Đức Hồng Y Cantalamessa - Bài giảng tĩnh tâm Mùa Chay 2021 Tuần II

Ai Trong Các Ông Thấy Tôi Có Tội? Chúa Giêsu Kitô – Một Con Người Đích Thực 

Sự xuất hiện của tư tưởng hiện đại xuất phát từ thời Khai Sáng và được toát yếu trong câu châm ngôn về việc sống “etsi Deus non daretur”, như thể Thiên Chúa không tồn tại. Vị mục sư Dietrich Bonhoeffer đã chọn câu châm ngôn này khi nỗ lực mang lại cho nó một sự chú giải tích cực Kitô Giáo. Trong các ý định của ông, thì đó không phải là một sự nhượng bộ cho chủ nghĩa vô thần, mà là một kế hoạch cho đời sống thiêng liêng: hãy làm bổn phận của mình ngay cả khi Thiên Chúa có vẻ như ở xa; nói cách khác, không biến Thiên Chúa thành một Thiên Chúa-kiểu thở sửa, luôn sẵn sàng đến để cứu bất cứ thứ gì con người đã làm cho thất bại.

Ngay cả trong phiên bản này, thì câu châm ngôn là mang tính tranh luận và đã được phê bình cách đúng đắn. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện tại, chúng ta quan tâm đến câu châm ngôn này vì một lý do hoàn toàn khác. Giáo Hội đang thực hiện một nguy cơ chết người của việc sống “etsi Deus non daretur”, như thể Thiên Chúa không tồn tại. Đó là sự giả định mà qua đó thế giới này và giới truyền thông của nó nói về Giáo Hội trong suốt mọi thời đại. Sự hứng thú của họ tập trung vào lịch sử của Giáo Hội (trên hết là một lịch sử tiêu cực, chứ không phải lịch sử về sự thánh thiện), tổ chức của Giáo Hội, quan điểm của Giáo Hội về các vấn đề đương thời, những sự thật nội bộ và sự nhiều chuyện của Giáo Hội. Chúa Giêsu trong tư cách là một con người được đề cập một lần cho là xong. Một đề xuất đã được đưa ra tại Ý nhiều năm trước đây – và giờ vẫn đang áp dụng ở một số nước – về một sự đồng minh có thể giữa những người tin và người không có niềm tin dựa trên những quyền dân sự và luân lý chung, trên các căn rễ Kitô Giáo của nền văn hoá chúng ta và tương tự. Nói cách khác, một sự đồng thuận như thế không dựa trên điều đã xảy ra trong thế giới với sự ngự đến của Đức Kitô, mà trên điều đã xảy ra sau này, sau Ngài.

Một dữ kiện khách quan thêm – và rất tiếc là không thể tránh khỏi là việc Đức Kitô không đi vào vai trò nào trong bất cứ cuộc đối thoại nào trong ba cuộc đối thoại sống động nhất được thực hiện giữa Giáo Hội và thế giới. Ngài không đi vào vai trò trong cuộc đối thoại giữa niềm tin và triết học, vì triết học giải quyết với những ý niệm siêu hình, konog phải với những thực thể mang tính lịch sử, như con người của Giêsu Nazareth là; Ngài không đi vào vào trò trong cuộc đối thoại với khoa học, mà qua đó người ta có thể thảo luận về sự hiện hữu của một Thiên Chúa tạo dựng và của một “kế hoạch thông tuệ” bên dưới sự tiến hoá; sau cùng, Ngài không đi vào vai trò trong cuộc đối thoại liên tôn, nơi mà tâm điềm là về điều mà các tôn giáo có thể thực hiện cùng nhau, nhân danh Thiên Chúa, vì thiện ích của nhân loại.

Ngay cả trong một sự quan tâm công bằng nhất với việc đáp trả trước những nhu cầu và những thách đố mang tính khiêu khích của lịch sử và văn hoá, tất cả chúng ta, gồm cả chúng ta là những người tin, đang gặp nguy cơ chết người về việc hành xử ““etsi Deus non daretur”. Như thể là có thể nói về Giáo Hội khi loại trừ Đức Kitô và Tin Mừng của Ngài. Tôi bị đánh động sâu sắc bởi những lời của Đức Thánh Cha trong Cuộc Triều Yết Chung vào ngày 25/11 năm ngoái. Ngài nói – và bởi cung giọng của Ngài bạn có thể nói chủ đề này đã chạm vào Ngài cách sâu sắc:

Chúng ta thấy ở đây [trong Công Vụ 2:42] bốn đặc tính của đời sống giáo hội: lắng nghe giáo huấn của các tông đồ, trước hết; thứ hai, bảo vệ sự hiệp thông với nhau; thứ ba, việc bẻ bánh; và thứ tư, cầu nguyện. Những đặc tính này nhắc nhớ chúng ta rằng sự hiện hữu của Giáo Hội có ý nghĩa khi nó vẫn hiệp nhất cách vững bền với Đức Kitô, nghĩa là, trong cộng đoàn, trong Lời Ngài, trong Thánh Thể và trong cầu nguyện. Đó là cách mà chúng ta hiệp nhất bản thân mình với Đức Kitô. Việc rao giảng và giáo lý làm chứng cho những lời nói và việc làm của Vị Thầy; khao khát liên lỉ về sự hiệp thông huynh đệ bảo vệ chúng ta khỏi sự ích kỷ nơi chúng ta. Ngài sẽ không bao giờ vắng bóng; thật sự chính là Ngài trong Thánh Thể. Ngài đang sống và bước đi cùng với chúng ta cách cụ thể; việc bẻ bánh làm thành toàn sự hiện diện của Chúa Giêsu. Và sau cùng, việc cầu nguyện, vốn là không gian của đối thoại với Chúa Cha, qua Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần. Mọi sự trong Giáo Hội mà phát triển bên ngoài những “bản lề” này sẽ thiếu một nền tảng.

Như có thể thấy, trong những lời của Đức Giáo Hoàng về bốn bản lề của Giáo Hội được giảm thành chỉ còn có một: bám chặt vào Đức Kitô. Tất cả mọi điều này khiến cho tôi muốn dành những bài suy niệm Mùa Chay này cho con người của Chúa Giêsu Kitô. Cách cá nhân, tôi là người đầu tiên phải vượt thắng một sự phản bác có thể. Một cái nhìn thoáng về chỉ mục của các văn kiện Vatican II, dưới từ tìm kiếm “Chúa Giêsu Kitô” hoặc một sự lướt nhanh qua các văn kiện giáo hoàng trong vòng vài năm qua sẽ nói cho chúng ta nhiều hơn điều mà chúng ta có thể nói trong những bài suy niệm Mùa Chay ngắn ngủi này. Vậy thì đâu là sự hữu dụng khi chọn chủ đề này? Điều cần nói là ở đây chúng ta sẽ nói về chỉ một mình Chúa Giêsu Kitô, như thể chỉ một mình Ngài hiện hữu và thật xứng đáng để nói về một mình Ngài mà thôi (do đó sau cùng thì đó chính là, chân lý!).

Chúng ta có thể thực hiện điều đó vì chúng ta không bị ép buộc, như Huấn Quyền là, cũng là để giải quyết các vấn đề khác: các vấn đề mục vụ, luân lý, xã hội, môi trường, cũng như là trong những ngày này khi có những thách đố được tạo ra bởi nạn dịch. Sẽ thật hoàn toàn sai trái nếu chúng ta chỉ thực hiện điều chúng ta thực thi ở đây, nhưng sẽ sai không kém nếu chúng ta chưa bao giờ thực thi. Từ kinh nghiệm của tôi với truyền hình, tôi đã học được một điều. Có nhiều cách khác nhau để ghi hình một đối tượng, “kiểu quay rộng”, khi người nói được ghi hình với mọi thứ khác quanh họ và “kiểu quay cận cảnh”, khi người nói được thấy, và sau cùng, có cái gọi là “cực cận cảnh”, khi chỉ gương mặt của người nói hoặc thậm chí là chỉ đôi mắt họ được ghi hình. À, trong những bài suy niệm này, chúng ta đề nghị, với sự trợ giúp của Thiên Chúa, để ghi những khung hình “cực cận cảnh” về con người của Chúa Giêsu Kitô.

