Đức Hồng Y Cantalamessa - Bài giảng tĩnh tâm Mùa Chay 2021 Tuần I

Hãy Sám Hối và Tin Vào Tin Mừng

Như thường lệ, chúng ta sẽ dành bài suy niệm đầu tiên này cho một sự dẫn nhập tổng thể cho Toàn Bộ Mùa Chay, trước khi đi sâu vào chủ đề cụ thể mà chúng ta đã hoạch định khi chúng ta đã hoàn thành các bài linh thao cho Giáo Triều. Trong Tin Mừng Chúa Nhật Thứ I Mùa Chay Năm B chúng ta đã nghe lời loan báo long trọng mà qua đó Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai của Ngài: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1:15). Chúng ta sẽ suy tư về lời mời gọi sám hối liên tục này của Chúa Giêsu.

Trong Kinh Thánh Tân Ước, sự hoán cải được đề cập ở ba thời khắc và bối cảnh khác nhau, mỗi sự đề cập nhấn mạnh một thành tố mới của tiến trình. Ba đoạn này cùng mang lại cho chúng ta một ý tưởng hoàn chỉnh về sự thay đổi đời sống của Tin Mừng nghĩa là gì. Chúng ta không nhất thiết phải kinh nghiệm cả ba thành tố này cùng lúc, với cùng một cường độ. Một kiểu hoán cải khác được mang lại trong mỗi mùa sống. Thật quan trọng để mỗi người chúng ta xác định một kiểu hoán cải phù hợp với bản thân bây giờ.

Sám hối, đó là tin!

Kiểu hoán cải đầu tiên là kiểu vang vọng ngay khởi đầu việc rao giảng của Chúa Giêsu và được tóm gọn lại trong các lời: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1:15). Chúng ta hãy nỗ lực để hiểu từ “hoán cải” nghĩa là gì ở đây. Trước Chúa Giêsu, thì hoán cải luôn có nghĩa là một “sự trở về” (từ shub trong tiếng Híp-ri có nghĩa là đảo ngược lộ trình, trở về với những bước của bản thân). Nó xác định hành động của một người khi mà, ở một thời điểm nhất định nào đó trong đời họ, họ nhận ra là họ “đi trật đường ray”. Rồi họ dừng lại, nghĩ lại; họ quyết định trở lại với việc tuân thủ luật và đi vào giao ước trở lại với Thiên Chúa. Hoán cải, trong trường hợp này, có một ý nghĩa luân lý thiết yếu và đưa ra ý tưởng về một điều gì đó đớn đau để thực hiện, như là thay đổi các thói quen, dừng lại làm việc này hay việc kia.

Trên môi miệng của Chúa Giêsu thì ý nghĩa thay đổi. Không phải là việc Ngài thích việc thay đổi ý nghĩa của từ ngữ, mà là, với sự ngự đến của Ngài, thì mọi sự thay đổi. “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”. Hoán cải hay sám hối không còn có nghĩa là quay trở về nữa, trở về giao ước cũ và tuân giữ lề luật, mà thay vào đó nó có nghĩa là tiến bước và đi vào Nước Trời, nắm bắt ơn cứu độ dành cho người nam nữ cách nhưng không, vì sáng kiến tự do và toàn quyền từ Thiên Chúa.

“Sám hối và tin” không nói đến hai điều khác nhau và mang tính nối tiếp, nhưng là cùng một hành động nền tảng: sám hối, nghĩa là tin! Thánh Tomas Aquinas nói, “Prima conversion fit per fidem”: Sự hoán cải trước hết hệ tại ở việc tin. Tất cả điều này mời gọi một hành động đúng về “sự hoán cải”, một sự thay đổi sâu trong cách nhìn về mối quan hệ với Thiên Chúa. Việc này đòi hỏi một sự chuyển đổi từ ý tưởng về một Thiên Chúa đòi hỏi, ra lệnh, và đe doạ, sang ý tưởng về một Thiên Chúa đến với chúng ta bằng trọn vẹn đôi tay để chính Ngài ban cho chúng ta mọi sự. Đó là sự hoán cải từ “lề luật” sang “ân sủng” mà Thánh Phaolô đã nói đến quá nhiều.

“Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ…”

Giờ chúng ta hãy nghe đoạn thứ hai trong Tin Mừng, đoạn sự hoán cải được nói lại một lần nữa: “Lúc ấy, các môn đệ lại gần hỏi Đức Giê-su rằng: ‘Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời?’ Đức Giê-su liền gọi một em nhỏ đến, đặt vào giữa các ông và bảo: ‘Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời’” (Mt 18:1-3).

Lần này thì hoán cải thực sự có nghĩa là trở lại một hành trình dài xa tới thời trẻ thơ của chúng ta! Động từ rất quan trọng được dùng, strefo, chỉ đến sự thay đổi hướng trong một cuộc tuần hành. Đây là sự hoán cải của những người đã đi vào Nước Trời, đã tin vào Tin Mừng và đã phục vụ Đức Kitô một thời gian dài. Đó là chính sự hoán cải của chúng ta!

Đâu là sự ngầm định ở dưới sự thảo luận về việc ai là người lớn nhất? Đó chính là ý tưởng là sự quan tâm chính không còn là Nước Trời, mà là vị thế mà các tông đồ có ở đó, cái tôi của các vị. Mỗi trong số các vị được hưởng lợi gì đó để đi đến việc là người lớn nhất. Phêrô đã nhận được lời hứa về sự riêng tư, Giu-đa có thùng tiền, Mát-thêu có thể tuyên bố ông đã bỏ nhiều hơn những người khác, An-rê thì là người đầu tiên theo Chúa Giêsu, Gia-cô-bê và Gioan thì là việc các ông đã ở trên Núi Tabor cùng với Chúa Giêsu…Những hoa trái của hoàn cảnh này thì rõ: sự ganh đua, sự hoài nghi, sự so sánh lẫn nhau, sự thất vọng.

Đột nhiên Chúa Giêsu gỡ bỏ tấm màn. Hãy quên đi việc là trước hết: anh em sẽ không bao giờ đi vào Nước Trời theo cách đó! Đâu là phương dược cho điều đó? Trở lại, hoàn toàn thay đổi cách tiếp cận và hướng. Chúa Giêsu đặt ra một giải pháp thông thái. Thật cần thiết để thay đổi trọng tâm từ bản thân anh em và hướng trọng tâm anh em vào Đức Kitô.

Đơn giản hơn, Chúa Giêsu mời gọi các tông đồ hãy trở nên như trẻ thơ. Đối với các ông trở về như trẻ thơ có nghĩa là trở về với ơn gọi gốc ở bờ biển hay bờ hồ hoặc ngày tại bàn làm việc của các ông: không có những yêu cầu hay tư lợi, những so sánh nhau hay ghen tị hay những ghanh đua. Do đó sự giàu có duy nhất của các ông là Chúa Giêsu, lời hứa của Ngài (‘Thầy sẽ làm cho anh trở thành kẻ lưới người’) và sự hiện diện của Ngài. Do đó các ông vẫn là những người bạn đường của nhau; các ông không cạnh tranh cho vị trí số một.

Đối với chúng ta cũng thế trở lại như trẻ thơ nghĩa là trở về với thời gian khi chúng ta khám phá ra chúng ta được gọi, với thời gian thụ phong linh mục của chúng ta, với lời khấn dòng của chúng ta, hoặc với thời gian mà chúng ta lần đầu tiên thật sự gặp gỡ Chúa Giêsu. Khi chúng ta nói: “Chỉ một mình Thiên Chúa là đủ!” và chúng ta tin điều đó.

“Anh em không nóng cũng chẳng lạnh”

Bối cảnh thứ ba mà một lời mời cho sự hoán cải được lặp lại là hoàn cảnh của lá bảy lá thư gửi cho các Hội Thánh trong Sách Khải Huyền. Bảy lá thư được nói với người dân và các cộng đoàn là những người, như chúng ta, đã sống một đời sống Kitô Hữu dâu dài và thực ra đóng một vai trò dẫn đầu trong số họ. Các lá thư này nói với vị thiên thần của các Hội Thánh khác nhau: ‘Với thiên thần của giáo hội tại Ê-phê-xô, viết thế này…’ Một tước hiệu như thế không thể được giảit hích nhưng bằng sự tham chiếu trực tiếp hay gián tiếp đến vị mục tử của cộng đoàn. Thật không thể tưởng nghĩ được là Chúa Thánh Thần lại quở trách các thiên thần vì những sai lỗi hay những méo mó được thuật lại nơi các giáo hội khác nhau, hay thậm chí hơn là lời mời gọi hoán cải được nói cho các thiên thần thay vì con người!

