Đức Hồng Y Cantalamessa - Bài giảng Mùa Vọng Thứ III năm 2020

Ngài cư ngụ giữa chúng ta

“Có một Đấng ở giữa các ông mà các ông không nhận biết”. Đây là tiếng kêu buồn của Gioan Tẩy Giả được thấy trong Tin Mừng của Chúa Nhật Thứ III Mùa Vọng mà chúng ta muốn để cho vang vọng lại trong cuộc gặp gỡ cuối cùng này trước Lễ Giáng Sinh.

Trong thông điệp Urbi et orbi vào ngày 27/3 của Ngài tại Quảng Trường Thánh Phêrô, sau khi đọc Tin Mừng về việc Chúa Giêsu làm yên gió bão, Đức Thánh Cha đã tự đặt câu hỏi Chúa Giêsu có ý gì khi Ngài quở trách các môn đệ của Ngài vì “kém tin” và Ngài đã giải thích:

Họ đã không ngừng lại việc tin vào Ngài; thực vậy, họ gọi Ngài. Nhưng chúng ta thấy cách họ gọi đến Ngài: "Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?” (Mc 4:38). “Thầy chẳng lo gì sao”: họ nghĩ rằng Chúa Giêsu không quan tâm đến họ, không màng gì đến họ. Một trong những điều tồi tệ nhất làm tổn thương chúng ta và gia đình chúng ta nhất khi chúng ta nghe nói: “Không quan tâm đến tôi sao?” Đó là một câu nói gây tổn thương và tạo ra những cơn bão trong tâm hồn chúng ta. Lời nói đó cũng làm cho Chúa Giêsu choáng váng. Vì Ngài, hơn bất cứ ai khác, đang quan tâm chúng ta.

Chúng ta có thể nắm bắt một sắc thái khác trong sự quở trách của Chúa Giêsu, họ đã không hiểu Ngài là ai là Đấng đang ở với họ trên thuyền; họ không hiểu điều đó, bởi vì Ngài ở trên thuyền, con thuyền không thể chìm vì Thiên Chúa không thể qua đi. Chúng ta cũng thế, các môn đệ của thời này, sẽ phạm vào cùng một sai phạm như các tông đồ và sẽ xứng đáng nhận cùng một sự quở trách từ Chúa Giêsu nếu trong cơn bão mạnh đang chạm vào thế giới với nạn dịch mà chúng ta quên mất rằng chúng ta không đơn độc trên con thuyền trước sự hung tàn của những làn sóng.

Lễ Giáng Sinh giúp chúng ta mở rộng chân trời: từ biển hồ Galilee đến toàn thế giới, từ các tông đồ đến chúng ta: “Và Ngôi Lời đã trở nên người phàm

và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14). Động từ Hy Lạp, eskenosen (nghĩa đen có nghĩa là ‘Ngài dựng lều của Ngài”), truyền tải ý tưởng về một hành động bất khả vãn đã thành tựu. Con Người đã xuống trái đất và Thiên Chúa không thể qua đi. Một người Kitô Hữu thì còn được hưởng lợi hơn nữa khi tác giả Thánh Vịnh loan báo:

Thiên Chúa là nơi ta ẩn náu, là sức mạnh của ta.

Người luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ khi ta phải ngặt nghèo.

Nên dầu cho địa cầu chuyển động,

núi đồi có sập xuống biển sâu,

dầu cho sóng biển ầm ầm sôi sục,

núi đồi có lảo đảo khi thủy triều dâng,

ta cũng chẳng sợ gì. (Tv 46:2-4)

“Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, có nghĩa là ở cạnh con người, như một người bạn và một đồng minh chống lại các sức mạnh của sự dữ. Chúng ta cần tái khám phá lại ý nghĩa nguyên sơ và đơn giản của việc nhập thể của Ngôi Lời, vượt ra khỏi những giải thích thần học và giáo lý được xây dựng trên đó. Thiên Chúa cư ngụ giữa chúng ta! Ngài muốn biến biến cố này thành danh của Ngài: Emmanuel, Thiên Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Điều mà Isaiah đã loan báo: “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en” (Is 7:14) đã trở thành một sự thật đã thành toàn.

