Đức Hồng Y Cantalamessa - Bài giảng Mùa Vọng Thứ I năm 2020

“Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan” (Tv 90:12)

Một nhà thơ người Ý, Giuseppe Ungaretti, đã diễn tả tình trạng của tâm trí của những người lính trong Thế Chiến Thứ Nhất bằng một bài thơ với 10 từ

Chúng ta

Như trong mùa thu

Những chiếc lá

Trên những cành cây.

Vào thời điểm này của đời sống chúng ta, toàn thể nhân loại đang kinh nghiệm về sự bấp bênh và không chắc chắn do bởi nạn dịch coronavirus.

“Thiên Chúa – như Thánh Gregrory Cả viết – đôi khi chỉ dạy chúng ta bằng lời, mặc dù đôi khi Ngài làm như vậy với những dữ kiện”. Trong một năm bị đánh dấu bởi một “dữ kiện” lớn lao và chết chóc của coronavirus, chúng ta nỗ lực để rút ra từ đó lời dạy mà từng người chúng ta có thể rút ra cho đời sống cá nhân và thiêng liêng của mình. Chúng ta chỉ có thể chia sẻ kiểu suy tư này nơi chúng ta là những người tin, như thể là sẽ thật không mấy khôn ngoan khi để nghị những suy tư này cho hết mọi người mà không có sự cách biệt, bằng không thì điều này chỉ làm gia tăng sự không dễ chịu đối với niềm tin vào Thiên Chúa mà nạn dịch này tạo ra nơi một số người.

Những chân lý vĩnh cửu mà chúng ta muốn tập trung vào trong các suy tư của chúng ta là: thứ nhất, việc chúng ta phải chết và “chúng ta không có một nơi cư ngụ vĩnh cửu trên trái đất” (Dt 13:14); thứu hai, là đời sống không kết thúc với sự chết, vì sự sống đời đời đang đợi chờ chúng ta; thứ ba, là chúng ta không đối diện với các con sóng một mình trên con thuyền nhỏ của hành tinh của chúng ta vì “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14). Sự thật đầu tiên trong ba sự thật này là đối tượng của kinh nghiệm, hai điều kia thuộc về niềm tin và niềm hy vọng.

“Memento mori!”

Chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc suy tư về điều đầu tiên trong “những chân lý vĩnh cửu này”: sự chết. “Memento mori”, Hãy nhớ là bạn sẽ chết. Các vị thầy Dòng Trappist chọn những lời này thành châm ngôn Dòng của họ và họ đã viết nó khắp nơi trong các tu viện kín của họ.

Bạn có thể nói về sự chết theo hai cách khác nhau: hoặc là dưới ánh sáng của truyền giảng hoặc dưới ánh sáng của sự khôn ngoan. Điều trước hệ tại ở việc rao giảng rằng Đức Kitô đã chiến thắng sự chết; rằng sự chết không còn là một bức tường để mọi thứ chống lại nữa, mà nó là một cầu nối cho sự sống đời đời. Con đường theo sự khôn ngoan hay con đường theo hiện sinh, mặt khác, hệ tại ở việc suy tư về thực tại sự chết vì nó là điều có thể đối với kinh nghiệm con người, để rút ra từ đó những bài học để sống một đời sống tốt. Chính trong cách tiếp cận này mà chúng ta muốn đặt bài suy tư hiện tại của chúng ta vào.

Con đường hiện sinh là con đường mà sự chết được tiếp cận trong Kinh Thánh Cựu Ước và cụ thể là trong Sách Khôn Ngoan: “xin dạy cho chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan” như tác giả Thánh Vịnh xin Thiên Chúa (Tv 90:12). Cách nhìn vào sự chết này không chấm dứt với Cựu Ước, mà nó còn tiếp tục trong Tin Mừng của Đức Kitô. Chúng ta hãy nhớ lời cảnh báo của Ngài: “Hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào” (Mt 25:13), kết thúc của dụ ngôn người phú hộ là người đã lập kế hoạch xây những kho lẫm lớn cho mùa gặt của mình: "Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?” (Lc 12:20), và một lần nữa Chúa Giêsu nói: “Được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn thì được gì gì?” (x. Mt 16:26).

