Skip to main content
iStockphoto

Một Bộ Não Có Tên Là 'Tôi-Không-Biết'

Câu nói “Tôi không biết!” ở trong mọi ngôn ngữ trên thế giới có thể nói là chỉ phổ biến sau câu “Anh yêu em”. Khi học một ngôn ngữ nào đó, người mới học sẽ cố tìm học cho được hai câu phổ biến trên, một câu để thể hiện tình cảm với một ai đó không nhất thiết phải là khác phái, còn câu còn lại là để nói lên một tình trạng không biết của mình nhằm biện minh hay giải thích cho một điều gì đó mà người ta đang đặt trên bản thân mình. “Tôi Không Biết!” gần đây trở nên phổ biến hơn bao giờ hết, đặc biệt trong các toà án tội phạm cả về dân sự, hình sự, và chính trị.

Câu này được sử dụng như một dạng rút gọn của một luận lý nguy hiểm: “không biết thì không có tội”, nghĩa là đưa chính bản thân mình vào trong một tình trạng ngu muội trước vấn đề nghiêm trọng để mong đạt được sự thông cảm từ người khác và để giải thoát bản thân khỏi một mối nguy thấy trước.

Truy tìm về nguồn gốc của lối tư duy biện hộ này, ta có thể tìm thấy trong sự sa ngã của ông bà nguyên tổ A-đam và E-và ngay sau khi ăn trái táo của cây biết lành biết dữ, thì ông bà thấy mình mở mắt ra và rồi cảm thấy mình trần truồng – một tình trạng thấy sự thật trần trụi về chính thực tại bi đát và xấu hổ của bản thân. Khi đó, Thiên Chúa đã chất vấn ông bà về nguyên nhân dẫn đến việc họ đã phạm vào điều cấm duy nhất của Ngài, thì cả ông lẫn bà, dù không dùng cách trực tiếp câu “Tôi Không Biết!” nhưng đã gián tiếp bằng cách đổ lỗi cho nhau. (x. St 3:8-13).

Cũng trong Sách Sáng Thế đã tường thuật lại vụ án anh giết em, đó chính là Ca-in đã giết chết chính em ruột của mình là A-ben chỉ vì lòng ghen tị. Sau khi đã giết chết em mình, Thiên Chúa đã hỏi Ca-in: “A-ben em ngươi đâu rồi?", rồi Ca-in trả lời: "Con không biết. Con là người giữ em con hay sao?” (x. St 4:9).

Hai đơn cử từ trong Kinh Thánh cho ta thấy rõ cái bản chất “không có gì nham hiểm và bất trị như lòng người” (Gr 17:9) của chúng ta. Điều này cho thấy, chúng ta không đơn giản dễ dàng gì để nhận lấy một sai lỗi do chính bản thân chúng ta, do vô ý hay cố ý phạm phải, đặc biệt khi sai lỗi ấy để lại một hậu quả nghiêm trọng. Nếu nhìn từ góc độ tâm lý học, thì đó chính là một biểu hiện của bản năng tự vệ và phòng vệ vốn có ở trong mỗi người. Còn nếu nhìn từ góc độ tinh thần thì chúng ta đã bị sự dữ cám dỗ để lợi dụng và biến bản năng phòng vệ tốt lành này trở thành một phương thế để phạm thêm một tội khác nghiêm trọng hơn tội ta đã phạm, tội nói dối và vô trách nhiệm trước việc mình làm. Sách Sáng Thế đã kể lại đối tượng bị đổ lỗi sau cùng trong chuỗi luận lý chối tội của ông bà nguyên tổ là con rắn: "Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn" (St 3:13).

