Skip to main content
Giáo Hội và Phân Tâm Học, từ một sự kết án đến sự hoà giải một phần

Giáo Hội và Phân Tâm Học - Từ Sự Kết Án Đến Sự Hoà Giải Một Phần

“Tôi tư vấn một nhà phân tâm học người Do Thái. Trong vòng 6 tháng, tôi đến nhà bà một tuần một lần để làm rõ một vài điều. Bà là một bác sĩ và là một nhà phân tâm, và bà luôn luôn biết vị thế của bà. Rồi một ngày, khi bà chuẩn bị qua đời, bà đã gọi cho tôi. Bà không nhận các bí tích, vì bà là một người Do Thái, nhưng gặp gỡ vì một cuộc đối thoại thiêng liêng. Bà là một người rất tử tế. Trong vòng 6 tháng, bà đã giúp tôi rất nhiều khi tôi 42 tuổi”.

“Đây là những lời mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói trong một trong những cuộc trò chuyện với nhà xã hội học người Pháp Dominique Wolton, được thu thập lại trong cuốn sách “Politique et sociétéˮ được Tạp Chí L’Observatoire vốn sẽ sớm được xuất bản tại Pháp. Hoàn cảnh này trong đời sống của Đức Giáo Hoàng Phanxicô diễn ra giữa năm 1978 và 1979 trong thời gian độc tài, khi mà Ngài vừa kết thúc kinh nghiệm gian khó của Ngài trong vai trò là giám tỉnh Dòng Tên Argentina và chuẩn bị để trở thành trưởng khoả của Trường Cao Đẳng Maximo, nơi đào luyện các sinh viên muốn đi vào Dòng Tên.

Câu chuyện của Bergoglio là quan trọng không chỉ vì một sự giải quyết mang tính cá nhân có liên quan đến 6 tháng trò chuyện với một nhà phân tâm học nhưng còn là vì nó cho thấy mối quan hệ tình bạn mà vị linh mục và vị bác sĩ ấy đã được tạo nên. Thực ra, người phụ nữ, trong giờ lâm tử, muốn được chính Đức Giáo Hoàng trợ giúp và ủi an. Ferdinando Camon đã nhận định trên tờ La Stampa: “Không giống như một vài nhà phân tâm học chống lại Công Giáo tin, chẳng có một lý do gì chắc chắn là việc trị liệu và đức tin là hai kẻ thù. Viktor Frankl chứng minh điều ấy. Và giờ đây là việc phân tích của Bergolio cho thấy như thế. Bởi vì nó đã kết thúc một cách rất tuyệt vời. Việc ấy kéo dài trong một thời gian ngắn, 6 tháng, và không quá thường xuyên, một phiên mỗi tuần, nhưng cuối cùng, một điều gì đó không bình thường đã xảy ra: vào lúc lâm chung, chính nhà phân tâm học đã gọi bệnh nhân cũ của bà “vì một cuộc đối thoại thiêng liêng”. Theo lý thuyết phân tâm học, hai sức mạnh hoạt động là mang tính chuyển đổi, một điều buộc người bệnh vào nhà phân tâm của mình, và sự truyền ngược lại, điều trói buộc nhà phân tâm với bệnh nhân. Nếu sức mạnh thứ hai mạnh hơn sức mạnh thứ nhất, thì nhà phân tâm sẽ bị bệnh nhân của mình phân tích. Vì thế, liệu chăng đây là điều xảy ra với Bergoglio chăng?

Đâu là mối quan hệ đã từng và đang là giữa Giáo Hội và phân tâm học? Ngay khởi đầu, đó là một cuộc chiến. Sigmund Freud coi tôn giáo là rào cản lớn nhất cho niềm hạnh phúc của con người và thật là chẳng có gì khó hiểu khi ông ghét Giáo Hội Công Giáo. Giáo Hội đáp trả lại vằng cùng những tâm tình, bác bỏ lý thuyết “toàn tính luyến ái” và mạnh mẽ chống lại tham vọng “toàn trị: của việc thực hành phân tâm học của Freud. Các tác phẩm của Freud đã bị cấm và ngay giữa những năm 1950 tại Rôma, giáo phận của Đức Giáo Hoàng, gọi là “tội trọng” khi một người Công Giáo tìm gặp một nhà phân tâm.

