyên bố rằng “Người Kitô Hữu đã lãng phí vào Thiên Đàng năng lượng vốn dành cho trái đất”. Khi chọn cách phê bình này, Feuerbach và trên hết là Marx đã chống lại niềm tin vào một sự sống sau khi chết, khi tuyên bố rằng điều đó xa lạ với tất cả những cam kết thuộc trái đất. Ý tưởng về sự sinh tồn mang tính cá vị vào Thiên Chúa được thay thế bằng một sự sinh tồn với các loại và trong một xã hội tương lai. Từng chút một, từ “vĩnh cửu” không không chỉ được nhìn bằng sự hoài nghi, mà còn bị lãng quên và bị làm cho im tiếng.

Do đó sự tục hoá đưa tiến trình này đến sự thành toàn và làm như vậy đến mức là thật sẽ khó chịu để tiếp tục nói về sự vĩnh cửu giữa những người có học thức, những người đang sống với thời đại lúc ấy. Sự tục hoá là một hiện tượng phức tạp trong sự hỗn độn của nó. Nó có thể có liên hệ đến sự tự trị cảu các vấn đề thế gian và đến sự chia tách giữa nước Thiên Chúa và nước của Caesar, và theo nghĩa này thì điều đó không chỉ chống lại Tin Mừng, mà còn tìm thấy nơi nó một trong những cội rễ sâu xa nhất. Mặt khác, từ thế tục cũng có thể nói đến toàn thể các thái độ mang tính xã hội vốn thù nghịch với tôn giáo và với niềm tin. Theo nghĩa này, thì thật phù hợp để dùng từ chủ nghĩa thế tục. Chủ nghĩa thế tục trong cùng một mối liên hệ với sự tục hoá là chủ nghĩa khoa học là so với một sự rõ ràng mang tính khoa học và chủ nghĩa lý luận so với sự lý luận.

Ngay cả trong những giới hạn như vậy, thì các khía cạnh đa diện của sự tục hoá xuất hiện trong nhiều lãnh vực như thần học, khoa học, đạo đức, biện giải Kinh Thánh, những thể hiện văn hoá và đời sống hằng ngày. Tuy nhiên, ý nghĩa ban sơ và là ý nghĩa duy nhất và điều đó thật rõ ràng. “Sự tục hoá”, giống như “chủ nghĩa thế tục”, xuất phát từ từ saeculum mà trong ngôn ngữ hằng ngày sau cùng nói đến thời gian hiện tại – “thời gian hiện tại”, theo Thánh Kinh -, trong sự trái nghịch với sự vĩnh cửu – thời gian tương lai, hay ‘saeculum saeculorum”, “thời gian của mọi thời gian, sự sống vĩnh cửu”, như Kinh Thánh gọi. Theo nghĩa này, chủ nghĩa thế tục là một sự đồng nghĩa với chủ nghĩa đương thời, vốn là một sự giảm thiểu thực tại cách đặc biệt thành chiều kích thế tục của nó. Điều đó có nghĩa là một sự sụp đổ hoàn toàn của một chân trời của vĩnh cửu.

Tất cả điều này có một tác động rõ ràng trên niềm tin của người tín hữu. Niềm tin vốn rất quan trọng ấy, vào thời điểm này, đã trở nên xấu hổ và thẹn thùng. Lần sau cùng là khi nào mà chúng ta được nghe ai đó giảng về sự sống đời đời? Triết gia Kierkegaard đã đúng: “Sự sống đời sau đã biến thành một trò đùa, một nhu cầu quá không chắc chắn đến mức sự sống đời sau không còn được tôn trọng, mà thậm chí còn không được xét đến. Người ta đang vui thú với tư tưởng là có một thời điểm ý tưởng này sẽ hình thành toàn bộ sự sống”. Chúng ta vẫn luôn lặp lại trong Kinh Tin Kính: “Chúng tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”, mà không thật sự trân trọng tầm quan trọng của những lời này. Sự sụp đổ của chân trời của sự vĩnh cửu có cùng một tác động trên niềm tin Kitô Giáo như cát có tác động trên lừa: nó dập tắt lửa.