Truyền thống của Giáo Hội đã biến giáo huấn này thành của riêng mình. Các Giáo Phụ Sa Mạc đã trân trọng tư tưởng về sự chết quá đỗi đến mức các vị đã biến nó thành một sự thực hành liên lỉ và đổi mới nó bằng bất cứ phương thế nào cần thiết. Một trong số các vị, là người kiếm sống bằng nghề đan dệt len, đã biến việc làm rơi trục quay mọi lúc thành một thói quen và việc “đặt sự chết trước mặt Ngài trước khi nhặt lại trục quay này”. Trong Sách Gương Đức Kitô chúng ta thấy giáo huấn sau: “Vào buổi sáng hãy giả định là bạn sẽ không qua tới buổi chiều. Khi buổi tối đến, hãy dãm không lệ thuộc vào sáng hôm sau” (I, 23). Thánh Alphonsus Maria de Liguori đã viết sách luận về Việc Chuẩn Bị Cho Cái Chết, mà trong nhiều thế kỷ đã là một nền linh đạo cổ của Công Giáo.

Cách nói mang tính khôn ngoan này về sự chết có thể tìm thấy trong mọi nền. văn hoá, chứ không chỉ trong Kinh Thánh và trong Kitô Giáo. Phiên bản thế tục của cách này cũng hiện diện trong tư tưởng hiện đại và thật đáng để đề cập vắn gọn về những đúc kết bởi hai nhà tư tưởng mà tầm ảnh hưởng của họ vẫn còn mạnh mẽ trong nền văn hoá của chúng ta.

Nhà tư tưởng hiện đại đầu tiên đang đề cập là Jean-Paul Sartre. Ông đã lật đổ mối quan hệ cổ giữa bản chất và hiện sinh, khi tuyên bố rằng sự hiện sinh có trước và thắng thế so với bản chất. Để hiểu cách đơn giản, thì điều này có nghĩa là không có một trật tự hay qui mô các giá trị khách quan – Thiên Chúa, sự tốt lành, các giá trị, luật tự nhiên, - là những điều có trước mọi thứ khác và là điều mà con người nhân loại phải sống, nhưng mọi sự bắt đầu từ kinh nghiệm và sự tự do cá nhân. Mỗi người phải sắp đặt và hoàn thành số phận của mình, như một dòng sông chảy và tự đào đáy của riêng nó. Kế hoạch cuộc đời này không được viết ra ở bất cứ nơi nào, mà được quyết định bởi những chọn lựa của mỗi người.

Cách hiểu về sự hiện sinh như vậy sẽ hoàn toàn phớt lờ sự chết như một dữ kiện và do đó sẽ không được chứng minh bằng chính thực tại rất thật về sự hiện sinh mà nó muốn khẳng định. Con người có thể lên kế hoạch gì nếu họ không biết cũng như không thể kiểm soát được liệu họ có còn sống vào ngày mai hay không? Nỗ lực của Sartre hoà hợp với nỗ lực của một người tin là người dành cả đời mình lên kế hoạch cho một lộ trình tốt nhất để theo để đi từ một bức tường của căn phòng họ sang một bức tường khác.

