Tiến Sĩ Francis Collins nhận Giải Thưởng Templeton vì làm chứng cho niềm tin và khoa học

Một nhà khoa học đang ở trận tuyến phát triển vaccine cho Covid-19 ngày hôm nay đã được bầu chọn nhận Giải Thưởng Templeton cho năm nay, một giải thưởng nhìn nhận những đóng góp của ông cho sự hiểu biết về tôn giáo qua công việc của ông trong tư cách là một khoa học gia.

Tiến sĩ Francis Collins, giám đốc Viện Y Tế Quốc Gia (NIH) và là thành viên của Viện Giáo Hoàng về Khoa Học, đã cho CNA biết là làm việc để phát triển loại vaccine coronavirus là một trong những thách đố lớn nhất trong sự nghiệp của ông, và rằng những ngày này khi ông đang không làm việc, thì ông tìm thấy sự no thoả trong cầu nguyện và đọc các Thánh Vịnh.

“Giống như tất cả mọi cuộc khủng hoảng, giống như tất cả mọi dịp khổ đau, đây là một cơ hội để chúng ta có thể học tập và trưởng thành. Và tôi vui là tôi thờ phượng một Thiên Chúa là Đấng biết về nỗi khổ đau”, Tiến Sĩ Collins, một Kitô Hữu phái truyền giảng, đã cho CNA biết.

Giải Thưởng Templeton, được thiết lập vào năm 1972 bởi nhà đầu tư và nhà từ thiện toàn cầu Sir John Templeton, là một khoản thưởng tiền mặt hàng năm trị giá 1.1 triệu Bảng Anh (1.3 triệu USD) cho một người đang sống đã thực hiện “một đóng góp ngoại thường cho việc khẳng định chiều kích thiêng liêng của đời sống, bất luận là qua sự hiểu biết, sự khám phá hay các công việc thực tế”.

Thánh Teresa Calcutta đã là một vị nhận giải đầu tiên của giải này vào năm 1973.

Trước khi gia nhập NIH vào năm 2009, Tiến Sĩ Collins đã là một giáo sư về y học nội và gien người tại Đại Học Michigan, dẫn đầu cuộc nghiên cứu khám phá ra các loại gien chịu trách nhiệm cho các loại bệnh như bệnh xơ nang, u xơ thần kinh; bệnh Hungtinton; và hội chứng Hutchinson-Gilford, một loại hình thức già trước tuổi hiếm thấy.

Vào năm 1993, ông được bổ nhiệm làm giám đốc Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Gien Người, giám sát Dự Á Gien Người, một sự cộng tác quốc tế mà vào năm 2003 đã thành công trong việc tạo ra được 3 tỷ “ký tự” DNA trong chuỗi gien người.

Giờ đây, tiến sĩ Collín đang giám sát sự cộng tác của NIH với vài hãng dược và các cơ quan chính phủ để phát triển một loại vaccine Covid-19. Ít nhất có một loại vaccine tiềm năng đã sẵn sàng cho việc thử nghiệm diện rộng vào tháng 7 với các loại khác sẽ sớm có sau đó, tiến sĩ Collins cho AP biết vào tuần trước.

“Tôi cầu xin ơn khôn ngoan, sự hướng dẫn, và tôi cầu xin sự tha thứ cho việc phạm những sai lỗi trên hành trình”, tiến sĩ Collins nói với CNA.

“Tôi đã tham gia vào quá nhiều các dự án khoa học qui mô lớn trong vòng hơn 30 năm qua, từ việc phát hiện ra gien chịu trách nhiệm bệnh u xơ nang, đến dự án gien, đến liệu pháp miễn nhiễm bệnh ung thư; và một cách nào đó gánh nặng trách nhiệm ở đây – chúng tôi không thể chịu nổi việc mất đi một ngày của tiến trình trong việc tìm ra các biện pháp điều trị và một loại vaccine và các cuộc thử nghiệm tốt hơn – chỉ ở đó trong mỗi phút giây”.

“Và tôi ở đây trong văn phòng tại nhà mình, nhưng hiếm khi nào ra ngoài, và rất có thể là làm việc 110 giờ mỗi tuần chỉ để nỗ lực làm mọi sự tôi có thể để tận dụng hết mọi nguồn lực và cầu nguyện với Thiên Chúa để chúng được sử dụng cách khôn ngoan để mang lại niềm hy vọng và sự chữa lành”, ông nói.