Hậu quả mang tính thực tế của vòng tròn ý tưởng này về sự vĩnh cửu là gì? Thánh Phaolô nói về ý định của những người không tin vào sự phục sinh kẻ chết: “chúng ta cứ ăn cứ uống đi, vì ngày mai chúng ta sẽ chết” (1 Cr 15:32). Khi sự vĩnh cửu bị làm cho méo mó, thì lòng mong muốn tự nhiên để sống vĩnh cửu lại trở thành một khao khát, hay một sự cuồng nộ, để sống khoẻ, nghĩa là sống vui thú, ngay cả bằng cái giá mạng sống của người khác, nếu cần. Toàn bộ cõi đất trở thành điều mà Dante Alighieri đã nói về nước Ý vào thời ấy: “sân đập lúa nhỏ kích động sự dã man của chúng ta”. Một khi chân trời vĩnh cửu đã bị sụp đổ, thì nỗi khổ nhân sinh dường như trở thành một sự ngu muội chấp đôi và không có thuốc chữa. Thế giới giống như “một đống kiến đổ nát” và “hình vẽ trên một bờ biển bị xoá sạch bởi một làn sóng tiếp theo”.

Niềm tin vào sự vĩnh cửu và sự phúc âm hoá

Niềm tin vào sự sống vĩnh cửu là một trong những điều kiện vốn làm cho việc loan báo trở thành khả thể. Như Thánh Phaolô Tông Đồ viết:  “nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng […] Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (1 Cr 15:14 và 19). Việc rao giảng về sự sống vĩnh cửu là sức mạnh và là quà tặng của việc rao giảng Kitô Giáo. Chúng ta hãy nhìn vào điều đã xảy ra trong việc rao giảng thời sơ khai nhất của Kitô Giáo. Ý tưởng xưa nhất và lan rộng nhất trong thế giới ngoại giáo của Hy Lạp và La Mã là sự sống thật kết thúc với sự chết; sau đó chỉ có một sự sống như côn trùng, trong một thế giới tối tăm, không có hình dạng hay sắc màu. Khi ông cận kề với cái chết, hoàng đế La Mã là Hadrian đã nói với chính ông những lời nổi tiếng được ghi khắc trên bia mộ của ông:

Hỡi linh hồn bé nhỏ, dịu dàng và lang bạt, khách mời và bạn đồng hành của thân xác tôi, giờ thì bạn sẽ ngự ở bên dưới trong những nơi xanh xao, trơ trọi và trống rỗng; ở đó bạn sẽ bỏ đi trò chơi xưa của bạn. Nhưng hãy dừng lại một chút, chúng ta hãy nhìn vào nhau trên những phiến đá thân quen này, trên những đồ vật mà chẳng hoài nghi gì là chúng ta sẽ chẳng bao giờ gặp lại nữa.

Đối với một người mà, trong cuộc sống của mình, đã có những ngôi nhà sang trọng được xây dựng cho bản thân mình – hãy đến thăm Villa Adriana tại Tivoli để chắc chắn -, thì một tiềm năng như vậy thậm chí còn làm nản lòng hơn nữa so với một người thường. Vì ngôi mộ riêng của ông mà ông đã xây dựng là Mausoleum Hadrian, ngày nay là Lâu Đài Sant’Angelo, nhưng ông đã ý thức cách hoàn hảo là điều này sẽ chẳng làm thay đổi số phận trôi dạt của ông đến “những nơi xanh xao, trơ trọi và trống rỗng”.