Được khen ngợi hơn về điểm này là tư tưởng của một triết gia khác, Martin Heidegger, một người đã khởi đi từ những luận đề tương tự và làm việc trong cùng một bối cảnh của chủ nghĩa hiện sinh. Bằng việc định nghĩa con người là “một thực thể phải chết”, ông không biến sự chết thành một kiểu tai nạn đặt dấu chấm hết cho sự sống, mà là đặt vào một bản chất rất thật của sự sống, có nghĩa là điều mà con người được cấu thành. Con người không thể sống mà không đốt cháy sự sống và làm cho nó ngắn đi. Mỗi phút trôi qua được lấy đi từ sự sống và giao nộp sự sống cho sự chết, giống như, khi chúng ta lái xe, thì chúng ta thấy những ngôi nhà và cây cối sẽ nhanh chóng biến mất phía sau chúng ta. Sống để chết nghĩa là sự chết không chỉ là một cái kết, như trong sự kết thúc, mà là sự kết thúc, như trong mục tiêu, của sự sống. Người ta được sinh ra để chết, chứ không vì bất cứ điều gì khác.

Các triết gia đặt vấn đề - vậy thì “phần lõi cứng – điều chắc chắn và không thể vượt ra được”, điều mà con người được mời gọi qua lương tâm của họ và là điều cần hành động như là nền tảng cho sự sống của họ là gì, nếu điều đó muốn là một điều ‘đúng đắn’? Câu trả lời là: chính sự hư vô của nó! Tất cả mọi khả năng con người thật sự là “những sự không thể”. Bất cứ một nỗ lực nào để tự lên kế hoạch và vực dậy bản thân là một bước nhảy vọt vốn khởi đi từ sự hư không và kết thúc trong sự hư không. Tất cả mọi điều chúng ta có thể làm là biến sự cần thiết thành một nhân đức bằng việc yêu mến Số Phận của chúng ta. Một phiên bản ‘amor Fati’ hiện đại của Phái Khổ Hạnh!

Thánh Augustine đã tiên liệu trước thậm chí sự hiểu biết hiện đại này về sự chết, nhưng Ngài đưa ra một kết luận hoàn toàn khác từ đó: không phải chủ thuyết hư vô, mà là niềm tin vào sự sống vĩnh cửu.

Khi chúng ta là con người được sinh ra – Ngài viết – thì nhiều giả thuyết được đưa ra: có lẽ con người sẽ đẹp, có lẽ sẽ xấu xí; có lẽ họ sẽ giàu có, có lẽ họ sẽ nghèo; có lẽ họ sẽ sống lâu, có lẽ họ sẽ không sống lâu. Nhưng không ai lại nói: có lẽ họ sẽ chết hay có lẽ họ sẽ không chết. Đây là điều duy nhất tuyệt đối chắc chắn về sự sống. Khi người ta bị bệnh cổ chướng (đây là bệnh nan y vào thời đó, giờ thì bệnh khác), chúng ta nói: “Điều đáng tiếc, người ấy phải chết; họ sẽ chết, không có cách chữa, người này sẽ chết!” Có điều gì khác biệt giữa việc thời gian sống chết dài hơn hay ngắn hơn? Sự chết là một bệnh phải chết mà chúng ta được tiêm nhiễm từ khi chúng ta sinh ra.

Dante Alighieri đã đúc kết toàn bộ quan điểm này của Augustine trong một câu duy nhất, khi ông xác định sự sống con người trên trái đất này là “sự sống là một cuộc đua đến sự chết”.

trường học của “Chị Thần Chết”

Với sự tiến bộ nhanh chóng của kĩ thuật và các thành tựu khoa học, chúng ta có nguy cơ trở nên giống như người đàn ông đó trong dụ ngôn, người tự nói với chính mình: “hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!” (Lc 12:19). Thảm hoạ hiện tại đã xuất hiện để nhắc nhớ chúng ta chúng ta là con người sẽ lệ thuộc rất ít vào việc có liên quan đến “việc hoạch định” và quyết định tương lai.