Mục đích của chúng ta không phải mang tính tranh biện, mà là mang tính thiêng liêng. Nói cách khác, chúng ta không nói để thuyết phục người khác, những người không tin, rằng Chúa Giêsu Kitô là Chúa, mà là để giúp cho Ngài có thể trở nên thật sự là Chúa của đời sống chúng ta hơn, điểm tham chiếu hoàn toàn mang tính trổi vượt, đến mức có cảm giác, như Vị Tông Đồ, “đã được Đức Ki-tô Giê-su chiếm đoạt” (Pl 3:12) và có thể nói với Ngài – ít nhất như một mong muốn – “đối với tôi, sống là Đức Ki-tô” (Pl 1:21). Do đó, câu hỏi sẽ đồng hành với chúng ta sẽ không phải là: “Đâu là vị thế mà Chúa Giêsu có trong thế giới và trong Giáo Hôi?”, nhưng: “Vị thế nào Chúa Giêsu có trong đời sống của tôi?” Hơn thế, đây sẽ là cách tốt nhất để gợi lên sự quan tâm của người ta vào Đức Kitô, đây là cách hiệu nghiệm nhất của việc truyền giáo.

Tuy nhiên, chúng ta cần làm rõ một điều. Đức Kitô nào mà chúng ta muốn nói đến? Thật ra có nhiều “Kitô” khác nhau: có Kitô của cá sử gia, của các thần học gia, của các nhà thơ, và thậm chí Kitô của những người vô thần. Chúng ta muốn nói về Kitô của các Tin Mừng và của Giáo Hội, cụ thể hơn, về Kitô của giáo lý Công Giáo được Công Đồng Chalcedon năm 451 xác định. Bây giờ và do đó thật tốt để nghe lại định nghĩa đó, ít nhất trong một phần của bản văn gốc:

Theo các Giáo Phụ thánh thiện, chúng tôi nhất trí dạy để tuyên xưng một và cùng một Chúa Con: Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta, hoàn hảo về thần tính của Ngài và hoàn hảo về nhân tính của Ngài, Thiên Chúa thật và là người thật [được tạo dựng] có linh hồn có lý luận và thân xác, cùng một bản thể với Chúa Cha về thần tính, và cùng bản thể với chúng ta về nhân tính, giống như chúng ta trong mọi sự, trừ tội lỗi […] là một và cùng là Chúa Giêsu Kitô duy nhất được sinh ra; để được nhận biết trong hai bản chất […], tính chất của từng bản chất là không hư hao và đồng thời tạo nên một con người và ngôi vị duy nhất.

Chúng ta có thể dùng hình ảnh của một tam giác mang tính giáo lý về Đức Kitô: các cạnh là nhân tính và thần tính của Đức Kitô và đỉnh điểm là sự hiệp nhất về chính ngôi vị của Ngài.

Giáo thuyết Kitô Học không có ý là một sự tóm lược tất cả các dữ liệu Kinh Thánh, một kiểu chưng cất chứa đựng một sự phong phú lớn lao các lời dạy có liên quan đến Đức Kitô vốn có thể được đọc trong Kinh Thánh Tân Uơcs, bằng cách giảm thiểu những điều này thành một công thức gọn và khô khan: ‘hai bản tính, một ngôi vị”. Nếu đó là trường hợp, thì giáo thuyết sẽ mang tính giảm thiểu thật khủng kheieps và thậm chí là nguy hiểm. Nhưng, đó không phải là trường hợp. Giáo Hội tin và rao giảng về Đức Kitô tất cả mọi điều mà Kinh Thánh Tân Ước nói về Ngài, mà không có một sự loại bỏ nào. Qua các phương thế của giáo thuyết, Giáo Hội chỉ nỗ lực phác hoạ ra một kiểu tham chiếu, soạn ra một kiểu “luật nền tảng” mà bất cứ một lời dạy nào về Đức Kitô cần phải tuân thủ. Tất cả mọi điều được nói về Đức Kitô ngay bây giờ phải tôn trọng sự thật nhất định và không thể hoán đổi: sự thật là Ngài là Thiên Chúa và đồng thời là con người; đúng hơn là nói, nơi cùng một ngôi vị.

Các giáo thuyết là “những cấu trúc mở” (Bernhard Lonergan), sẵn sàng chấp nhận hết mọi điều mới mẻ và thực tại đúng mà mỗi thời đại khám phá trong lời của Thiên Chúa. Chúng mở để triển nở từ bên trong, trước việc là chúng luôn tiến bước “theo cùng một nghĩa và cùng một dòng”. Điều đó có nghĩa là việc giải thích được đưa ra trong một thời đại phải không trái ngược với lời giải thích của thời đại trước. Do đó, việc tiếp cận Đức Kitô theo cách thế của giáo thuyết không có nghĩa là lặp lại cách mỏi mệt cùng những điều y như nhau, có lẽ chỉ thay đổi về ngôn từ. Điều đó có nghĩa là đọc Thánh Kinh trong Truyền Thống, với đôi mắt của Giáo Hội, đó là đọc Kinh Thánh theo một tính cách luôn xưa cổ và luôn mới mẻ.