Trên nền tảng này, bạn sẽ hiểu về sự ảnh hưởng mà việc loan báo Kitô Giáo về sự sống sau khi chết là hoàn toàn phong phú hơn so với sự ảnh hưởng của thế gian, không còn nước mắt, sự chết hay sự lo âu nữa, lẽ ra phải có (x. Kh 21:4). Bạn cũng sẽ hiểu vì sao chủ thể và các biểu tượng về sự sống vĩnh cửu – cây cọ, lông công, những từ “requies aeterna”, “nghỉ yên muôn đời” – lại quá thường xuất hiện trong các khu nghĩa trang nơi diễn ra các nghi lễ an táng Kitô Giáo.

Trong việc loan báo về sự sống vĩnh cửu chúng ta không chỉ mở rộng niềm tin của mình, mà còn cả tính hấp dẫn của nó với lòng khao khát thẳm sâu nhất của trái tim con người. Thực vậy chúng ta “hoàn toàn có khả năng về sự vô biên” (ens finitum, capax infiniti), những thực thể phải chết với một lòng khao khát kín ẩn dành cho sự bất tử. Trong một lá thư trả lời cho một người bạn Argentina đã qưở trách ông vì lòng kiêu ngạo rõ ràng của ông và sự giả định của ông trong việc nhận chìm vào bùn vấn đề vĩnh cửu, Miguel de Unamuno, một người dĩ nhiên là một nhà vô dịch của Kitô Giáo, đã viết:

Tôi không nói chúng ta xứng đáng một sự sống đời sau, cũng chẳng có ý nói là luận lý chứng minh điều đó cho chúng ta; tôi đang nói rằng chúng ta cần sự sống đời sau – bất luận là chúng ta xứng đáng hay không, và chỉ thế. Tôi đang nói rằng điều chỉ mang tính tạm thời sẽ không làm cho tôi no thoả, trong lòng khao khát sự vĩnh cửu của tôi, và rằng không có sự vĩnh cửu thì tôi thờ ơ với mọi sự khác và mọi sự khác chẳng tạo nên một sự khác biệt nào đối với tôi. Tôi cần sự vĩnh cửu, tôi thật sự cần! Không có sự vĩnh cửu t hì không còn niềm vui trong cuộc sống và các niềm vui cuộc sống chẳng có gì để nói với tôi nữa. Thật quá dễ để nói: “Bạn chỉ cần phải sống và bằng lòng với cuộc sống”. Thế còn về những người không bằng lòng thì sao?

Và chính bản thân ông đã thêm rằng không phải những người khao khát sự vĩnh cửu vốn cho thấy là họ chán ghét thế giới và sự sống trên mặt đất, mà thực ra họ là những người không hề: ‘Tôi quá yêu mến sự sống đến mức việc đánh mất sự sống đối với tôi là sự tồi tệ nhất trong mọi sự dữ. Những người này vui hưởng sự sống, từng ngày, và không quan tâm cần biết liệu là họ có đánh mất nó hay không hoặc có đang thật sự yêu mến sự sống này hay không”. Thánh Augustine đã nói nhiều về cùng một điều: “Đâu là lợi ích của việc sống tốt nếu người ta không sống mãi?” “Mọi sự trong thế giới này sẽ là hư vô, trừ sự vĩnh cửu”, như một trong các nhà thơ của chúng ta đã công bố. Đối với những người đương thời của chúng ta là những người đang nuôi dưỡng nhu cầu đối với sự vĩnh cửu này trong tận thẳm sâu tâm hồn họ, mà có lẽ không dám tuyên xưng điều đó thậm chí với chính bản thân họ, chúng ta có thể lặp lại điều mà Phaolô đã nói với dân thành Athen: “Vậy Đấng quý vị không biết mà vẫn tôn thờ, thì tôi xin rao giảng cho quý vị” (x. Cv 17:23).