Như tôi đã nói, chúng ta cần trở lại với điều đầu tiên trong tất cả những tranh cãi mang tính Kitô Học của thế kỷ thứ năm – trước Công Đồng Ephesus và Chalcedon – để tái khám phá lại sự trái ngược và mang tính vấp phạm trong tuyên bố: ‘Ngôi Lời đã cư ngụ giữa chúng ta”. Thật đáng để đọc lại phản ứng của những người có học thức dân ngoại thế kỷ thứ hai, sau khi biết về lời tuyên bố này từ các Kitô Hữu. Triết gia Celsius đã run rùng và kêu lên: “Con Thiên Chúa – một con người đã sống chỉ vài năm trước đây sao?” Ngôi Lời vĩnh cửu – Đấng đã ở quanh đây ‘ngày hôm qua hoặc ngày hôm kia sao?”, một con người đã được “sinh ra từ một người thợ quay tơ nghèo nàn, tại một ngôi làng ở Judea? Khá dễ hiểu: sự hiệp nhất hoàn hảo giữa thần tính và nhân tính nơi con người Đức Kitô là điều mới mẻ vĩ đại nhất trong tất cả mọi điều mới mẻ khả thể, “điều mới duy nhất dưới mặt trời này”, như Thánh Gioan Damascus xác định.

Cuộc chiến lớn đầu tiên mà niềm tin vào Đức Kitô đã phải đối diện không phải là về thần tính của Ngài, mà là về nhân tính của Ngài và về sự thật về sự nhập thể. Ngay tại cội rễ của sự khước từ là chính học thuyết của Plato, khi nói rằng “không một Thiên Chúa nào lại từng hoà lẫn với con người”. Từ kinh nghiệm cá nhân của Thánh Augustine đã khám phá ra rằng cội rễ tối hậu của sự khó khăn mà Ngài cảm nhận được trong việc tin vào sự nhập thể là một sự thiếu khiêm nhường. Như Ngài đã viết trong Cuốn Tự Thuật của Ngài, “khi không thể khiêm nhường tôi không thể hiểu nổi sự khiêm nhường của chính Thiên Chúa”.

Kinh nghiệm của Thánh Augustine có thể giúp chúng ta hiểu được cội rễ tối hậu của chủ nghĩa vô thần hiện đại và cho chúng ta thấy cách duy nhất để vượt thắng điều đó. Sự thật mang tính lịch sử của Tin Mừng và thần tính của Đức Kitô đã bị tấn công kể từ thừoi của Hermann Samuel Raimarus, vào thế kỷ thứ 8. Chúa Giêsu nói: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14:6). Bởi vì điều ddó đã được nói ra là con đường duy nhất đi đến với Thiên Chúa đã bị đóng lại, thì thật dễ để trước hết chuyển sang chủ nghĩa thần giáo và rồi đến chủ nghĩa vô thần.

Kinh nghiệm của Thánh Augustine – như tôi đã nói – chỉ ra con đường để giúp vượt thắng trở ngại đó, có nghĩa là bằng việc bỏ đi sự kiêu ngạo và đón nhận sự khiêm nhường của chính Thiên Chúa. "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Mt 11:25): toàn bộ lịch sử không tin của con người được giải thích bằng những lời này của Đức Kitô. Sự khiêm nhường mang lại chìa khoá cho sự hiểu biết về sự nhập thể. Nó dùng chút sức mạnh để thể hiện; mặt khác, nó dùng nhiều sức mạnh để bước sang một bên và xoá bỏ chính bản thân bạn. Thiên Chúa là sức mạnh vô biên của sự xoá bỏ bản thân này: “Ngài đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ…Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2:7-8).