Một quan điểm mang tính khôn ngoan về sự chết vẫn duy trì, sau Đức Kitô, cùng một vai trò được thực hiện bởi lề luật sau khi có sự xuất hiện của ân sủng. Vai trò này cũng được dùng để bảo vệ tình yêu và ân sủng. Lề luật – như nó được viết ra – được trao cho các tội nhân (x. 1 Tm 1:9) và tất cả chúng ta vẫn là các tội nhân, có thể nó là đối tượng cho sự lu mờ của thế gian và của những điều hiển hiện, luôn bị cám dỗ “để tự an ủi bản thân chúng ta về thời đại này (x. Rm 12:2). Không có một quan điểm xưa nào tố hơn để nhìn thế giới, để nhìn bản thân chúng ta và tất cả mọi biến cố, trong sự thật rất thật của chúng, hơn hơn là cách nhìn của sự chết. Mọi thứ sau đó sẽ về vị trí đúng của nó.

Thế giới này thường xuất hiện như là một mớ bất công và hỗn độn không thể thoát ra được, đến mức là mọi sự dường như xảy ra cách ngẫu nhiên mà không có bất cứ một sự nhất quán hay kế hoạch nào. Một kiểu tranh không có hình hài, mà trong đó mọi yếu tố và màu sắc dường như được sắp đặt cách ngẫu nhiên, như kiểu trong một số bức hoạ hiện đại. Bạn thường chứng kiến sự chiến thắng của sự độc ác trong khi sự vô tội thì bị trừng phạt. Đôi khi, để tránh xa khỏi niềm tin là có bất cứ điều gì cố định và thường hằng trong thế giới, Bossuet đã nhận thấy rằng đôi khi bạn lại thấy điều ngược lại: sự vô tôi ở trên ngai và sự bất công ở trên giá treo cổ! Có một điểm xưa nào mà từ đó có thể thấy được bức tranh vĩ đại và hiểu được ý nghĩa của nó không? Vâng, có: đó là “sự kết thúc”, nghĩa là cái chết, ngay lập tức kéo theo sự phán xét của Thiên Chúa (x. Dt 9:27). Nhìn từ đó thì mọi sự có được giá trị của nó. Sự chết là sự chấm dứt của tất cả mọi sự khác biệt và hình thức bất công vốn tồn tại nơi con người. Sự chết, như một danh hài Ý Totò thường nói, giống như một “mức độ bong bóng”, có khả năng loại bỏ hết mọi sự đặc quyền.

Nhìn vào sự sống từ cách nhìn xưa về sự chết là một sự trợ giúp ngoại thường để sống tốt. Bạn có đang nổi giận vì những vấn đề và các khó khăn? Hãy tiến bước, đặt bản thân bạn vào chỗ đúng: nhìn vào những điều này từ giường chết của bạn. Bạn muốn đối xử như thế nào? Sẽ quan trọng như thế nào khi bạn giữ mọi thứ như này? Bạn có bất kỳ vấn đề gì với ai? Hãy nhìn mọi thứ từ giường chết của bạn. Bạn sẽ muốn hoàn tất điều gì sau đó: chiến thắng hay chấp nhận sự khiêm hạ? Chiến thắng hay được tha thứ?

Tư tưởng về sự chết sẽ ngăn chặn chúng ta khỏi việc dính bén vào mọi sự, hoặc đặt tâm hồn mình vào nơi ngự trị cõi đất, khi quên rằng “chúng ta không có một thành đô vĩnh cửu” trên trái đất (Dt 13:14). Như một Thánh Vịnh nói, “khi chết, nó đâu mang được cả, kiếp vinh hoa chẳng theo xuống mộ phần” (Tv 49:18). Thời xưa, các vị vua thường được chôn với các loại trang sức của họ. Dĩ nhiên điều này khích lệ việc thực hành phá mộ để ăn cướp những kho báu này. Nhiều trong số các ngôi mộ như vậy đã được phát hiện là nơi, ngoài các kẻ cướp, có một sự ghi khắc trên bản thân ngôi mộ viết: “Chỉ có tôi ở đây”. Lời khắc này vốn quá thật, thậm chí đến mức ngôi mộ đã giấu những loại nữ trang này! “Khi chết nó đâu mang được kiếp vinh hoa xuống mộ phần”.