Trong số bảy lá thứ gửi cho các Hội Thánh, lá thư mà chúng ta cần phải suy tư nhiều nhất là thư gửi cho Hội Thánh Lao-đi-xê-a. Chúng ta khá quen thuộc với giọng điệu hà khắc này:

Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi! Nhưng vì ngươi hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta… Vậy hãy nhiệt thành và hối cải ăn năn! (Kh 3:15tt).

Tâm điểm ở đây là sự hoán cải khỏi việc lười biếng và tầm thường. Trong lịch sử về sự thánh thiện Kitô Giáo, thì gương được biết nhiều nhất về kiểu hoán cải này, từ tội lỗi sang ân sủng, mà Thánh Augustine mang lại; gương hoán cải thứ hai mang tính chỉ dạy của kiểu hoán cải này, từ sự nguội lạnh nên nhiệt thành, mà Thánh Theresa Avila mang lại. Điều mà Thánh nhân nói về chính bản thân Ngài là tỏng Đời Ngài chắc chắn bị cường điều và được qui định bởi bản chất tinh tế của lương tâm Ngài, nhưng, trong bất cứ trường hợp nào, thì nó sẽ giúp tất cả chúng ta thực hiện một sự suy xét hữu ích về lương tâm của chúng ta:

Do đó, tôi bắt đầu đắm chìm vào hết thời gian quá khứ này đến thời gian quá khứ khác, vào hết sự hư vinh này đến sự hư vinh khác và hết dịp tội này đến dịp tội khác. Trong quá nhiều và những dịp tội trọng như thế mà tôi đã sa ngã, và linh hồn tôi đã bị trượt dài bởi tất cả những sự hư vinh như vậy […] Tất cả những điều thuộc về Thiên Chúa đã mang lại cho tôi sự vui thoả lớn lao nhưng tôi lại bị trói buộc và dính vào những sự thuộc về thế gian này. Dường như thể là tôi muốn giao hoà hai điều trái ngược này, mà qúa hoàn toàn chống lại nhau – đời sống thuộc tinh thần và những thú vui và niềm vui và những quá khứ của các giác quan. Tình trạng của những thứ này tạo ra một sự bất hạn thẳm sâu: Tôi đã tiêu tốn gần 20 năm trên biển giống bão ấy, thường ngã theo cách này và mỗi lần trỗi dậy, nhưng ít mục đích, thì tôi lại chỉ có thể sa ngã thêm nữa. Đời sống của tôi đã ở quá xa sự hoàn hào đến mức tôi thật hiếm khi chú ý đến những trọng tội; còn về tội trọng, mặc dù sợ chúng, nhưng tôi không nỗ lực nhiều như lẽ ra tôi phải thế; vì tôi không thoát khỏi mối nguy của việc rơi vào những trọng tội này. Tôi có thể làm chứng rằng đây là một trong những kiểu sống đau khổ nhất mà tôi có thể hình dung, vì tôi chẳng có bất cứ niềm vui nào nơi Thiên Chúa cũng chẳng có bất cứ thú vui nào nơi thế gian. Khi tôi đang ở trong những thú vui thế gian, thì tôi lại bị buồn chán bởi việc nhớ lại điều tôi mắc nợ Thiên Chúa; khi tôi ở với Thiên Chúa, thì tôi lại trở nên không yên vì những tình cảm thế gian.