Đức Kitô, một con người hoàn hảo

Chúng ta hãy xem tất cả điều này có ý nghĩa gì, nếu chúng ta áp dụng nó cho giáo thuyết về nhân tính hoàn hảo của Đức Kitô, vốn là “kiểu cực cận cạnh” mà chúng ta muốn dùng để ghi hình Chúa Giêsu trong bài suy niệm hiện tại này.

Trong suốt cuộc đời của Chúa Giêsu trên trần thế này thì chưa từng ai đã nghĩ đến việc đặt câu hỏi về thực tại nhân tính của Đức Kitô, việc thực sự là một con người như người khác của Ngài. Khi Kinh Thánh Tân Ước nói đến nhân tính của Đức Kitô, thì sự chú ý tập trung nhiều về sự thánh thiện của nhân tính hơn so với sự thật hay thực tại của nhân tính này, nghĩa là nhiều về sự hoàn hảo của nhân tính hơn là sự trọn vẹn mang tính bản thể của nhân tính này.

Vào thời điểm Công Đồng Chalcedon thì khái niệm này về Đức Kitô vẫn chưa thay đổi, nhưng tâm điểm không còn như xưa nữa. Chống lại bè rối Docetism, Giáo Hội đã xác quyết rằng Đức Kitô có một thân xác con người thật sự; chống lại bè rối Apollinarian, là Ngài cũng có một linh hồn con người, và sau đó, vào thế kỷ 17, Giáo Hội phải chiến đấu chống lại bè rối Mônthelite, vì sự nhìn nhận về Đức Kitô cũng có một ý chí, và do đó một sự tự do con người thật sự. Do bởi các dị giáo mà chúng ta vừa mới nói đến, thì mọi sự quan tâm về Đức Kitô như là một “con người” chuyển từ vấn đề sự mới mẻ và thánh thiện của một nhân tính như vậy, đến các vấn đề về sự hoàn hảo hoặc sự trọn vẹn mang tính bản thể.

Như tôi đã nói, Kinh Thánh Tân Ước quan tâm không quá nhiều vào việc tuyên bố rằng Chúa Giêsu là một con người “thật”, như trong việc là con người “mới” của Ngài. Ngài được Phaolô định nghĩa là “Adam sau cùng” (eschatos), nghĩa là “con người sau cùng” (x. 1 Cr 15:45tt; Rm 5:14). Đức Kitô đã mạc khải bản ngã mới, một bản ngã “được tạo dựng theo cách của Thiên Chúa trong sự công chính và thánh thiện của sự thật” (Ep 4:24; x. Cl 3:10). Chúa Giêsu Kitô là “Đấng Thánh của Thiên Chúa”: đây là con người mà Ngài được long trọng công bố trong hai thời khắc của Ngài ở trần gian (Lc 4:34; Ga 6:69). Chúa Giêsu không quá nhiều là con người giống như những con người khác, như con người mà tất cả con người khác đang giống nhau. Ngài là một con người duy nhất mà người ta phải nói điều mà các triết gia Hy Lạp đã nói về con người phổ quát: Ngài là “thước đo của mọi sự”!

Một khi sự thật mang tính giáo thuyết và bản thể về nhân tính hoàn hảo của Đức Kitô đã được đảm bảo, thì hôm nay chúng ta một lần nữa có thể đề cao khái niệm Thánh Kinh chính này. Chúng ta cũng phải làm thế vì một lý do khác. Ngày nay, không còn ai bác bỏ rằng Chúa Giêsu là một con người, giống như những người ủng hộ chủ thuyết Docetism và những người khác là những người đã bác bỏ nhân tính toàn vẹn của Đức Kitô. Thực vậy, chúng ta đang chứng kiến một hiện tượng lạ và làm nổi giận: nhân tính “thật” của Đức Kitô được xác quyết cách thầm lặng như một sự thay thế cho thần tính của Ngài, một kiểu cân bằng. Đó là một cuộc thi thố chung để xác định ai đi xa nhất trong việc khẳng định nhân tính “trọn vẹn” của Giêsu Nazareth, bằng việc đi xa đến mức gán cho Ngài không chỉ nỗi khổ, nỗi đớn đau và cơn cám dỗ, mà còn cả sự hoài nghi và thậm chí là khả năng mắc phạm những sai lầm.

