Skip to main content
Mẹ Thánh Theresa Calcutta năm 1980 tại Kolkata, Ấn Độ (Getty/BBC)

[Sống Mùa Phục Sinh] Điều kiện của sự thuộc về Thiên Chúa

Nếu xét cho thật kĩ và với sự khiêm nhường, chúng ta sẽ thấy là bản thân chúng ta rất dễ bị lầm lạc bởi tính hình thức của một sự việc nào đó, tức hiểu hình thức là cùng đích của một vấn đề. Điều này giống như chuyện người ta lầm tưởng hễ cứ mặc cùng một loại đồng phục thì tức là thuộc về nhau, là nhất quán với nhau như các tổ chức thế tục và tôn giáo vẫn bị rơi vào sự nhầm lẫn này. Hoặc như chuyện người ta lầm tưởng nếu nhận lãnh Bí Tích Rửa Tội thì nghiễm nhiên là người Kitô Hữu đích thực một lần và mãi mãi. Nhưng trên thực tế, chúng ta đã kinh qua và thấy điều lầm tưởng thì mãi mãi là lầm tưởng, còn điều gì là thật thì mãi mãi là thật.

Ngày hôm nay, trong Bài Tin Mừng (Ga 6:35-40), Chúa Giêsu nói về một thực tại rất phổ quát nhưng cũng rất cụ thể của sự thuộc về giữa chúng ta và Ngài: “Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài” (c. 37). Điều này được Chúa Giêsu lặp lại tới ba lần, mỗi lần một sắc thái khác nhau, nhưng chỉ là một điều: sự thuộc về Đức Giêsu Kitô thật sự và từ sự thuộc về này mà chúng ta không phải hư mất. Trong ba lần nói về sự thuộc về này, có hai lần nói ý giống nhau là “những ai Chúa Cha ban cho tôi”, và một lần “tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con”.

Đứng từ góc nhìn “Chúa Cha ban cho tôi”, chúng ta thấy Chúa Giêsu mạc khải một sự thật là Ngài không tự ý để sở hữu bất cứ ai trong chúng ta, và mọi sự đều là do Chúa Cha ban cho Ngài. Nhưng điều độc đáo ở đây là sự thật “những người Chúa Cha ban cho tôi” làm cho chúng ta phải đặt một câu hỏi thuộc về mình: Vậy thì tôi có nằm trong số những người mà Chúa Cha ban cho Chúa Giêsu không? Hay là do tôi chỉ tưởng tượng vì đã nhận các bí tích khai tâm và các bí tích khác trong Giáo Hội thì tức là tôi thuộc về “những người Chúa Cha ban cho Chúa Giêsu”? Từ câu hỏi này, chúng ta sẽ thấy điều kiện của sự thuộc về mà Chúa Giêsu đưa ra rất cụ thể: "Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành" (Lc 8:21) và “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13:35).

Do đó, “không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu!” (Mt 7:21) và cũng không phải cứ “đồng bàn với Thầy” thì sẽ được vào nước trời, tức là không phải cứ đáp ứng được về mặt hình thức thì có nghĩa là đủ điều kiện để được gọi là “những người mà Chúa Cha ban cho Chúa Giêsu”. Đây là một thực tại, dù muốn chấp nhận hay không, chúng ta phải khiêm nhường và can đảm để đối diện. Bằng không, chúng ta sẽ phải uổng phí cả một đời người để nỗ lực thuộc về một thực tại mà mình không thuộc về, Chúa Giêsu Kitô.

Đứng từ góc nhìn “những ai thấy người Con và tin người Con” (Ga 6:40), chúng ta sẽ thấy Chúa Giêsu mặc khải một sự thật mà sự chủ động thuộc về lại là từ phía mỗi người chúng ta. Theo đó, không nhất thiết phải thoả mãn các điều kiện mang tính hình thức hay lề luật, nhưng bất cứ ai “thấy” Chúa Giêsu và “tin” vào Chúa Giêsu thì chắc chắn “sẽ được sống muôn đời” và “sẽ được sống lại vào ngày sau hết”. Nhưng vấn đề là bây giờ Chúa Giêsu không còn sống trong thân xác như xưa nữa, thì làm sao mà thấy để mà tin vào Ngài đây? Về điều này, Chúa Giêsu đã cho chúng ta một câu trả lời rất cụ thể ở Tin Mừng Mát-thêu (Mt 25:31-46), ở đó Ngài nói về cuộc phán xét sau hết. Trong cuộc phán xét này, Chúa Giêsu trở thành “người đói, người khách lạ, người trần truồng, người đau yếu, người tù đày”, và đã kết luận chắc nịch “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy", còn trước đó thì Ngài nói điều ngược lại với những ai thực thi hành động bác ái với những người anh em bé mọn này.

Do đó, “thấy và tin vào người Con” không phải là một hành vi mang tính thần học hay mang tính lễ nghi, mà nó hoàn toàn mang tính thực tiễn. Như vậy, bất cứ ai trên thế gian này, dù thuộc về tôn giáo nào hay niềm tin nào, mà thực hiện những việc lành phúc đức với những người anh em bé mọn của mình bằng tất cả lòng bác ái chân thành, thì đều được kể vào số những người mà Chúa Giêsu sẽ hưởng “sự sống muôn đời” và “được sống lại vào ngày sau hết”. Vì vậy, hành trình thuộc về Thiên Chúa của mỗi người chúng ta trong tư cách là con người nói chung, và trong tư cách là các Kitô Hữu nói riêng, không phải là một hành trình mang tính thủ tục, mang tính hình thức, mang tính thần học, mang tính lễ nghi, hay chỉ dừng lại ở chỗ lý luận suông, mà phải là một tiến trình đi từ niềm xác tín đến việc sống niềm xác tín ấy nơi cuộc sống cá nhân của mình, bằng không thì chúng ta vẫn chỉ mãi là một Kitô Hữu định danh và trở về với chính cái danh vô thực của mình vào ngày sau hết.

Joseph C. Pham