Nhiều người có thể thấy trong sự phần tích này lý do thực cho sự bất mãn và bất hạnh. Do đó chúng ta hãy đào sâu vào việc rút ra khỏi việc nguội lạnh. Thánh Phaolô đã kêu gọi các Kitô Hữu ở Rôma với những lời này: “nhiệt thành, không trễ nải; lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa” (Rm 12:11). Người ta có thể bị cám dỗ để bác bỏ: “À, Phaolô thân mến, đó chính xác là nơi các vấn đề hiện diện! Làm thế nào mà Ngài có thể đi từ sự nguội lạnh đến sự nhiệt thành nếu đó là điều mà Ngài đã thật không may rơi vào?” Chúng ta có thể rơi vào tình trạng nguội lạnh, như chúng ta có thể rơi vào bãi cát, nhưng chúng ta không thể tự mình kéo mình ra, bằng việc kéo lê bản thân bằng cách nắm tóc như nó là.

Sự bác bỏ mà chúng ta nêu lên là hệ quả từ việc phớt lờ hoặc hiểu sai những lời thêm “tinh thần” (en pneumati) mà Vị Tông Đồ thêm vào giáo huấn của Ngài, “Hãy nhiệt thành”. Ở Phaolô thì từ “tinh thần” hầu như bất biến – và cụ thể trong trường hợp này – chỉ ra hoặc bao gồm một sự tham chiếu đến Thần Khí. Từ này chưa bao giờ tham chiếu cách đặc biệt đến tinh thần hay ý chí của chúng ta, trừ trong 1 Tx 5:23, đoạn đó là một thành tố thuộc về con người, cùng với thân xác và linh hồn.

Chúng ta là những người thừa hưởng một nền linh đạo mà cách chính tông thấy tiến trình đến sự hoàn hảo như được chia thành ba giai đoạn cổ điển: qua purgativa, qua illuminativa và qua unitiva. Sự thanh luyện, sự khai sáng, sự hiệp nhất. Nói theo cách khác, chúng ta cần thực hành sự từ bỏ và tự huỷ thật lâu trước khi chúng ta có thể kinh nghiệm được sự nhiệt thành. Tất cả điều này được dựa trên nền tảng sự khôn ngoan và trên nhiều thế kỷ kinh nghiệm và sẽ có thể sai trái để nghĩ là việc đó đã lỗi thời vào lúc này. Không, điều đó không lỗi thời, nhưng đó không phải là cách duy nhất mà ân sủng của Thiên Chúa chọn đi theo.

Một sự phân biệt hà khắc như vậy cho thấy một sự chuyển dịch chậm từ ân sủng thánh sang những nỗ lực con người. Theo Kinh Thánh Tân Ước thì đó là một tiến trình theo đường tròn và tự nhiên, mà từ đó sự chết đi chắc chắn cần thiết để đạt được sự nhiệt thành của Thần Khí, nhưng đồng thời cũng thật đúng là sự nhiệt thành của Thần Khí là cần thiết để có thể thực hành sự từ bỏ. Khởi đi trên hành trình khổ chế mà không có một sự thúc đẩy khởi đầu mạnh mẽ bởi Thần Khí thì sẽ là một mảnh đất chết và sẽ không tạo ra bất cứ thứ gì ngoài “sự kiêu ngạo của xác thịt”. Chúng ta được ban cho Thần Khí để có thể tự từ bỏ chính mình, thay vì là một giải thưởng cho việc tự từ bỏ chính mình. Thánh Phaolô đã viết, “nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống” (Rm 8:13).

Các thứ hai này, đi từ lòng nhiệt thành đến sự khổ chế và thực hành nhân đức, là cách mà Chúa Giêsu muốn các tông đồ tuân theo. Như một thần học gia vĩ đại Byzantine là Cabasilas đã nói,

Các tông đồ và các tổ phụ niềm tin đã có lợi thế được chỉ dẫn trong mọi giáo lý và điều hơn nữa là bởi chính Đấng Cứu Độ bằng xương bằng thịt. […] Nhưng, ngoài việc biết hết điều này, cho đến khi các vị được chịu phép rửa [trong Lễ Hiện Xuống, bằng Thần Khí], các vị không thể hiện bất cứ điều gì mới, cao cả, thiêng liêng, tốt hơn thời chúng ta. Nhưng khi phép rửa xảy ra với các vị và Đấng Bảo Trợ đã khuấy động linh hồn các vị, thì các vị trở nên mới và các vị đón nhận đời sống mới, các vị là những người lãnh đạo người khác và làm cho ngọn lửa tình yêu dành cho Đức Kitô chiếu toả nơi chính bản thân các vị và nơi người khác. […] Đó là cùng một cách mà Thiên Chúa dẫn đến sự hoàn hảo cho tất cả các thánh là những vị xuất hiện sau các tông đồ.