Trường hợp lý luận về sự hiện hữu của Thiên Chúa

Là một người bản xử Virginia, tiến sĩ Collins được dạy học tại nhà đến khi lên 10 và học hoá học tại trường cao đẳng và đã tốt nghiệp đại học, có được bằng cử nhân, Tiến Sĩ, và sau đó là Y Khoa, sau đó ông được bổ nhiệm vào Nhóm Nghiên Cứu Gien Người tại Trường Y Đại Học Yale.

Loay hoay giưa chủ thuyết bất khả tri và chủ thuyết vô thần đến tuổi 27, tiến sĩ Collins đã cho biết ông “rất vui với ý tưởng là Thiên Chúa không tồn tại và rằng Thiên Chúa không có hứng thú gì với tôi”.

“Đó là điểm tôi từng là – nếu có ai đó nỗ lực để nêu lên chủ đề về [tôn giáo], thì tôi sẽ nhanh chóng bác bỏ nó và muốn chuyển sang chủ đề khác, có lẽ đã có quá nhiều lập trường về cảm giá giống như là một mục tiêu cho ai đó đang nỗ lực bán cho tôi niềm tin của họ”, tiến sĩ Collins cho biết.

Tiến Sĩ Collins được cải đạo phần lớn nhờ tập sách cổ điển của C.S. Lewis Mere Christianity, vốn đưa ra một trường hợp mang tính lý luận về sự hiện hữu của Thiên Chúa.

Tiến Sĩ Collins cho biết một điều thu hút được sự chú ý của ông trong những chương mở đầu của cuốn sách là sự xem xét của Lewis về nền tảng của luân lý – nói cách khác, tại sao lại có điều như thế là tốt và xấu, và tại sao điều đó lại quan trọng?

“Đây là nơi mà tôi nghĩ những nhà vô thần nghiêm khắc nhất sẽ tìm thấy chính họ trong một tình cảnh khó thật sự”, tiến sĩ Collins lập luận.

“Vì nếu họ nỗ lực để lý luận rằng những ý tưởng của chúng ta về sự dữ và sự lành là thuần tuý bị cuốn hút bởi những áp lực mang tính cách mạng vốn sẽ giúp chúng ta tồn tại, thì kết quả tối hậu của điều đó là việc đó là những ý niệm mang tính văn chương – là tất cả chúng ta rồi sẽ rơi vào việc tưởng tượng ra có điều tốt và điều dữ như thế, và rằng chúng ta cần phải dừng chú ý đến điều đó và làm bất cứ điều gì chúng ta thấy hài lòng. Và thậm chí là cả một người vô thần nhiệt thành nhất cũng gặp vấn đề với kết luận ấy”.

“Hiểu về những công trình của Thiên Chúa trong tự nhiên”

Ngày nay, tiến sĩ Collín đã lên tiếng nói về niềm tin Kitô Giáo của mình. Ông đã viết một cuốn sách vào năm 2006 có tựa đề “Ngôn Ngữ Của Thiên Chúa: Một Nhà Khoa Học Trình Bày Về Bằng Chứng Cho Niềm Tin”, mà trong đó ông mô tả cách mà niềm tin tôn giáo có thể khích lệ và gợi hứng cho việc nghiên cứu khoa học nhiệt thành.

Ông và phu nhân của ông vào năm 2007 đã thành lập Quĩ BioLogos phi lợi nhuận, nhằm mục đích nuôi dưỡng sự thảo luận về sự hoà hợp giữa khoa học và niềm tin thánh kinh qua các bài viết, bài nói, và phương tiện truyền thông khác.

Tiến Sĩ Collins cũng là thành viên của Viện Giáo Hoàng về Khoa Học, đã được Đức Giáo Hoàng Benedict XVI bổ nhiệm vào năm 2009.

Mặc dù Tiến SĨ Collins nói ông chỉ có thể tham gia một cuộc họp của Viện tại Vatican kể từ khi ông được bổ nhiệm, nhưng ông đã mô tả cuộc họp là “một cuộc gặp gỡ tuyệt vời của các nhà khoa học đẳng cấp thế giới thật sự thuộc nhiều lãnh vực”.

“Tôi đã tìm thấy một niềm vui như thế trong khả năng qui tụ lại các cách tiếp cận thiêng liêng và khoa học mà tôi cảm thấy động lực cần chia sẻ này”, ông nói.

“Không biến cuộc họp thành một cuộc diễn thuyết quá khô khan về mặt trí tuệ và triết học, nhưng nói về niềm vui mà tôi đã kinh qua và bởi ân sủng của Thiên Chúa, trong khi có thể đọc lời Thiên Chúa trong Kinh Thánh và hiểu các hoạt động của Thiên Chúa trong tự nhiên”.