Để mở ra – một chút – cánh cửa, là Đức Pius XII, một vị Giáo Hoàng yêu thích được biết bất cứ một sự tiến bộ nào trong khoa học, mà vào Tháng 9/1952, nói với các tham dự viên tại hội nghị quốc tế đầu tiên về bệnh mô học về hệ thần kinh, nói rằng “thật không đúng khi tranh cãi rằng phương pháp không lệ thuộc vào phái tính của một số trường phái tâm lý học trị liệu là một phần hỗ tương không thể thiếu của tất cả mọi ngành tâm lý học trị liệu vốn nghiêm túc và xứng hợp với tên gọi”. Một cách nói khác: Không phải tất cả mọi nền phân tâm học đều giống nhau và không nhất thiết ngành ấy phải đón nhận tình trạng toàn tính luyến ái. Rồi, vào Tháng 7/1961, dưới triều Đức Gioan XXIII, Toà Thánh ban hành một “sắc lệnh” ngăn cấm các linh mục thực hành phân tâm học và các chủng sinh đi trị liệu.

Bước ngoặt ý nghĩa đầu tiên xảy ra trong suốt triều giáo hoàng của Đức Montini, Ngài đã chấm dứt hết các lệnh cấm trước và, với tông thư của Ngài “Sacerdotalis coelibatus’ năm 1967, nhìn nhận khả năng để theo đuổi “một sự trợ giúp và hỗ trợ của một nhà tâm lý hay một bác sĩ”. Bảy năm sau, trong một Buổi Triều Yết Chung vào Tháng 11/1973, Đức Phaolô VI nói: “Chúng ta tôn trọng dòng chảy thời danh của các ngành nghiên cứu nhân chủng, mặc dù đôi khi chúng luôn không nhất quán cũng như không luôn được đánh giá đúng bởi các kinh nghiệm thoả đáng và sinh ích”. Một sự cho phép uy tín, cuối cùng, việc chấm dứt sự lên án, mặc dù với những khoảng cách và sự hoài nghi cần thiết.

Với sự xuất hiện của Đức Gioan Phaolô II, trên ngai toà Phêrô không chỉ là ngai toà của một Vị Giáo Hoàng đầu tiên đến từ Đông Âu, nhưng còn là vị Giáo Hoàng đầu tiên đã suy tư và viết về tính dục con người. Ngày nay, nhiều thứ đã thay đổi. Có những nhà phân tâm thực hiện các bài giảng tại các Học Viện Giáo Hoàng và hợp tác trong những vụ điều tra tế nhị về các linh mục ấu dâm. Nhà Xã Hội Học người Ý Massimo Introvigne, trong một bài viết trên tờ báo Mattino di Napoli, đã nhận định: “Ngày nay, mối quan tâm của Giáo Hội không quá nhiều về việc khẳng định về tầm quan trọng của các đặc tính tính dục của con người nam và nữ, mà là về sự thật là chúng bị chối bỏ tận căn, như lý thuyết về phái chối bỏ. Dường như điều đó là một sự trái ngược, nhưng Giáo Hội và những hình thức phân tâm nhất định có thể thấy chính chúng đang hoà lại với nhau chống lại những thái quá của lý thuyết phái”.

Trong một sự chú ý sáng sủa hơn, bộ phim “Habemus Papam” cần được đề cập: được thực hiện bởi đạo diện Nanni Moretti vào năm 2011, đó là một câu chuyện về một Giáo Hoàng hối tiếc vì đã chấp nhận việc bầu chọn và chạy đến với một nhà phân tâm – mặc dù với một chút niềm tin.

Andrea Tornielli 

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Vatican Insider)