Các Giáo Phụ đã diễn tả tất cả điều này bằng hình ảnh cuốn hút về “sự say sưa điều độ”. Điều cuốn hút nhiều trong số các vị chọn lối nói mang tính trái ngược này từ Philo Alexandria, hay sự nghịch lý, là những lời của Phaolô gửi Tín Hữu Ê-phê-xô:

Chớ say sưa rượu chè, vì rượu chè đưa tới truỵ lạc, nhưng hãy thấm nhuần Thần Khí. Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa.(Ep 5:18-19).

Khởi đi với Origen, rất nhiều bản văn của các Giáo Phụ nói đến hình ảnh này, bằng việc hoặc đưa ra lối so sánh giống nhau hoặc về sự tương phản giữa sự say sưa thể xác và tinh thần. Những người mà, trong Lễ Hiện Xuống, đã hiểu lầm các tông đồ là những kẻ bứ rượu, là đúng – như Thánh Cyril Jerusalem viết – những sai phạm duy nhất của họ là liên hệ sự say xỉn đối với rượu thường, trong khi đó lại là “rượu mới”, được làm từ “cây nho thật” chính là Đức Kitô; các tông đồ thật ra đã say, nhưng sự say sưa của các vị là một sự say sưa điều độ nghiền nát các tội của các ông và làm sống lại tâm hồn các ông.

Làm thế nào chúng ta có thể đón nhận ý tưởng này về sự say sưa điều độ này và mặc lấy nó vào trong hoàn cảnh hiện tại trong lịch sử và trong Giáo Hội? Vì ssao chúng ta lại giả định rằng một cách thế mạnh mẽ để kinh nghiệm Thần Khí như vậy lại là một đặc quyền của các Giáo Phụ và thuộc lịch sử ban đầu của Giáo Hội, mà nó không còn là một trường hợp đối với chúng ta? Quà tặng của Đức Kitô không bị giới hạn vào một thời đại cụ thể, mà nó được ban cho mọi thời đại. Thật rõ ràng vai trò của Thần Khí là làm cho ơn cứu chuộc của Đức Kitô thành hoàn vũ và sẵn sàng cho mọi người, ở bất cứ một điểm nào của thời gian và không gian.

Như một Giáo Phụ thời sơ khai đã viết, một đời sống Kitô Hữu được lấp đầy bằng những nỗ lực và sự từ bỏ khổ chế, nhưng là kiểu chạm làm cho sống của Thần Khí, sẽ giống như phục vụ Thánh Lễ với nhiều bài đọc, nghĩ lễ và lễ dâng, mà không có linh mục thánh hiến các thành phần. Tất cả sẽ vẫn như nó là trước đó, bánh và rượu. Như Vị Giáo Phụ đúc kết,

Điều tương tự cũng áp dụng cho các Kitô Hữu. Ngay cả khi họ đã ăn chay, tham gia vào giờ kinh, hát các thánh vịnh, thực thi mọi hành vi khổ chế và thực hành nhân đức cách hoàn hảo, thì ân sủng vẫn không thực hiện hoạt động nhiệm mầu của Thần Khí trên bàn thờ tâm hồn họ, toàn bộ tiến trình khổ chế ấy là chưa hoàn hảo và hầu như hư vô, vì chúng không được lấp đầy bằng niềm vui của Thần Khí đang hoạt động cách nhiệm mầu nơi tâm hồn họ.