Vì thế, giáo thuyết về Chúa Giêsu là một “con người thật” hoặc trở thành một sự thật quá nhiều đến mức người ta giả định là điều đó không còn làm phiền hay làm cho bất cứ ai nổi giận nữa, hoặc thậm chí tệ hơn, nó trở thành một sự thật nguy hiểm được dùng để biện minh thay vì chỉ trích tư tưởng thế tục. Khẳng định nhân tính toàn vẹn của Đức Kitô ngày nay giống như bắt cá trong thùng.

Sự thánh thiện của Đức Kitô

Do đó chúng ta hãy dành thời gian mà chúng ta còn để chiêm ngắm (đây là từ đúng) sự thánh thiện của Đức Kitô và để được choáng ngợp bởi điều đó, trước khi đưa ra bất cứ một đúc kết thực tiễn nào. Đây là “bức cực cận cảnh” đầu tiên về Chúa Giêsu mà chúng ta muốn dùng trong bài suy tư này: để cho bản thân chúng ta được kinh ngạc bởi vẻ đẹp vô biên của Đức Kitô, “người đẹp nhất trong số các con trai của nhân loại”.

Việc quan sát các Tin Mừng sẽ cho chúng ta thấy rằng sự thánh thiện của Chúa Giêsu không chỉ là một nguyên lý trừu tượng, hay một sự suy luận mang tính siêu hình, mà đó là một sự thánh thiện chuẩn mực, trong việc sự thánh thiện ấy được sống từng khoảnh khắc và trong các hoàn cảnh cụ thể nhất trong đời sống. Bát Phúc, lấy ví dụ, không chỉ là một kế hoạch sống tuyệt vời mà Chúa Giêsu phác hoạ ra cho người khác; đó chính là chính đời sống của Ngài và kinh nghiệm của Ngài như nó được mạc khải ra cho các môn đệ, bằng việc mời gọi họ đi vào trong cùng một lãnh địa của sự thánh thiện. Bát Phúc là chính bức tự hoạ của Chúa Giêsu.

Ngài dạy điều Ngài sống; đó là lý do vì sao Ngài có thể nói: “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng” (Mt 11:29). Ngài nói người ta phải tha thứ cho các kẻ. thù nhưng chính bản thân Ngài còn đi xa tới mức tha cho cả những người đóng đinh Ngài với những lời “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Thực vậy, đây không phải là một cảnh duy nhất, cảnh này hay cảnh khác, sẽ giúp cho việc suy xét không chỉ sự thánh thiện của Chúa Giêsu, mà cả mọi hành động, mọi lời do miệng Ngài nói.

Bên cạnh yếu tố tích cực này về sự vâng phục trọn vẹn và liên lỉ với ý muốn của Cha Ngài, thì sự thánh thiện của Đức Kitô còn cho thấy một yếu tố tiêu cực, mà tuyệt đối thiếu bất cứ một tội lỗi nào, “Ai trong các ông chứng minh được là tôi có tội?” (Ga 8:46). Về điểm này thì tất cả các chứng nhân tông đồ đều nói bằng một giọng: Ngài “không biết đến tội lỗi” (2 Cr 5:21); “Người không hề phạm tội; chẳng ai thấy miệng Người nói một lời gian dối” (1 Pr 2:22); Người “đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4:15); “đó chính là vị Thượng Tế mà chúng ta cần đến: một vị Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn, vô tội, tách biệt khỏi đám tội nhân” (Dt 7:26). Gioan, trong thư thứ nhất của Ngài, không mỏi mệt loan báo “Ngài là Đấng thanh sạch…nơi Ngài không có tỗi…; Ngài công chính” (1 Ga 3:3-7).

Lương tâm của Chúa Giêsu là một tinh thể trong suốt. Tuyệt đối không có một vết tích tội lỗi nào ở đó, cũng không có lời xin lỗi xin sự tha thứ hoặc trước Thiên Chúa hoặc trước con người. Ở đó luôn ngự trị một sự chắc chắn thanh bình về sự trung tín và công chính và về hành vi tốt lành, vốn không giống như giả định con người về công lý. Không một nhân vật nào khác trong lịch sử dám nói điều tương tự về chính họ.