“Hãy canh thức!”

Chị Thần Chết thật sự là một người chị lớn tuổi tốt lành và là một cô giáo tốt lành. Sự chết dạy cho chúng ta nhiều điều, nếu như chúng ta có thể lắng nghe cách nhẹ nhàng. Giáo Hội không sợ việc gửi chúng ta đến trường của chị. Trong phụng vụ Thứ Tư Lễ Tro có một lời nguyện vốn mạnh mẽ, thậm chí mạnh mẽ hơn nữa theo ngôn ngữ La Tinh: Emendemus in melius quae ignoranter peccavimus; ne subito praeoccupati die mortis, quaeramus spatium poenitentiae, et invenire non possimus. “Nếu ngày chết bất ngờ ập đến, liệu chúng ta còn sửa đổi được chăng những gì mình đã phạm bởi ngu muội, liệu chúng ta có còn tìm được thời gian mà sám hối hay chăng”. Một ngày, một giờ duy nhất, một lời xưng thú tốt: những thứ này sẽ khác thế nào vào lúc đó! Chúng ta sẽ thích những điều này hơn cả một đời sống lâu dài, đầy của cải và khoẻ mạnh!

Tôi cũng đang nghĩ về một bối cảnh khác vượt ra khỏi lãnh vực khổ chế mà ở đó chúng ta đang cần thiết chị thần chết hơn nữa trong tư cách một vị thầy: sự phúc âm hoá. Tư tưởng về sự chết hầu như là vũ khí duy nhất để bứng sự say mê ra khỏi xã hội xa hoa của chúng ta, khi kinh nghiệm cách chính xác điều tương tự như những người Israel được thoát khỏi Ai Cập: “Gia-cóp ăn uống no thỏa, Giơ-su-run mập ra.. họ đã từ bỏ Thiên Chúa, Đấng đã tác tạo ra họ, và khinh miệt Núi Đá độ trì họ” (Đnl 32:15).

Tại một thời điểm tế nhị trong lịch sử của “dân được tuyển chọn” Thiên Chúa nói với tiên tri Isaiah: “Hãy loan báo! Hãy loan báo!” Vị tiên tri trả lời: “Con sẽ loan báo gì đây? và Thiên Chúa trả lời: “Người phàm nào cũng đều là cỏ, mọi vẻ đẹp của nó như hoa đồng nội. Cỏ héo, hoa tàn khi Thiên Chúa thổi qua” (Is 40: 6-7). Tôi tin rằng Thiên Chúa đang đưa ra cùng những chỉ dẫn cho các vị ngôn sứ thời nay của Ngài và Ngài đang làm thế vì Ngài yêu thương các con cái của Ngài và không muốn rằng “như đoàn vật nhốt trong âm phủ, chính tử thần canh giữ chăn nuôi’ (x. Tv 49:15).

Vấn đề về ý nghĩa của sự chết đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phúc âm hoá thời kỳ đầu của Châu Âu và chúng ta không nên loại trừ điều đó là điều có thể đóng cùng một vai trò quan trọng trong nỗ lực hiện tại để tái phúc âm châu lục này. Thực ra có điều gì đó chẳng thay đổi gì kể từ đó và rõ ràng đây chính là điều ấy: con người phải chết. Bậc Đáng Kính Bede kể lại cách mà Kitô Giáo đi vào được miền bắc Nước Anh, bằng cách vượt qua sự chống cự của ngoại giáo. Đức vua đã triệu tập một đại hội đồng vương quốc của ông để quyết định về vấn đề liệu có cho phép các nhà truyền giáo Kitô Giáo vào hay không. Có những quan điểm chống lại điều này, khi một trong các vị quan của ông nói thế này:

Sự sống con người trên mặt đất, tâu Đức Vua, có thể được mô tả thế này: Hãy hình dung đó là mùa đông. Ngài đang ngồi dùng bữa tối với các bá tước và các cận thần của Ngài. Ngay trung tâm phòng có một lò sưởi để sưởi ấm cả phòng, trong khi ở bên ngoài là một cơn mưa bão và tuyết đang hoành hành. Đột nhiên có một con chim sẻ đến ngay cung điện của Ngài; nó bay vào từ một cánh cửa sổ mở và rất nhanh chóng ra đi từ phía đối diện. Cho đến khi nó ở trong, nó được bảo vệ khỏi cái lạnh của mùa đông, nhưng một lát sau, thì đây nó bị đưa trở lại vào trong bóng tối mà nó xuất phát và nó biến mất khỏi tầm nhìn của chúng ta. Đời sống của chúng ta cũng giống như vậy! Chúng ta không biết điều gì diễn ra trước hay sau đó. Nếu lời dạy này có thể nói cho chúng ta một điều gì đó chắc chắn hơn về cuộc sống, tôi nghĩ chúng ta nên lắng nghe họ.

Đây là một câu hỏi mà chính sự chết đặt ra vốn mở ra lối đi cho Tin Mừng, như một vết thương mở trong tâm hồn con người. Một nhà tâm lý học nổi tiếng đã viết chống lại Freud vốn khước từ sự chết, không phải là bản năng tình dục, là cội rễ của mọi hoạt động của con người.

Ngợi khen Chúa, lạy Chúa của con, qua Chị Chết Thể Xác của chúng ta

Bằng cách đó, chúng ta đang không khôi phục việc sợ chết. Chúa Giêsu đến để “giải thoát những ai vì sợ chết mà suốt đời phải chịu làm nô lệ” (Dt 2:15). Ngài đến để giải thoát chúng ta khỏi nỗi sợ về sự chết, để không gia tăng nỗi sợ này. Tuy nhiên, người ta cần phải kinh nghiệm được sự sợ hãi đó để được giải thoát khỏi nó. Chúa Giêsu đến để dạy về nỗi sợ cái chết vĩnh cửu cho những ai chẳng biết gì ngoài sự sợ hãi về cái chết thể lý.

Cái chết vĩnh vửu! Trong Sách Khải Huyền hay Cánh Chung cái chết đó gọi là “cái chết thứ hai” (Kh 20:6). Đó là sự chết mà thật sự xứng với cái tên goi là sự chết, vì nó không phải là hành trình, mầu nhiệm Vượt Qua của Lễ Phục Sinh, mà là một sự trạm dừng khủng khiếp. Chính là để cứu những người nam nữ khỏi số phận bi đát mà chúng ta phải trở lại với việc rao rảng về sự chết. Không ai hơn ngoài Thánh Phanxicô Assisi đã từng biết đến diện mạo Vượt Qua mới của cái chết Kitô Giáo. Chính sự chết của riêng Ngài thật sự là một sự chuyển tiếp mang tính Vượt Qua, một “transitus”, như nó được cử hành trong phụng vụ Phan Sinh. Khi Ngài cảm thấy gần chết, thì ngoài những lời hết sức ngọt ngào về sự chết, Ngài còn có một số lời sợ hãi nhất:

Ngợi khen Ngài, lạy Thiên Chúa của con, qua Chị Chết Thể Xác của chúng con

Từ chị mà không một thực thể sống nào có thể thoát:

Thật khủng khiếp cho những ai chết trong trọng tội!

Thật phúc biết bao là những ai mà chị tìm thấy nơi ý muốn thánh nhất của Ngài

Vì cái chết thứ hai chẳng làm hại gì được họ.