Niềm tin vào sự vĩnh cửu là con đường đạt tới sự thánh thiện

Chúng ta không cần một niềm tin đổi mới vào sự vĩnh cửu để chỉ loan báo, nghĩa là loan báo Tin Mừng cho người khác; trước hết, chúng ta cần niềm tin này để mang lại cho bản thân chúng ta một thời khắc mới trên hành trình tiến đến sự thánh thiện. Hoa trái đầu tiên của niềm tin này là làm cho chúng ta tự do thoát khỏi bất cứ một sự dính bén nào đối với những điều chóng qua, như là việc gia tăng của cải và uy tín.

Chúng ta hãy hình dung tình huống này. Một người nhận được một lá thư mời ra khỏi nhà và yêu cầu rời khỏi ngôi nhà mà họ đang sống sớm nhất. Thật may, một chọn lựa mới để có một ngôi nhà mới xuất hiện ngay. Vậy người ấy sẽ làm gì? Họ sẽ dành hết toàn bộ số tiền để mua lại và tân trang lại ngôi nhà mà họ sẽ rời khỏi, thay vì mua một ngôi nhà mà họ sẽ dọn vào! Chẳng phải đó là điều ngớ ngẩn? À, chúng ta cũng được yêu cầu “rời khỏi” thế giới này và chúng ta trông như người ngớ ngẩn ấy nếu chúng ta chỉ nghĩ về việc trang hoàng ngôi nhà trần thế của chúng ta, mà không quan tâm gì đến việc làm những việc lành vốn sẽ theo chúng ta sau khi chết. Khi khái niệm về sự vĩnh cửu phai nhoà, thì điều này có một tác động trên người tin, vì nó sẽ làm giảm khả năng đối diện với nỗi khổ và những thử thách cuộc sống của họ bằng sự can đảm. Chúng ta cần phải tái khám phá lại một số khía cạnh của niềm tin của Thánh Bernard và Thánh Ignatius Loyola. Trong bất cứ hoàn cảnh nào hay đối diện với bất cứ trở ngại nào, các vị sẽ nói với chính mình: “Quid hoc ad aeternitatem?”, điều này sánh chi với sự vĩnh cửu?

Chúng ta hãy hình dung một người đang cầm những cái cân: một trong những cái cân này là cân tây sẽ quân bình điều bạn giữ chỉ với một tay và có ở một bên một chiếc đĩa mà bạn sẽ đặt mọi sự để cân và bên kia sẽ là một quả cân để trợ giúp cho việc đo lường hay cân nặng. Nếu nó sập, hoặc việc đo lường bị mất, thì tất cả mọi thứ bạn đặt trên đĩa sẽ nhấc bồng quả cân và làm lệch sự quân bình. Bất cứ thứ gì sẽ thắng thế, ngay cả một nắm lông ngỗng.

Chúng ta cũng giống như vậy, bất cứ khi nào chúng ta đánh mất sự đo lường về mọi sụ có liên quan đến sự vĩnh cửu: linh hồn chúng ta có thể dễ dàng bị loại bỏ bởi những sự thế gian và nỗi khổ. Mọi thứ dường như trở nên quá nặng nề, quá nhiều để chúng ta mang vác. "Nếu tay hoặc chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; thà cụt tay cụt chân mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai tay hai chân mà bị ném vào lửa đời đời” (x. Mt 18:8-9). Nhưng, khi đánh mất tầm nhìn về sự vĩnh cửu, thì chúng ta thấy thật quá nhiều ngay cả khi được yêu cầu phải nhắm mắt lại trước một màn kịch bất tử, hoặc vác lấy một thập giá nhỏ trong thầm lặng.

Thánh Phaolô tìm được sự can đảm để viết: “Thật vậy, một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời” (2 Cr 4:17-18). Sức nặng của gian truân rõ ràng là “nhẹ” vì nó chỉ là tạm thời, sức nặng của vinh quan thì “vượt quá khỏi sự so sánh” cách rõ ràng vì nó mang tính vĩnh cửu.