Đâu là những “nơi” mà Thần Khí hoạt động ngày nay theo cùng một cách thế mà Ngài đã hoạt động trong Lễ Hiện Xuống? Chúng ta hãy lắng nghe Thánh Ambrose là vị, trong số các Giáo Phụ Latinh, là người loan báo cách xuất sắc sự say sưa điều độ của Thần Khí. Sau khi đề cập đến hai “nơi” theo cách xưa – Thánh Thể và Thánh Kinh – nơi Thần Khí có thể được tìm thấy, thì Thánh Ambrose đưa ra một chọn lựa thứ ba, khi nói:

Có một sự say sưa khác được tạo ra bởi cơn mưa của Thần Khí. Theo cùng một cách thế, trong Tông Đồ Công Vụ, những người nói theo những ngôn ngữ khác nhau cho những người nghe của mình được đầy tràn rượu.

Sau khi đề cập đến các phương thế “bình thường” bằng những lời này, Thánh Ambrose đưa ra một phương thế “ngoại thường”, mà qua đó Ngài có ý nói điều gì đó chưa được lên kế hoạch trước, cũng không phải là điều mang tính thiết chế. Đó là về việc làm sống lại kinh nghiệm của các tông đồ trong ngày Hiện Xuống. Chắc chắn, Thánh Ambrose không có ý chỉ ra chọn lựa thứ ba này, để nói với những người nghe Ngài là chọn lựa này không dành cho họ, chỉ được dành cách đặc biệt cho các tông đồ và cho thế hệ Kitô Hữu đầu tiên. Trái lại, Ngài muốn khuấy động cộng đoàn của Ngài kinh nghiệm “cơn mưa của Thần Khí” vốn đã diễn ra trong Lễ Hiện Xuống. Đó là điều mà Thánh Gioan XXIII có ý thực hiện với Công Đồng Vatican II: một “Lễ Hiện Xuống mới” cho Giáo Hội.

Do đó, chúng ta cũng có một cơ hội để thu hút Thần Khí từ kênh này, hoàn toàn lệ thuộc vào hoạt động tự do và toàn quyền của Thiên Chúa. Một trong những cách mà Thần Khí được làm cho tỏ hiện theo cách này bên ngoài những kênh theo hiến chế là cái được gọi là “phép rửa trong Thần Khí”. Tôi chỉ nói về điều này trong bối cảnh này mà không có bất cứ một thứ chủ nghĩa cải đạo cố ý nào, nhưng chỉ trong sự đáp trả với “giáo huấn thường xuyên của Đức Giáo Hoàng Phanxicô với các thành viên Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng Công Giáo để chia sẻ ‘dòng chảy ân sủng’ được kinh nghiệm tỏng phép rửa của Thần Khí với toàn thể dân Thiên Chúa.

Cụm từ “Phép Rừa trong Thần Khí” xuất phát từ chính Chúa Giêsu. Khi nói về việc sắp xảy ra của Lễ Hiện Xuống, trước khi lên trời Ngài nói với các môn đệ: “ông Gio-an thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần" (Cv 1:5). Nghi thức này chẳng có chi thần bí; thay vào đó, nó chứa đựng những cử chỉ hết sức đơn giản, bình thản và vui tươi, cùng với những tâm tình khiêm nhường, sám hối và sẵn sàng để trở nên như trẻ nhỏ.

Đây là một sự canh tân với sự ý thức nguyên sơ chứ không chỉ về Phép Rửa Tội và Phép Thêm Sức, nhưng còn là về toàn bộ đời sống Kitô Giáo, về bí tích hôn nhân dành cho người đã kết hôn, về việc truyền chức cho các linh mục của họ, về việc khấn dòng đối với người sống đời thánh hiến. Ứng viên chuẩn bị cho phép rửa trong Thần Khí không chỉ với một lời tuyên xưng tốt, mà còn dự phần vào những cuộc gặp gỡ hướng dẫn, nơi mà họ có thể đi vào mối liên hệ sống động và vui tươi với các sự thật và thực tại chính của niềm tin: tình yêu của Thiên Chúa, tội lỗi, ơn cứu độ, đời sống mới và sự biến đổi trong Đức Kitô, các đặc sủng, các hoa trái của Thần Khí. Hoa trái thường xuyên quan trọng nhất là sự khám phá ra việc có “mối quan hệ cá vị” với Chúa Giêsu phục sinh và đang sống có nghĩa là gì. Theo sự hiểu Công Giáo, thì Phép Rửa trong Thần Khí không phải là hồi kết của một hành trình, mà là một khởi điểm cho sự trưởng thành trong tư các là các Kitô Hữu và trong tư cách là các thành viên dấn thân của Giáo Hội.