Niềm tin và đạo đức sinh học

Giữa cuộc chạy đua toàn cầu để phát triển Vaccine Covid-19, một số các nhà hoạt động phò sự sống và các nhà đạo đức học đã thể hiện sự quan ngại rằng trong một số trường hợp, các nhà khoa học có thể dùng phôi thai người được lấy từ các trẻ bị phá thai trong cuộc nghiên cứu của họ.

Một phương án đề xuất nghiên cứu, được nhà dịch tễ học Kim Hasenkrug dẫn dắt tại Viện Nghiên Cứu Núi Đá NIH tại Montana, có mục đích tìm ra các biện pháp điều trị Covid-19 bằng việc đặt vào các con chuột một tế bào phổi, tiêm vào chuột các chuỗi coronavirus tương tự như Covid-19, và thử các biện pháp điều trị thành công.

Bộ Dịch Vụ Y Tế và Con Người, cơ quan gốc của NIH, năm ngoái đã áp đặt một biên bản ghi nhớ về cuộc nghiên cứu tế bào gốc NIH được lấy từ các cuộc phá thai có chọn lọc, có nghĩa là cuộc nghiên cứu của Hasenkrug đã không thể tiến bước khi đối diện với những đổi thay từ những chỉ dẫn của NIH.

Chỉ dẫn mới, mà NIH đã công bố vào tháng 7/2019, đã loại bỏ nghiên cứu mới của NIH với tế bào gốc từ phá thai và giới hạn việc cấp quĩ cho nghiên cứu “bên ngoài” – hoặc các cuộc thử nghiệm được thực hiện bên ngoài NIH – về tế bào gốc phá thai. Những người ứng đơn lớn vào NIH phải cho biết lý do vì sao các mục tiêu nghiên cứu của họ “không thể hoàn tất khi sử dụng biện pháp thay thế cho tế bào gốc” và các phương pháp nào mà họ dùng để quyết định là không thể có phương pháp thay thế nào được dùng.

Về phần mình, tiến sĩ Collins cho biết ông xem xét vấn đề là liệu có đạo đức để dùng phôi thai người và các phôi thai bị phá cho nghiên cứu hay không là “một vấn đề quan trọng cần phải suy nghĩ hết sức cẩn trọng”.

“Tôi là người đầu tiên đã nói là chúng ta không nên tạo ra hay phá huỷ các phôi thai – phôi thai người – cho việc nghiên cứu, và chúng ta cần phải không được huỷ các thai kỳ để nghiên cứu”, ông Collins nói với CNA.

Tiến Sĩ Collins đã khác hẳn giáo huấn Công Giáo về nghiên cứu có liên quan đến các phôi đông lạnh.

“Nhưng nếu có các phôi đã bị bỏ sau biện pháp thụ tinh nhân tạo – và hàng trăm ngàn loại vốn chưa bao giờ được dùng cho bất cứ điều gì, thì chúng sẽ bị huỷ bỏ - tôi nghĩ thật đạo đức để suy xét các cách thế mà trong đó cuộc nghiên cứu có thể làm cho việc tận dụng thông tin đó để giúp ai đó trở thành khả thi”.

“Và cũng thế, nếu có hàng trăm ngàn loại phôi mà hoặc sẽ bị loại bỏ qua điều vốn là một tiến trình hợp pháp tại nước này, thì chúng ta cần phải nghĩ về liệu có đạo đức hơn để ném chúng đi không, hoặc trong một trường hợp hiếm là dùng chúng cho nghiên cứu có thể cứu mạng sống”.

Văn kiện năm 2008 của Vatican Dignitatis personnae nói rằng “việc lấy các tế bào gốc từ một phôi sống của người…không thể tránh khỏi việc tạo ra cái chết cho phôi và kết quả là sau đó bị bỏ đi cách nghiêm trọng”.

Văn kiện ấy cũng lên án cách mạnh mẽ về nghiên cứu tế bào gốc đã phá thai, nhưng có liên quan đến một vài loại vaccine phổ biến – chẳng hạn vaccine cho bệnh thuỷ đậu, bệnh sởi, quai bị và rubella (MMR) – vốn được lấy từ các tế bào của các bé bị phá thai, thì toà thánh Vatican nói những tế bào này có thể được các bậc cha mẹ dùng vì “những lý do nghiêm trọng” như là mối nguy cho sức khoẻ của con cái họ.