Nhiều người sẽ hỏi: “Sự sống vĩnh cửu gồm những gì và chúng ta sẽ làm gì trên thiên đàng?” Câu trả lời nằm trong những lời mang tính hiểu biết về Thiên Chúa của Vị Tông Đồ: “Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người” (1 Cr 2:9). Nếu được phép để nói lắp điều gì đó, thì chúng ta sẽ nói rằng chúng ta sẽ sống khi được nhận chìm vào trong một đại dương không bờ bến và không đáy cảu tình yêu Ba Ngôi. “Nhưng liệu điều đó có chán không?” Chúng ta cứ hỏi những người yêu nhau thật xem họ có chán trong đỉnh cao tình yêu của họ và liệu họ có muốn thời khắc đó kéo dài vô tận không.

Sự vĩnh cửu: niềm hy vọng và sự hiện diện

Trước khi kết thúc, tôi muốn xoá bỏ sự hoài nghi đang đè nặng niềm tin vào sự sống đời đời. Đối với người tin thì sự vĩnh cửu không chỉ là một lời hứa hay một niềm hy vọng, như Carl Marx đã tưởng nghĩ, được coi như một cách tuôn đổ trên nước trời tất cả mọi sự thất vọng của chúng ta trên mặt đất này. Đó còn là một sự hiện diện và kinh nghiệm. Trong Đức Kitô “sự sống đời đời vốn ở cùng Chúa Cha và được tỏ rõ cho chúng ta” – điều chúng ta đã thấy và đã nghe và đã chạm vào, Thánh Gioan nói (x. 1 Ga 1:1-3).

Với Đức Kitô, Ngôi lời thành xác phàm, “sự vĩnh cửu đã đi vào thời gian”. Chúng ta kinh nghiệm rằng mỗi khi chúng ta thật sự đặt niềm tin của mình vào Đức Kitô, vì những ai tin vào Ngài thì đã có được sự sống đời đời (x. 1 Ga 5:13); mỗi khi chúng ta nhận Hiệp Lễ, vì trong đó “chúng ta có được lời hứa về vinh quang mai sau”; mỗi khi chúng ta nghe những lời của Tin Mừng, vốn là “lời của sự sống đời đời” (x. Ga 6:68). Thánh Thomas Aquinas nói rằng “ân sủng là khởi đầu của vinh quang”.

Sự hiện diện ấy của vĩnh cửu trong thời gian được gọi là Chúa Thánh Thần. Ngài được định nghĩa là “bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta” (Ep 1:14; 2 Cr 5:5), và điều đó được ban tặng cho chúng ta để, sau khi nhận lãnh những hoa trái đầu mùa, chúng ta khao khát sự thành toàn. “Đức Kitô – như Thánh Augustine viết – ban cho chúng ta bảo chứng đầu tiên là Thánh Thần mà qua đó mà Ngài, Đấng không thể cám dỗ chúng ta, muốn làm cho chúng ta chắc chắn về sự thành toàn lời hứa của Ngài. Ngài hứa điều gì? Ngài hứa sự sống vĩnh cửu mà Thần Khí được ban tặng cho chúng ta như bảo chứng đầu tiên”.

Giữa sự sống của niềm tin theo thời gian và sự sống vĩnh cửu có một mối quan hệ vốn giống với sự sống trong phôi thai trong lòng mẹ và sự sống của một em bé mới sinh. Như một thần học gia vĩ đại Byzantine Trung Cổ là Nicola Cabasilas đã viết:

Thế giới này cưu mang trong cung lòng của nó một con người thiêng liêng mới, được tạo dựng theo Thiên Chúa, cho đến khi người ấy được sinh ra trong thế giới hoàn toàn không thể qua đi ấy, một khi người ấy được hình thành, được trang hoàng và làm cho hoàn hảo ở đây. Cũng như một phôi thai, trong khi cái phôi còn ở trong sự hiện hữu tối tăm và lỏng ấy, về bản chất được chuẩn bị cho sự sống trong ánh sáng, thì điều tương tự xảy ra với các thánh […]. Tuy nhiên, đối với một phôi thai, thì sự sống tương lai thì tuyệt đối là tương lai: phôi không có một tia sáng nào chạm tới, bởi bất cứ điều gì có liên hệ đến đời sống này. Sự sống vĩnh cửu không giống đối với chúng ta, vì tương lai mà thế gian này có, như nó là, đã được tuôn đổ và pha trộn với hiện tại […]. Do đó, các thánh đã được phép không chỉ lên đường và chuẩn bị cho sự sống, mà còn sống và làm việc trong đó.

Có một câu chuyện ngắn minh hoạ cho sự so sánh này giữa sự thai nghén và hạ sinh và tôi chọn sự tự do để kể trong tất cả sự đơn sơ của nó.

Có hai cặp song sinh trai/gái rất thông minh và đang trong giai đoạn phát triển đầu tiên, là trong lòng mẹ các cháu thì các cháu đã trò chuyện với nhau. Bé gái hỏi bé trai: “Theo quan điểm của em, thì sẽ có một sự sống sau khi sinh không?”. Cậu bé trả lời: “Đừng có ngu! Điều gì khiến chị nghĩ là có bất cứ thứ gì bên ngoài cái không gian hẹp tối tăm này mà hiện chúng ta đang ở đây?”. Bé gái, nỗ lực để can đảm, đã nói: “Ai mà biết, có lẽ có một bà mẹ, có ai đó theo những từ ngữ khác là người đã đặt chúng và vào đây và là người sẽ chăm sóc chúng ta”. Và cậu bé tranh luận: “Chị đã từng thấy một bà mẹ ở bất cứ nơi nào chưa? Tất cả mọi thứ chị thấy là ở đó”. Cô bé nói tiếp: “Nhưng em chẳng lẽ không thể cảm nhận đôi khi một kiểu áp lực ở ngực em đang lớn lên từng ngày và đẩy chúng ta về phía trước à?” Cậu trả lời: “Thật sự, nếu em để ý hơn, điều đó đúng; Em có thể cảm nhận điều đó luôn”. “Em thấy đấy – chị cậu bé kết luận cách hào hùng – nỗi đau này có thể là vô ích. Chị nghĩ là điều đó đang chuẩn bị cho chúng ta một điều gì đó lớn hơn cái không gian bé nhỏ này”.

Giáo Hội cần là em bé đó là người sẽ giúp con người trở nên ý thức về lòng khao khát này mà họ có vốn vẫn còn chưa được tuyên bố và đôi khi được coi là ngớ ngẩn. Cũng thật thiết yếu để bác bỏ lời cáo buộc đang gia tăng với sự hoài nghi hiện đại về chủ đề sự sống vĩnh cửu mà việc mong đợi về sự vĩnh cửu tách ra khỏi sự dấn thân đối với hành tinh và khỏi việc chăm sóc công trình tạo dựng. Trước khi xã hội hiện đại chọn trách nhiệm trực tiếp về việc cổ võ sức khoẻ và văn hoá và cỏ võ cho việc phát triển các phương pháp nông nghiệp và các tiêu chuẩn sống của con người, những người đang thực hiện các nhiệm vụ này ngày càng nhiều và tốt hơn cả các vị tu sĩ đã sống niềm tin của họ vào sự sống đời đời?