Thật khủng khiếp cho những ai chết trong tình trạng trọng tội! “Nọc độc của sự chết là tội”, Thánh Tông Đồ nói trong (1 Cr 15:56). Điều mang lại cho sự chết sức mạnh đáng sợ nhất của nó về việc săn lùng một người tín hữu và làm cho người ấy sợ chính là tội lỗi. Nếu người ta sống trong trọng tội, thì sự chết vẫn có nọc độc của nó, chất độc của nó, như trước Đức Kitô, và do đó nó làm tổn thương, giết chóc và quăng vào Gehena. Đừng sợ - Chúa Giêsu nói với chúng ta – về sự chết giết chỉ thân xác và rồi chẳng thể làm gì được nữa. Hãy sợ một sự chết mà, sau khi giết được thân xác, nó có sức mạnh để ném vào Gehena (x. Lc 12:4-5). Hãy lấy đi tội lỗi và bạn sẽ lấy đi cả nọc độc tồi tệ nhất của nó là sự chết!

Với việc thiết lập Thánh Thể Chúa Giêsu đã thiết lập trước cái chết của riêng Ngài. Chúng ta có thể làm điều tương tự. Chúa Giêsu tạo ra điều này có nghĩa là làm cho chúng ta thông phần vào sự chết của Ngài, hiệp nhất chúng ta với chính Ngài. Dự phần vào Thánh Thể là cách đúng đắn, chính xác và hiệu nghiệm nhất của việc “chuẩn bị chết”, theo ngôn ngữ của Thánh Alphonse de Liguori. Trong đó chúng ta cũng vui mừng cái chết của mình, và chúng ta dâng nó, mỗi ngày lên Chúa Cha. Trong Thánh Thể chúng ta có thể thưa lên với Chúa Cha tiếng “Amen” của mình, tiếng “Vâng” của mình trước điều đợi chờ chúng ta, trước kiểu chết mà Ngài muốn cho phép cho chúng ta. Trong đó chúng ta viết “Di chúc” của mình: chúng ta quyết định trao cho ai điều mà chúng ta muốn để lại sự sống của mình, và chúng ta muốn chết vì ai.

Đúng thật là, chúng ta được sinh ra để có thể chết; sự chết không chỉ là kết thúc, như trong một phần kết, mà còn là sự kết thúc, như trong một mục tiêu, của sự sống. Do đó, điều này thì vượt ra khỏi sự kết án, như đã được triết gia đề cập ở trên tuyên bố, mà trái lại sẽ là một đặc quyền. “Đức Kitô – như Thánh Gregory Nyssa viết – được sinh ra để có thể chết”, nghĩa là có thể trao ban sự sống của Ngài, vì yêu, cho Đấng Tạo Dựng, Đấng vì yêu sẽ trao lại sự sống ấy cho chúng ta? Áp dụng nhữn lời thánh hiến được đọc lên từ người cử hành trước bánh và rượu trong Thánh Lễ chúng ta có thể nói: “Nhờ lòng nhân từ của Chúa, chúng con có cuộc sống này để hiến dâng. Chúng con dâng lên Chúa. Xin cho cuộc sống của chúng con trở thành của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Chúa” (x. Rm 12: 1).

Với tất cả điều này chúng ta đã không lấy đi nọc độc của nó từ tư tưởng về sự chết và khả năng của nó để làm cho chúng ta đớn đau điều mà Chúa Giêsu cũng muốn kinh nghiệm trong Vườn Gethsemane. Ít nhất chúng ta sẵn sàng hơn để chấp nhận sự đảm bảo vốn xuất phát từ niềm tin và việc chúng ta loan báo ngay khi mở đầu Thánh Lễ cầu cho người chết:

Nhờ lòng trung tín của Chúa, đối với các tín hữu Chúa, sự sống thay đổi chứ không mất đi, và khi nơi nương náu ở trần gian bị hủy diệt tiêu tan, thì lại được một chỗ ở vĩnh viễn trên trời.

Nếu Thiên Chúa muốn, thì chúng ta sẽ nói về sự sống đời đời này trên thiên đàng trong bài suy niệm kế tiếp.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Cantalamessa.org)