Thiên Chúa là tình yêu và do đó là sự khiêm nhường! Tình yêu tạo nên sự lệ thuộc vào người bạn yêu, và kiểu lệ thuộc ấy không hạ thấp chúng ta nhưng lại nâng cao. Hai lời tuyên bố “Thiên Chúa là tình yêu” và “Thiên Chúa là sự khiêm nhường” là hai mặt của một đồng tiền. Tuy nhiên, từ khiêm nhường có nghĩa là gì, nếu nó được áp dụng cho Thiên Chúa và theo nghĩa nào mà Chúa Giêsu có thể nói: “hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:29)? Chìa khoá là, về bản chất, sự khiêm nhường thì không phải là về việc “nhỏ bé (không ai có thể nhỏ bé và không quan trọng mà không khiêm nhường); cũng không phải là việc tự xem mình là nhỏ bé (điều có thể lệ thuộc vào hình ảnh tiêu cực tự thân); hoặc là về việc tuyên bố nhỏ bé (bạn có thể nói điều đó mà không thật sự tin điều đó); thay vào đó, khiêm nhường có nghĩa là làm cho bản thân bạn trở nên nhỏ bé và về việc thực hiện điều đó vì lòng yêu mến Thiên Chúa, để cho người khác lớn lên. Chỉ theo nghĩa đó thì Thiên Chúa thật sự khiêm nhường. Thực vậy,

Ai sánh tày THƯỢNG ĐẾ Chúa ta, Đấng ngự chốn cao vời,

cúi xuống để nhìn xem bầu trời trái đất?

Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi,

ai nghèo túng, Người cất nhắc từ đống phân tro (Tv 113:5-7).

Không quá nhiều về một việc giáo dục, Thánh Phanxicô Assisi đã có điều đó. Trong việc Ca Thiên Chúa Đấng Tối Cao của Ngài, ở một điểm Ngài đã nói với chính Thiên Chúa khi nói: “Ngài là sự khiêm nhường!” và trong Thư của Ngài gửi cho toàn thể Hội Dòng thì Ngài đã thốt lên: “Anh em thân mến của tôi, hãy nhìn vào sự khiêm nhường của Thiên Chúa”. Như Ngài viết trong Lời Khuyên Dạy đầu tiên của mình: “Ngài tự hạn chính mình, như Ngài đã thực hiện khi Ngài ngự xuống cung lòng của Đức Trinh Nữ”.

Giáng Sinh là lễ về sự khiêm nhường của Thiên Chúa. Để cử hành lễ này trong tinh thần và trong sự thật thì chúng ta cần phải trở nên như trẻ nhỏ, như bạn cần cúi đầu xuống khi đi qua một cánh cửa hẹp bé nhỏ vào Đền Thờ Giáng Sinh tại Bethlehem.

“Có một Đấng ở giữa các ông mà các ông không nhận ra!”

Tuy nhiên, chúng ta hãy trở lại với trọng tâm mầu nhiệm: “Ngôi Lời đã trở thành xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta”. Thiên Chúa ở cùng chúng ta luôn mãi, và điều đó bất khả vãn hồi. Từ bây giờ trở đi đó là trọng điểm của sự loan báo Kitô Giáo. Ông Da-ca-ri-a chào Vị Tiền Hô khi gọi ông là “ngôn sứ của Đấng Tối Cao” (Lc 1:76) và Chúa Giêsu nói về ông là ông “còn hơn cả một vị ngôn sứ” (Mt 11:9). Nhưng Gioan Tẩy Giả là một ngôn sứ theo nghĩa nào? Yếu tố ngôn sứ hệ tại ở đâu trong trường hợp của ông? Các ngôn sứ Cựu Ước loan báo về một ơn cứu độ tương lai; Gioan Tẩy Gỉa không loan báo một ơn cứu độ tương lai; thay vào đó, ông chỉ về Đấng đang hiện diện trước ông. Các vị ngôn sứ xưa giúp dân Israel đi qua rào chắn của thời gian; Gioan Tẩy Giả giúp họ vượt qua thậm chí rào cản dày đặc hơn của điều nhìn có vẻ đối nghịch với điều vốn là. Lẽ nào một Đấng Messiah được mong đợi từ lâu – được các tổ phụ mong đợi, các tiên trị loan báo, các Thánh Vịnh ca khen – lại là người nhìn quá khiêm nhường và bình thường, về người mà chúng ta biết hết mọi sự gồm cả ngôi làng mà Đấng ấy xuất thân?