Một sự vắng bóng tội lỗi – và sự vắng bóng vết tích của tội! – thì không gắn kết với một hay hành vi khác hay lời nói về Tinh Mừng, tính chất lịch sử của điều có thể bị đặt vấn đề, nhưng toàn bộ Tin Mừng loại trừ yếu tố này. Đó là một lối sống vốn được phản chiếu trong mọi sự. Bạn có thể nhìn vào những ngõ ngách xa tít nhất của các Tin Mừng và kết quả vẫn luôn là như nhau. Ý tưởng về một nhân tính thánh thiện và gương mẫu ngoại thường thì chưa đủ. Ý tưởng sẽ trái ngược với phong cách sống ấy. Một niềm tin như thế, một sự loại trừ tội lỗi như thế, như có thể nhận thấy nơi Chúa Giêsu, sẽ chắc chắn cho thấy một nhân tính ngoại thường, nhưng là tính ngoại thường theo nghĩa kiêu ngạo, chứ không phải sự thánh thiện. Một sự nhận biết về bản chất ấy hoặc gán cho tội lớn lao nhất chưa từng có được thực hiện, lớn hơn cả tội của Lucifer, hoặc làm thay đổi sự thật. Sự phục sinh của Đức Kitô mang lại một chứng cứ cụ thể rằng đó là một sự thật tuyệt đối.

“Hy sinh trong Chúa Giêsu Kitô”

Giờ đây chúng ta sẽ tiếp tục xét đến sự thánh thiện của Đức Kitô có ý nghĩa gì với chúng ta. Và ở đây chúng ta ngay lập tức điểm qua một số tin vui. Thực sự có một số tin vui, một sự loan báo vui tươi, cũng có liên hệ đến sự thánh thiện của Đức Kitô. Không quá nhiều làvieecj Chúa Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa, hoặc việc là chúng ta cũng có nghĩa là phải thánh thiện và vô nhiễm. Không, sự kinh ngạc vui tươi là Chúa Giêsu thông truyền, ban phát, và mang lại cho chúng ta sự thánh thiện của Ngài cách nhưng không! Đó chính là việc sự thánh thiện của Ngài cũng là của chúng ta. Thậm chí còn hơn nữa: là chính Ngài là sự thánh thiện của chúng ta.

Mỗi bậc cha mẹ con người có thể chuyển sang cho con cái họ điều họ có, nhưng không phải là điều họ là. Nếu họ là nghệ sĩ, khoa học gia, hay thậm chí là thánh nhân, thì không nhất thiết là con cái họ được sinh ra là nghệ sĩ, khoa học gia hay là thánh nhân. Các bậc cha mẹ có thể dạy các kĩ năng này hoặc làm gương cho con, nhưng không trao cho chúng những kĩ năng này như một kiểu di sản thừa hưởng. Tuy nhiên, Chúa Giêsu, trong Phép Rửa của chúng ta, không chỉ trao ban điều Ngài có, mà còn cả điều Ngài là. Ngài là thánh và làm cho chúng ta nên thánh thiện; Ngài là Con Thiên Chúa và làm cho chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa.

Công Đồng Vatican II cũng nói điều này: “Người theo Đức Kitô được Thiên Chúa kêu gọi, không phải vì công việc họ làm, mà theo mục đích và ân sủng của Ngài. HỌ được công chính trong Chúa Giêsu, vì trong phép rửa của niềm tin họ thật sự trở thành con cái của Thiên Chúa và là những người thông phần trong bản tính thánh. Bằng cách này họ thật sự được làm cho nên thánh thiện” (Lumen Gentium, 40). Sự thánh thiện Kitô Giáo, trước khi là một bổn phận, thì là một quà tặng.

Điều mà chúng ta sẽ làm để đón nhận ơn ban này và biến nó như nó là thành một kinh nghiệm được sống, chứ không chỉ là được tin là gì? Câu trả lời nền tảng đầu tiên là niềm tin. Không chỉ là bất cứ niềm tin nào, mà là niềm tin mà qua đó chúng ta biến điều mà Đức Kitô đã giành cho chúng ta thành của riêng chúng ta. Một niềm tin can đảm vốn sẽ mang lại đôi cánh mới cho đời sống Kitô Hữu của chúng ta. Thánh Phaolô viết:

Đức Ki-tô Giê-su, [..] đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em, hợp như lời đã chép rằng: Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa. (1 Cr 1, 30-31).