Văn kiện tiếp tục nói rằng “mọi người có nghĩa vụ phải làm cho sự bất đồng của họ được biết đến và yêu cầu là hệ thống y tế của họ cần thực hiện các loại vaccine sẵn có khác”.

Một uỷ ban gồm 4 vị giám mục Công Giáo đã viết một lá thư cho bộ máy ông Trump vào tháng 4 yêu cầu họ “giúp đảm bảo rằng người Mỹ được dùng các loại vaccine tách ra khỏi bất cứ một sự kết nối đến phá thai nào”.

Ông Collins cho biết ông đã phát hiện thật tuyệt vời khi quan sát thấy quá nhiều các lãnh vực đạo đức sinh học hiện đại tuỳ thuộc vào nền tảng Kitô Giáo-Do Thái.

“Sự thật là chúng ta thật sự trân trọng những điều này là đáng kính trọng, không có tà ý – nghĩa là, không cố ý làm tổn thương bất cứ ai – như sự tự chủ, như tài sản, và công lý; tất cả những nguyên tắc đó xuất phát trực tiếp từ thánh kinh”, tiến sĩ Collins nói.

“Và vì thế, một nhà đạo dức thế tục là người gắn liền với những điều này – và họ sẽ - và pài không có cùng cảm thức mà tôi đang nói về nền tảng mà họ dựa vào, điều đối với tôi là do Thiên Chúa ban tặng”.

Chia sẻ niềm tin trong phòng thí nghiệm

Tiến Sĩ Collins nói khi Tổng Thống Obama lần đầu tiên bổ nhiệm ông làm giám đốc NIH, thì có một số tiếng nói trên truyền thông – đặc biệt là các nhà vô thần lên tiếng – những người bác bỏ ý tưởng về một người Kitô Hữu lại dẫn đầu một nỗ lực nghiên cứu y sinh học của nước này.

Mặc dù tiến sĩ Collins nói ông chắc chắn tin bất cứ ai làm việc trong các lãnh vực khoa học đều mong muốn chia sẻ niềm tin của mình với người khác sẽ có thể cảm thấy tự do để làm như thế, ông nhìn nhận rằng thật dễ dàng hơn đối với ông để chia sẻ niềm tin của ông cách công khai sau khi ông đã đạt tới địa vị của một giáo sư toàn phần và có những dự án nghiên cứu cao.

Ông cho biết ngay cả trong một hoàn cảnh như Viện Giáo Hoàng về Khoa Học, được tổ chức tại Vatican, thì ông cũng cảm thấy rằng một số trong số các nhà khoa học bạn của ông cũng ngần ngại nói cách công khai về niềm tin tôn giáo của họ - có lẽ vì họ quá thường cảm thấy họ không thể chia sẻ niềm tin tôn giáo của họ trong các phòng thí nghiệm nơi mà họ thường làm việc.

“Tôi thật sự nghĩ, đặc biệt với các bạn thực tập sinh, hoặc nhóm đã thạo ngành, thì có một chút lo lắng hơn về việc ‘tôi sẽ được nhìn như thế nào’ nếu tôi nói về niềm tin của tôi về Thiên Chúa. Điều vốn là một thảm kịch tồi tệ, vì như tôi đã nỗ lực nói trong cuốn sách Ngôn Ngữ của Thiên Chúa – những người này không nhất thiết bị coi là một sự mẫu thuẫn cách nào đó”, tiến sĩ Collins cho biết.

Tiến sĩ Collins cho biết ông có thể trở lại thời gian để nói về con người cũ của ông lúc vô thần ở tuổi 27, ông sẽ khích lệ rằng người trẻ cần phải bắt đầu suy tư các câu hỏi như: tại sao lại có gì đó thay vì là không có gì? Có một Thiên Chúa không, và làm sao tôi biết là có? Tình yêu là về điều gì? Vẻ đẹp là về điều gì? Và tại sao chúng ta ở đây?

“Đây không phải là những câu hỏi mà cách tiếp cận khoa học sẽ mang lại cho bạn nhiều câu trả lời”, tiến sĩ Collins nói, khi thêm rằng ông sẽ nói về con người cũ của ông: “Hãy nghĩ về điều gì đáng, trước khi bạn chết, hãy dành vài phút suy tư về điều đó, và hãy xem liệu có hướng nào khác mà từ đó các câu trả lời sẽ xuất hiện không, hơn là trong phòng thí nghiệm khoa học”.

Tiến sĩ Collins sẽ nhận Giải Templeton trong một nghi lễ ảo vào cuối năm nay.

Joseph C. Pham (CNA)