Thật khá dễ để tin vào điều gì đó lớn lao và thánh, nếu điều đó được suy tưởng trong một tương lai không xác định “trong những ngày ấy”, “trong những ngày sau này”, trong một bối cảnh mang tính vũ trụ, với việc các tầng trời đổ xuống sự ngọt ngào và đất mở ra và ơn cứu độ tuôn đổ (x. Is 45:8). Sẽ thật khó hơn nhiều nếu bạn nói: “Ngài đây! Chính Ngài đó!” Thật quá mang tính con người để bị cám dỗ để nói ngay sau đó: “Chỉ vậy thôi sao?” "Từ Na-da-rét, làm sao có cái gì hay được? (Ga 1:46); chúng ta biết ông xuất thân từ đâu rồi” (Ga 7:27).

Đó là một nhiệm vụ mang tính ngôn sứ vượt qua các giới hạn con người và đó là lý do vì sao mà Vị Tiền Hô được xác định là “hơn cả một vị ngôn sứ”. Ông là người chỉ đến một con người và nói lên tiếng “Này là Người!” mang tính quyết định. “Đây là Con Chiên Thiên Chúa!” (Ga 1:29). Bạn có thể hình dung được càm giác run rùng nào phải trải qua những người đầu tiên là những người nghe sự mạc khải ấy không? Năng quyền của Chúa Thánh Thần vang vọng trong những lời Vị Tiền Hô khi ông tỏ lộ sự thật ấy cho những tâm hồn mở rộng. Quá khứ và tương lai, một sự đợi chờ từ lâu và sự thành toàn hội tụ và chạm vào nhau. Cung đường của lịch sử cứu độ đã khép lại.

Tôi tin rằng Gioan Tẩy Giả để lại cho chúng ta một nhiệm vụ mang tính ngôn sứ rất quan trọng, là nhiệm vụ vẫn tiếp tục vang vọng: “Có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết” (Ga 1:26). Ông đã bắt đầu một lời tiên báo mới. Như tôi đã nói, sự tiên báo ấy không pảhi là việc loan báo về một ơn cứu độ tương lai, mà là về việc tỏ lộ sự hiện diện của Đức Kitô trong lịch sử: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20). Đức Kitô không hiện diện chỉ vì người ta liên tục nói và viết về Ngài, mà vì Ngài đã phục sinh và Ngài đang sống theo Thần Khí. Đó không chỉ là một ý định, nhưng là một thực tại. Việc phúc âm hoá bắt đầu ở đó.

Vào thời của Tẩy Giả, tảng đá ngáng trở duy nhất là thân xác của Chúa Giêsu, xác thịt Ngài, vốn quá giống chúng ta, trừ tội lỗi. Ngày nay tảng đá ngáng trở chính là thân xác nhiệm màu của Ngài, Giáo Hội. Điều sau thì quá giống với toàn thể nhân loại, gồm cả tội lỗi nữa. Khi Vị Tiền Hô giúp cho những người đương thời của ông có thể nhận biết Đức Kitô nơi thân xác khiêm nhường của Ngài, cũng thế ngày nay Ngài vẫn cần được nhận biết nơi sự nghèo nàn và nỗi thống khổ của Giáo Hội của Ngài và trong sự nghèo nàn và nỗi thống khổ cảu đời sống hiện tại của chúng ta.