Điều mà Đức Kitô đã trở nên “cho chúng ta” – sự công chính, sự thánh hoá, và sự cứu chuộc – thuộc về chúng ta; nó thuộc về chúng ta hơn cả khi chúng ta tự thực hiện điều đó cho chính mình! Như vị thầy vĩ đại người Byzantine là Cabasilas đã nói: “Bởi vì chúng ta không còn thuộc về chính mình, mà thuộc về Đức Kitô, Đấng đã đưa chúng ta trở lại với một cái giá đắt, do đó điều gì là của Đức Kitô thuộc về chúng ta, nó thuộc về chúng ta hơn cả điều mà xuất phát từ chúng ta”. Theo đó, tôi không bao giờ mỏi mệt lặp lại điều Thánh Bernard đã viết:

Thực vậy, một cách tín thác tôi giật lấy cho chính tôi [bản gốc, tôi chiếm lấy!] điều tôi thiếu từ cung lòng của Chúa, vì nó chảy tràn bằng lòng thương xót. […] Do đó, công trạng của tôi là lòng thương xót của Thiên Chúa. Chắc chắn công trạng của tôi sẽ không có cho đến khi Thiên Chúa muốn trong lòng thương xót. Nếu lòng thương xót của Thiên Chúa là nhiều, thì tôi cũng rất vĩ đại khi liên quan đến công trạng của tôi. […] Tôi cũng sẽ có thể hát khen về sự công chính của tôi chứ? Ôi lạy Thiên Chúa, con sẽ nói về phép công lý của Ngài mà thôi” (x. Tv 71:16). Thực ra đó còn là của con nữa; vì Ngài đã làm cho chính Ngài sự công chính xuất phát từ Thiên Chúa (x. 1 Cr 1:30).

Chúng ta sẽ không thoái lui để chết trước khi thực thi, hay canh tân, kiểu “táo bạo” này mà Thánh Bernard đề xuất. Thật là sự vô tư thánh!

Thánh Phaolô thường kêu gọi người Kitô Hữu “hãy bỏ đi cái tôi cũ” và “mặc lấy Đức Kitô”. Hình ảnh trút bỏ và mặc vào không chỉ chỉ đến một hoạt động khổ chế, hệ tại ở việc bỏ một số “kiểu trang phục” nhất định hay “thói quen” và thay thế chúng bằng những thứ khác, đó là bỏ đi những thói sấu và đạt lấy các nhân đức. Hoạt động đó trước hết được đi cùng với các phương thế của niềm tin. Trong một thời khắc cầu nguyện, trong Mùa Chay này, người ta có thể ngồi trước Thánh Giá và, với một hành động của niềm tin, trao cho Chúa hết mọi tội lỗi của họ, quá khứ và nỗi thống khổ hiện tại của họ, khi họ trút bỏ và ném vào lửa những y phục dơ bẩn của họ; sau đó họ có thể mặc lại sự công chính mà Đức Kitô đã sắm cho họ. Người ấy, như viên thu thuế đã thực hiện trong đền thờ, sẽ nói: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi! và họ cũng về nhà “được công chính” (x. Lc 18:13-14).

Một số Giáo Phụ đã gộp bí mật lớn lao của đời sống Kitô Giáo này trong một hình ảnh. Hãy hình dung, các vị nói, cuộc chiến trường kỳ ấy mới chỉ xảy ra ở trong hý trường. Một người can đảm đã đối diện với một nhà độc tài tàn bạo đang làm cho thành phố ra nô lệ bằng việc lao nhọc và nỗi khổ và đã vượt thắng nhà độc tài này. Các bạn đang ở một nơi lớn hơn, bạn không chiến đấu, hay lao công hay chịu khổ bất cứ vết thương nào. Tuy nhiên, nếu bạn nhìn đến người can đảm kia, nếu bạn vui cùng anh ta vì chiến. thắng của anh ta, nếu bạn đan hoa vào để làm vòng nguyệt quế cho anh, nếu bạn kêu gọi và khích lệ cộng đồng ủng hộ anh ta, nếu bạn cúi xuống trong niềm vui trước người thắng cuộc, bạn hôn vào trán anh ta và bạn nắm lấy tay phải anh ta; tắt một lời, nếu bạn quá điên cuồng vì anh ta khi coi chiến thắng của anh ta là của riêng bạn, thì tôi nói với bạn chắc chắn đã có phần trong giải thưởng của người thắng cuộc.