Có đúng khi mong đợi mọi người đi qua kinh nghiệm này không? Đây có phải là cách duy nhất để kinh nghiệm ân sủng của Lễ Hiện Xuống mới mà Công Đồng Vatican II hy vọng không? Nếu qua phép rửa trong Thần Khí mà chúng ta có ý là một nghi thức nhất định, trong một bối cảnh nhất định, thì câu trả lời phải là không; chắc chắn đó không phải là cách duy nhất vui hưởng một kinh nghiệm mạnh mẽ về Thần khí. Đã từng và có vô số các Kitô Hữu là những người có kinh nghiệm tương tự, mà không ý thức về phép rửa trong Thần Khí, và lãnh nhận một sự gia tăng về ân sủng và một sự xức dầu mới bằng Thần Khí sau một kì tĩnh tâm, một cuộc gặp gỡ hoặc nhờ điều gì đó mà họ đã đọc. Ngay cả một khoá về các bài linh thao cũng có thể có cái kết rất tốt đẹp với một sự mời gọi đặc biệt đến Thần Khí, nếu người dẫn dắt có kinh nghiệm và người tham dự đón nhận nó. Nếu có ai đó không thích lối diễn tả “phép rửa trong Thần Khí”, thì hãy để họ để điều đó sang một bên và thay vì “phép rửa trong Thần Khí” thì hãy xin “Thần Khí phép rửa”, đó là một sự canh tân về ơn ban nhận lãnh trong phép rửa.

Bí quyết là hãy nói “Lạy Chúa Thánh Thần xin hãy đến”, nhưng cần phải nói điều đó bằng cả trái tim, khi biết rằng một lời mời như vậy sẽ không bao giờ không được nghe. Khi nói điều này bằng một “niềm tin mong đợi”, để cho Thần Khí tự do đến theo cách và với sự thể hiện mà Ngài quyết, chứ không phải theo cách mà chúng ta nghĩ là Ngài nên đến và thể hiện chính Ngài.

“Phép rửa trong Thần Khí” đã biến thành một phương thế đơn giản và mạnh mẽ để căn tân đời sống của hàng triệu người tin trong hầu hết mọi Giáo Hội Kitô Giáo. Vô số người, họ là các Kitô Hữu chỉ có cái danh, nhưng nhờ vào kinh nghiệm ấy đã trở thành các Kitô Hữu thực thụ, tham gia vào cầu nguyện ngợi khen và vào các bí tích, là các nhà truyền giáo tích cực, sẵn sàng nhận các nhiệm vụ mục vụ tại các giáo xứ của họ. Một sự hoán cải thật khỏi tình trạng nguội lạnh để đến với việc nhiệt thành! Chúng ta cần thực sự nói với chính mình điều mà Thánh Augustine đã thường lặp lại với chính bản thân Ngài, hầu như với sự bực dọc, khi Ngài nghe các câu chuyện về người nam nữ là những người, ở một điểm nào đó, đã bỏ thế gian mà tận hiến bản thân họ cho Chúa: “Si isti et istae, cur non ego?”: “Nếu những người nam nữ này làm, thế thì tại sao tôi không làm?”

Chúng ta hãy xin Mẹ Thiên Chúa giành lấy cho chúng ta ân sủng mà Mẹ có được từ Con Mẹ tại Tiệc Cưới Cana ở Ga-li-lê. Qua lời cầu nguyện của Mẹ, vào dịp ấy, nước biến thành rượu. Chúng ta hãy xin điều đó qua sự chuyển cầu của Mẹ để nước của sự nguội lạnh của chúng ta có thể được biến thành rượu của lòng nhiệt thành mới. Cùng thứ rượu mà nơi các tông đồ trong Lễ Hiện Xuống đã tạo nên sự say sưa điều độ và làm cho các vị “nhiệt thành trong Thần Khí”.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Cantalamessa.org)