Điều Phaolô thêm vào Gioan

Tuy nhiên, chúng ta cần thêm điều gì đó vào điều mà chúng ta đã nói tới giờ. Thật chưa đủ để biết rằng Thiên Chúa đã làm người, mà chúng ta còn cần phải biết Thiên Chúa làm người theo kiểu người nào. Tôi nghĩ thật quan trọng để biết cách mà Gioan và Phaolô khác nhau và đồng thuận với nhau theo cách mỗi người trong số hai vị này mô tả về sự nhập thể. Đối với Gioan thì sự nhập thể hệ tại ở trong sự thật là Ngôi Lời là Thiên Chúa đã thành xác phàm (x. Ga 1:1-14); đối với Phaolô, thì sự nhập thể hệ tại ở trong sự thật là “Đức Kitô Giêsu, vốn dĩ là Thiên Chúa, đã trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ” (x. Pl 2:5tt). Đối với Gioan, Ngôi Lời, là Thiên Chúa, đã làm người; đối với Phaolô “Đức Kitô…đã trở nên nghèo khó dù Ngài giàu có” (x. 2 Cr:8-9).

Sự khác biệt giữa sự thật về việc nhập thể và cách mà việc này thành toàn, giữa chiều kích bản thể học và chiều kích mang tính hiện sinh, đang khiến chúng ta bận tâm vì nó chiếu giãi một ánh sáng đặc biệt trên vấn đề hiện tại về sự nghèo và về cách mà Kitô Giáo đáp trả trước vấn đề này. Thật hữu ích để mang lại một nền tảng Thánh Kinh và thần học về chọn lựa mang tính ưu tiên đối với người nghèo, như đã được loan báo trong Công Đồng Vatican II. Như Jean Gruitton, một giáo dân là người đã tham dự Công Đồng Vatican II trong tư cách là một quan sát viên, đã viết: “Các Nghị Phụ đã tái khám phá lại bí tích của sự nghèo, đó là sự hiện diện của Đức Kitô dưới những con người đang đau khổ”.

“Bí tích” của sự nghèo!Những từ ngữ mạnh mẽ này, nhưng chúng lại có nền tảng vững. Thực vậy, nếu bởi sự thật về sự nhập thể, mà Ngôi Lời, bằng cách nhất định, đã mặc lấy nơi chính Ngài mọi con người (như một số giáo phụ Hy Lạp tuyên bố), như cách thế mà việc đó được thể hiện, Ngài đã mặc lấy nơi chính Ngài người nghèo, người khiêm tốn, người đau khổ. “Việc thiết lập” dấu chỉ này mà Chúa Giêsu thực hiện đã hoà hợp với việc Ngài thiết lập Thánh Thể. Ngài là Đấng đã nói về bánh: “Đây là mình thầy” đã dùng cùng những lời này về cả người nghèo nữa. Ngài đã làm như vậy khi Ngài nói về điều mà người ta làm – hoặc không làm – cho những người đói, hoặc khát, hoặc tù đày, hoặc mình trần hoặc là khách lạ, bằng việc long trọng tuyên bố: “mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25:31tt).

Chúng ta hãy rút ra kết quả của việc này ở cấp độ giáo hội. Thánh Gioan XXIII, ngay tại Công Đồng Vatican II, đã tạo ra một cụm từ “Giáo Hội của người nghèo”. Ý nghĩa của cụm từ này vượt ra khỏi sự giải thích thông thường. Giáo Hội của người nghèo không chỉ hệ tại người nghèo trong chính bàn thân Giáo Hội! Theo một nghĩa nhất định, tất cả người nghèo của thế giới này thuộc về Giáo HỘi, bất luận là họ đã chịu phép rửa hay chưa. Một số người phản đối: “Làm sao được? Họ đã không nhận lãnh niềm tin hay nhận lãnh Phép Rửa!” Điều đó đúng, nhưng ngay cả các Thánh Anh Hài là những vị mà chúng ta mừng sau Giáng Sinh cũng chưa nhận lãnh Phép Rừa. Trong đôi mắt của Thiên Chúa, sự nghèo nàn và nỗi khổ của các Ngài, nếu thoát khỏi tội lỗi, là chính phép rửa bằng máu của các vị. Thiên Chúa có nhiều cách thế để cứu hơn là những cách mà chúng ta có thể tưởng nghĩ, ngay cả mặc dù những cách thế này, không có ngoại lệ và “theo một cách mà chỉ một mình Thiên Chúa biết”, đi qua Đức Kitô.