Tự bản chất, chúng ta không hề “nham hiểm và bất trị”, không có tính tráo trở đổi trắng thay đen, không có tính vô trách nhiệm trước sai phạm của bản thân, không có sự gian dối hay chạy tội... Nhưng chính sự dữ đã gieo vào trong chúng ta lối luận lý lầm lạc này dưới sự đồng thuận của ta do bởi phần kiêu ngạo, phần thiếu sự khôn ngoan cần thiết, và thiếu hiểu biết. Điều này, cần phải nhìn nhận trong chiều kích giáo dục phổ quát và cụ thể hơn là gia đình. Trong gia đình, chúng ta gần như không được giáo dục để sống nền đạo đức căn bản mang tính nhân bản, nghĩa là không được dạy để sống sự thật theo tinh thần “có nói có, không nói không” (x. Mt 5:37) mà Chúa Giêsu đã dạy; mà thay vào đó, chúng ta được hấp thụ một nền đạo đức tương đối, vẽ hươu vẽ vượn, và lách léo sự thật mà sự dữ đã tiêm nhiễm vào môi trường sống và giáo dục của chúng ta.

Nếu khiêm tốn và can đảm xét lại bản thân, chúng ta sẽ nhận thấy chính bản thân chúng ta đang nuôi dưỡng và sống nền văn hoá “thêm thắt do ma quỷ” (x. Mt 5:37) này, đặc biệt khi chúng ta vấp vào một sai lỗi nghiêm trọng nào đó. Sở dĩ chúng ta không can đảm để sống sự thật mà thường dùng cụm thành ngữ “Tôi Không Biết!” để thoái thác là vì chúng ta đã bị mất niềm tin vào lòng quảng đại và sự tha thứ của những người khác, nhất là ngay từ trong môi trường gia đình và trường học của chúng ta. Ở nơi ấy, mỗi một sai lỗi đều phải đi cùng với một hình phạt tương xứng hoặc nặng hơn để răn đe và cảnh cáo, chứ không hề có sự giảng giải, dịu dàng, và tha thứ. Mà đã là người thì chẳng ai lại thích mình bị phạt bao giờ, chẳng ai muốn bị kết án là tội nhân, trong khi bản thân chúng ta trong phận người thì lại đầy rẫy yếu đuối, dễ phạm sai lầm, dễ vấp ngã.

Như một khuynh hướng tự nhiên, khi ta thấy một ai phạm lỗi, bỗng ta tự thấy mình là thần thánh có quyền phát xén và kết án, còn khi ta phạm tội, ta thấy mình là một tội đồ đáng khinh nhưng, trên hết và trước hết, ta vẫn thấy mình bị oan, là nạn nhân, như thể thần thánh ngây ngô bị đưa vào động bàn tơ, bị đưa vào tổ yêu nhền nhện vậy, nghĩa là ta vẫn là thần thánh, vẫn đúng. Nguy hiểm hơn, khi ta sai thì ta luôn có khuynh hướng chứng minh rằng ta đúng còn mọi người thì sai lầm mà ta không hề hay biết rằng khi ta càng cố làm như thế thì ta càng lún sâu vào tội luỵ và tội ác do mình tạo ra.

Thế nên, cần phải có một sự khiêm tốn và can đảm, một lối sống biết tôn trọng sự thật ngay từ trong nền giáo dục và nhà trường, một lối sống biết tha thứ cho nhau trên nền tảng sự thật “tất cả đều là tội nhân” và đều có nguy cơ phạm tội ác như nhau. Từ đây ta mới có thể can đảm không lạm dụng cụm từ “Tôi Không Biết!” như một khiên che thuẫn đỡ bảo vệ ta mỗi khi ta phạm một sai lầm. Chúng ta cũng cần rèn luyện để bỏ đi cái não trạng nguy hiểm theo kiểu “Tôi Không Biết” bằng một lối luận lý mới “Tôi Biết Mà Tôi Vẫn Làm”, trừ một vài tình huống mà trong đó chúng ta chỉ là một nạn nhân của một thể chế, một quyền lực nào đó buộc ta dù biết mà vẫn phải làm, hoặc “không biết việc mình làm” vì đã bị lập trình, tẩy não, hay vì adua theo số đông.

Joseph C. Pham