Tuy nhiên, còn hơn cả thế: cứ cho là người thắng cuộc của bạn không cần giải thưởng mà anh ta chiến thắng cho mình, nhưng những lời chúc, hơn bất cứ thứ gì khác, khi thấy người ủng hộ anh được vinh dự và xét đến một giải thưởng cho cuộc chiến của mình để trao cho bạn hữu mình, trong trường hợp đó rất có thể người sau không có được triều thiên, ngay cả khi họ không phải lao công vất vả hay chịu những vết thương? Họ chắc chắn sẽ thắng giải! Điều tương tự - các Giáo Phụ nói – sẽ xảy ra giữa Đức Kitô và chúng ta. Ngài là người can đảm Đấng ở trên thập giá đã chiến thắng kẻ tàn bạo vĩ đại của thế gian và đã ban lại cho chúng ta sự sống. Chúng ta được mời gọi để không là những “khán giả” bị mất trí về nỗi đau như thế và về tình yêu như thế. Như Thánh John Chrysostom viết:

Những lưỡi gươm của chúng ta không bị vấy bẩn bởi máu, chúng ta không tham gia vào cuộc chiến, chúng ta không chịu những vết thương, chúng ta thậm chí không thấy trận chiến, và này đây chúng ta giành được một chiến thắng. Cuộc chiến là của riêng Ngài, triều thiên là của chúng ta. Và bởi vì chúng ta cũng chiến thắng, nên chúng ta hãy noi theo điều mà những người lính thực hiện trong những trường hợp như thế: với những tiếng nói của niềm vui chúng ta hãy chúc mừng chiến thắng của Ngài, chúng ta hãy hát các bài ca để ngợi khen Thiên Chúa.

Dĩ nhiên, đây không phải là hồi kết của câu chuyện. Từ sự chiếm hữu chúng ta cần chuyển đến sự noi theo. Bản văn được đề cập ở trên của Công Đồng Vatican II về sự thánh thiện như một ơn ban sẽ tiếp tục bằng việc nói: “Rồi cũng thế, bởi ơn ban của Thiên Chúa, họ phải tiếp tục hoàn tất trong đời sống của họ sự thánh thiện này mà họ đã nhận lãnh được. Họ được Vị Tông Đồ cảnh báo để sống “như trở thành các vị thánh” (Ep 5:3) và mặc lấy “như những người được tuyển chọn của Thiên Chúa, một tâm hồn. thánh thiện và đáng mến của lòng thương xót, sự tử tế, sự khiêm nhường, sự hiền lành, sự nhẫn nại” (Cl 3:12), và thủ đắc hoa trái của Thần Khí trong sự thánh thiện (x. Gl 5:22; Rm 6:22).

Nhưng chúng ta có quá nhiều các cơ hội khác để nghe về bổn phận phải noi theo Đức Kitô và nuôi dưỡng các nhân đức, điều mà ngay bây giờ, thật phù hợp để dừng lại ở đây. Một lý do khác là, nếu bạn không thực hiện bước nhảy vọt đầu tiên đó trong niềm tin vốn mở ra cho chúng ta ân sủng của Thiên Chúa, thì chúng ta không thể đi xa hơn trong con đường của sự noi gương. Như Thánh Gregory Cả nói: “Bạn không khởi đi từ nhân đức tới niềm tin, mà từ niềm tin tới nhân đức”.

Nếu chúng ta thật sự không muốn tham gia mà không ít nhất có một sự quyết tâm nhỏ, thì đây là giải pháp hữu ích. Sự thánh thiện của Chúa Giêsu luôn hệ tại ở điều làm hài lòng Chúa Cha. Ngài nói: “tôi hằng làm những điều đẹp ý Người” (Ga 8:29). Chúng ta hãy nỗ lực và tự hỏi bản thân chúng ta thường nhất chúng ta có thể, trước bất cứ một quyết định nào và câu trả lời cho câu hỏi: “Trong trường hợp hiện tại này, thì điều gì là điều làm hài lòng Chúa Giêsu?” và làm điều đó không trì hoãn. Việc biết ý muốn của Chúa Giêsu là gì sẽ trở nên dễ dàng hơn là biết theo thuật ngữ trừu tượng “ý muốn của Thiên Chúa” là gì (ngay cả khi hai điều này là một). Để biết ý muốn của Chúa Giêsu thì chúng ta sẽ chẳng phải làm gì ngoài việc nhớ điều Ngài nói trong Tin Mừng. Thần Khí ở đó, sẵn sàng nhắc nhớ chúng ta.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Cantalamessa.org)