Người nghèo thuộc “về Đức Kitô”, không phải vì bản thân họ tuyên bố thuộc về Ngài, mà vì Ngài tuyên bố họ thuộc về chính Ngài, Ngài tuyên bố họ là thân thể của Ngài. Điều này không có nghĩa là thật đủ để nghèo trong thế giới này để tự động đi vào vương quốc Thiên Chúa. Những lời: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc” (Mt 25:34) được nói với những người chăm sóc người nghèo, chứ không nhất thiết phải là người người vì họ nghèo về mặt vật chất trong cuộc sống của họ.

Do đó, Giáo Hội của chính Đức Kitô thì lớn hơn rất nhiều so với các con số và thống kê cho biết. Đây không phải là lời tuyên bố mang tính số đông hoặc chiến thắng, điều vốn không thuận tiện, đặc biệt trong thời gian này. Không một ai trừ một mình Chúa Giêsu từng tuyên bố: “mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25:40), đoạn “những người anh em bé mọn này” không chỉ là những người tin vào Đức Kitô, mà mọi người.

Do đó Đức Giáo Hoàng – cùng với mọi vị mục tử trong Giáo Hội – thật sự là “cha của người nghèo”. Tất cả chúng ta đều vui mừng và cảm thấy được khích lệ bằng việc thấy thật nghiêm túc biết bao là vai trò này được thực hiện bởi các Giáo Hoàng gần đây và đặc biệt là bời vị mục tử hiện đang ngồi trên ngai toà Phêrô. Ngài là vị ủng hộ mạnh mẽ nhất của người nghèo trong một thế giới vốn chỉ thân quen với việc tuyển chọn và loại bỏ. Chắc chắn Ngài không “lãng quên người nghèo”! Trong Kinh Thánh chúng ta thấy một phúc lành cho những người quan tâm đến người nghèo:

Phúc thay kẻ lưu tâm đến người nghèo khổ:

trong ngày hoạn nạn, sẽ được CHÚA cứu nguy.

CHÚA bảo vệ và giữ gìn mạng sống,

lại ban cho hạnh phúc trên đời,

không trao họ cho địch thù hung hãn (Tv 41:2-3).

Trong Tin Mừng chúng ta đọc về Mẹ Maria và Thánh Giuse là “hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ” (Lc 2:7). Ngày nay, cũng không có chỗ cho người nghèo trong nhà trọ của thế giới, nhưng lịch sử đã cho thấy Thiên Chúa đứng về phía ai và Giáo Hội có ý đứng về phía ai. Đi với người nghèo là noi theo sự khiêm nhường của Thiên Chúa. Đó là việc làm cho bản thân trở nên nhỏ bé vì yêu, vực dậy những ai ở dưới thấp.

Nhưng chúng ta đừng tự lừa phỉnh bản thân mình: đây là điều nói thì dễ hơn làm. Một Giáo Phụ sa mạc xưa, Isaac Niniveh, đã đưa lời khuyên cho những người bị buộc có nghĩa vụ phải nói những điều thiêng liêng là những điều mà họ chưa đạt tới trong cuộc sống: “Hãy nói về điều đó như một người thuộc về tầng lớp các môn đệ chứ không phải bằng thẩm quyền, sau khi đã hạ thấp linh hồn của bạn và làm cho bản thân bạn trở nên nhỏ bé hơn bất cứ ai trong số những người nghe bạn”. Và đó là cách mà tôi dám nói về điều đó.