Không có nhiều người biết Bài Ca Mặt Trời hay Bài Ca Tạo Vật của Thánh Phanxicô Assisi đã xuất phát từ một sự bùng phát niềm tin vào sự sống đời đời. Các nguồn từ Dòng Phanxicô mô tả về ý nguồn gốc của bài ca như sau. Một đêm nọ, khi Thánh Phanxicô đặc biệt đớn đau về nhiều khiếm khuyết đớn đau của Ngài, thì Ngài đã nói trong tâm hồn mình: “Lạy Chúa, xin hãy đến giúp con trong nhiều khiếm khuyết của con, để con có thể mang vác chúng cách nhẫn nại!” Và ngay lập tức Ngài nghe những lời này trong thần trí: “Phanxicô, hãy nói cho ta: liệu có ai đã cho một kho báu lớn để đổi lấy những khiếm khuyết và nỗi khổ của con, lẽ nào con lại không ôm lấy trái đất và các viên đá và dòng nước là kho báu mà không có sự so sánh, quý giá và đáng yêu và đáng khát khao”. Tiếng nói ấy kết thúc: “Do vậy, hãy vui mừng và vui hưởng trong những khiếm khuyết và rắc rối của con; từ bây giờ hãy sống hạnh phúc, như thể con đã ở trong Vương Quốc của ta”.

Khi tỉnh dậy vào sáng hôm sau, Phanxicô nói với các anh em của mình: “Giờ đây tôi sẽ vui mừng biết bao giữa những khiếm khuyết và nỗi đau của tôi, và luôn tạ ơn Thiên Chúa vì ân sủng và phúc lành diệu kỳ đã ban xuống trên tôi. Thực vậy, Ngài đã thiết lập trong lòng thương xót của Ngài để ban cho chính tôi, người tôi tớ nhỏ bé bất xứng của Ngài vẫn đang sống ở đây, sự chắc chắn về việc thủ đắc được Vương Quốc vĩnh cửu của Ngài. Do đó, để ngợi khen Ngài và cho sự ủi an của tôi và cho việc xây dựng người thân cận của chúng ta, tôi muốn soạn một “Bài Ca” mới trong sự ngợi khen Thiên Chúa và các tạo vật của Ngài. Mỗi ngày chúng ta hãy vui hưởng các công trình của Thiên Chúa và chúng ta không thể sống mà không có chúng. Và mỗi ngày chúng ta đã cho thấy vô ơn trước lợi ích lớn lao như vậy, và chúng ta không ngợi khen vì điều đó đối với Đấng Tạo Dựng của chúng ta như chúng ta nên”. Và Ngài ngồi xuống, chìm vào trong sư tưởng sâu, và rồi Ngài nói: “Altissimo, onnipotente, bon Segnore…” [Lạy Thiên Chúa tối cao, quyền phép và tốt lành]. Tư tưởng về sự sống vĩnh cửu đã không gợi lên nơi Ngài việc coi khinh thế giới này và công trình tạo dựng, mà thậm chí gợi lên một lòng nhiệt thành lớn lao hơn và lòng biết ơn vì những điều này vốn làm cho nỗi đau trở nên dễ dàng chịu đựng hơn.

Suy niệm của ngày hôm nay về sự vĩnh cửu chắc chắn không miễn trừ cho chúng ta khỏi việc kinh nghiệm cùng với mọi loài thọ sinh khác của hành tinh này là thật khó biết bao để chịu đựng thử thách này mà chúng ta đang kinh qua; nhưng ít nhất nó giúp chúng ta là những người tin để không bị điều đó làm cho choáng ngợp và có khả năng vượt qua bằng lòng can đảm và niềm hy vọng cảu chúng ta trên những người không có niềm an ủi của niềm tin. Chúng ta hãy kết thúc với một lời kinh nguyện tuyệt vời từ phụng vụ.

Lạy Thiên Chúa là Đấng giúp cho tâm trí của các tín hữu hiệp nhất trong cùng một mục đích, xin ban cho dân Chúa biết yêu điều mà Ngài đã truyền và khao khát điều mà Ngài đã hứa, để giữa những sự không chắc chắn của thế giới này, tâm hồn chúng con có thể bám chặt vào nơi ấy là nơi mà niềm vui thật của chúng con được tìm thấy. Nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. AMEN.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ cantalamessa.org)