“Chúng ta sẽ đến với Ngài và ở với Ngài”

“Ngôi Lời đã thành xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta”. Trước khi kết thúc, chúng ta cần chuyền từ số nhiều sang số ít. Ngôi Lời không đến trong thế giới này một cách không có phân biệt, mà cách cá vị nơi mỗi một linh hồn tin tưởng. Chúa Giêsu nói: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14:23). Do đó, Đức Kitô không chỉ hiện diện trên con thuyền của thế giới hay của Giáo Hội; mà Ngài còn hiện diện trên con thuyền bé nhỏ của đời tôi. Thật là một tư tưởng tuyệt vời! Nếu chúng ta có thể thật sự tin vào điều đó! Thánh Elizabeth Ba Ngôi đã khám phá ra bí mật về sự thánh thiện của Ngài hệ tại ở đó. Như Ngài đã viết cho một người bạn: “Tôi dường như thấy chính thiên đàng của tôi tại thế, vì thiên đàng là Thiên Chúa và Thiên Chúa ở nơi linh hồn tôi. Ngày mà tôi hiểu ra điều này, mọi sự được lấp đầy bằng ánh sáng!”

Với những giới hạn thờ tự công chúng và sự tham dự nhà thờ mà nó tạo ra, nạn dịch có thể là một cơ hội cho nhiều người trong chúng ta khám phá ra rằng chúng ta không gặp gỡ Thiên Chúa chỉ bằng việc đi nhà thờ, mà chúng ta có thể thờ phượng Thiên Chúa “trong thần trí và sự thật” và đàm đạo với Chúa Giêsu ngay cả khi bị khoá trong các ngôi nhà của chúng ta, hay trong các căn phòng của chúng ta. Một người Kitô Hữu sẽ không bao giờ có thể làm gì mà không có Thánh Thể và cộng đoàn, nhưng khi điều này bị ngăn cản bởi sức mạnh bất khả kháng, thì người ta không nên nghĩ rằng đời sống Kitô Giáo bị đứt quãng! Nếu bạn chưa từng bao giờ gặp gỡ Đức Kitô nơi tâm hồn bạn, thì bạn sẽ không bao giờ gặp gỡ Ngài – theo nghĩa mạnh nhất của từ này - ở bất cứ nơi nào khác.

Có một lời nói mạnh mẽ về Giáng Sinh vốn vang vọng qua thời gian nơi môi miệng của các tiến sĩ lỗi lạc và các bậc thầy thiêng liêng của Giáo Hội: Origen, Thánh Augustine, Thánh Bernard, Angelus Silesius và nhiều vị khác. Về cơ bản, lời ấy thế này: “Điều đó hữu dụng gì với tôi, việc Đức Kitô được hạ sinh bởi Đức Maria nơi Bethlêhm, nếu Ngài không được sinh ra từ niềm tin nơi tâm hồn tôi?” “Đức Kitô được sinh ra ở nơi nào khác, theo nghĩa sâu nhất, nếu không phải là nơi tâm hồn và linh hồn bạn?, như Thánh Ambrose đã viết. Thánh Maximus the Confessor lặp lại điều đó: “Ngôi Lời của Thiên Chúa mong muốn lặp lại mầu nhiệm nhập thể của Ngài nơi tất cả mọi người nam nữ”. Như bạn có thể thấy, đó thật sự là một chân lý mang tính đại kết.

Lặp lại cùng một truyền thống, Thánh Gioan XXIII, trong thông điệp Giáng Sinh 1962 của Ngài, đã nói lên lời cầu nguyện cháy bỏng này: “Ôi, Ngôi Lời Hằng Hữu của Chúa Cha, Con Thiên Chúa và Mẹ Maria, xin hãy sinh lại lần nữa hôm nay, trong thẳm sâu kín ẩn linh hồn chúng con, người con diệu kỳ của sự hạ sinh của Ngài”. Chúng ta cũng hãy biến lời cầu nguyện này thành của chúng ta, nhưng, trong hoàn cảnh bi đát mà chúng ta đang kinh qua, chúng ta cũng hãy thêm vào lời nguyện cháy bỏng của phụng vụ Giáng Sinh: “Ôi Vua muôn nước, Đấng trị vì mà người ta khát khao, đá góc tường hiệp nhất hết mọi dân nước: Xin hãy đến và cứu tất cả chúng con, những người mà Chúa đã nhào nặn lên từ đất sét”. Xin hãy đến và vực dậy nhân loại, đang kiệt quệ vì thử thách lâu dài của nạn dịch hiện tại này!

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ cantalamessa.org)