Skip to main content
Cầu nguyện trong lúc sợ hãi thì khá giống với việc học lái một chiếc xe đạp hay lần đầu tiên lặn xuống nước (iStock)

Mùa Vọng là thời gian để đối diện với những nỗi sợ của bạn

Chúa Nhật Thứ I Mùa Vọng C - 02/12/2018

Các Bài Đọc: Gr 33, 14-16; 1 Tx 3, 12 - 4, 2; Lc 21, 25-28, 34-36

Trong cuốn “In These Truths: A History of the United States” (2018) Jill Lepore làm sống lại một dân bị lãng quên và nhìn lại các câu chuyện trong sử thi Mỹ. Ngay cả trong những thời đầu thuộc địa của mình, bà đã hỏi là kinh nghiệm của người Mỹ là thế nào đối với người Mỹ gốc Phi, người Mỹ Thổ Dân và các phụ nữ.

Thường thì Lepore chỉ thêm vào các chi tiết kể chuyện cho điều mà chúng ta đã biết. Chẳng hạn, việc George Washington, giống như nhiều người đương thời của ông, đã có hàm răng rất tệ, phải mang răng giả. Những hàm răng giả này chính thức được làm từ gỗ, nhưng, vì giàu có, hàm răng của Washington đã được làm bằng ngà voi. Chín người trong số răng đó là răng thật, chỉ là không phải của ông. Chúng đã được nhổ từ miệng các nô lệ của ông. Đó là một mảnh đánh đố nhưng là một mảnh cho thấy một sự thật lớn lao về là người da đen có nghĩa là gì ngay từ khởi đầu của nền cộng hoà.

Mọi người biết rằng Samuel Morris đã tạo ra một bộ mã mang tên ông. Lepore nhắc nhớ chúng ta rằng từ đầu ông tạo ra bộ mã của ông như một công cụ để tự vệ. Khi chính bản thân Morris giải thích trong cuốn sách nhỏ của ông “Những Hiểm Nguy Lớn Lao cho Các Tổ Chức Tự Do của Hoa Kỳ qua Việc Di Dân Nước Ngoài”, ông sợ rằng người Công Giáo âm mưu chiếm lấy Hoa Kỳ.

Điều gì làm cho nhà phát minh trẻ hoảng sợ?

Vào năm 1931 hai mươi ngàn người Châu Âu di dân đến Hoa Kỳ; vào năm 1854, con số đó đã tăng lên hơn bốn trăm ngàn người. Trong khi hai triệu rưỡi người Châu Âu đã di dân đến toàn bộ Châu Mỹ vào thời điểm năm 19500 và 1800, thì cùng con số - hai triệu rưỡi – đã đến cách cụ thể là Hoa Kỳ từ những năm 1845 đến 1854. Xét về tỷ lệ phần trăm dân số Hoa Kỳ, người di dân Châu Âu tăng từ 1.5% vào năm 1820 lên 11.2% vào năm 1860…

Con số lớn nhất về những người di dân này là người Ireland và Đức…Đến năm 1850, hơn một người trong số tám người được sinh ra tại Châu Âu, gồm 1.6 triệu người Ireland và 1.2 triệu người Đức, đa số họ đều là người Công Giáo. Khi cơn bão người di dân nổi lên, thì lực lượng của chủ nghĩa bản địa lấy lại được sức mạnh, như sự thù nghịch đối với người Công Giáo, được châm ngòi bởi mối ác cảm của anh em Tin Lành truyền giảng. Một lần nữa, sự trở lại bình thường đối với thái độ bài di dân của Hoa Kỳ được biết đến cách cụ thể. Điều này là hợp pháp, tình trạng di dân được khích lệ từ Châu Âu. Leopore chỉ đơn giản cho thấy rằng ngay cả những người hoàn hảo nhất trong chúng ta cũng có thể bị nỗi sợ bắt giữ - trong trường hợp này, sự sợ hãi là kiểu người không phù hợp sẽ trở thành người Mỹ.

Mùa Vọng bắt đầu bằng việc suy tư về tương lai. Đây là một sự thật không thể trốn chạy: Vào lúc này hay lúc khác, tương lai làm cho tất cả chúng ta hoảng sợ. Điều này là thật bất luận chúng ta đang nói về địa lý chính trị hay những tiềm năng cá nhân.

Niềm tin thì vừa là một niềm tin vào quá khứ và một sự đối diện đầy hy vọng với tương lai. Cả Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước khẳng định rằng tương lai của chúng ta, tập thể và cá nhân, thuộc về Thiên Chúa. Kinh Thánh nói cho chúng ta đừng nhường bước cho sự sợ hãi. Ngôn Sứ Jeremiah đã rao giảng:

Trong những ngày ấy, Giu-đa sẽ được cứu thoát,

Giê-ru-sa-lem sẽ an cư lạc nghiệp.

Ðây là tên người ta sẽ đặt cho thành:

"Ðức Chúa là-sự-công-chính-của-chúng-ta!" (33:16)

Và Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Ngài:

Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. (21:26)

Chúa đi xa hơn nữa. Ngài nói với chúng ta, khi đối diện với những sợ hãi của chúng ta, hãy cầu nguyện:

Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đử sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người" (21:36).

Cầu nguyện trong lúc sợ hãi thì khá giống với việc học lái một chiếc xe đạp hay lần đầu tiên lặn xuống nước. Việc ấy đi ngược lại với chính nỗi sợ, và chúng ta cũng có thể quá sợ để thực hiện việc ấy. Chúng ta có thể quên cầu nguyện vì chúng ta quá sợ hãi.

Thật không may, khi điều đó xảy ra, chúng ta bắt đầu bị xáo trộn, thậm chí tự huyễn hoặc về những nỗi sợ của chúng ta. Chúng ta tập trung vào những sự sợ hãi nhỏ bé dường như dễ dàng xử lý hơn. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta có thể xác định được vấn đề và đưa ra một giải pháp. Chúng ta không thừa nhận với chính bản thân chúng ta rằng nỗi sợ của chúng ta rộng hơn nhiều so với điều mà chúng ta đã chọn làm tâm điểm của chúng ta.

Một lần nữa, Lepore đưa ra một trường hợp hay từ lịch sử Hoa Kỳ:

Làn sóng di dân lớn nhất…diễn ra từ năm 1845 đến 1849, khi Ireland đã trải qua nạn đói khoai tây. Một triệu người chết, và một triệu rưỡi người đã bỏ đi, đa số đến Hoa Kỳ, nơi mà họ neo vào các thành phố Bờ Biển Phía Đông, và định cư ở đó, không có tiền để chi trả cho đường đi của họ đến đất liền…Luật sư người New York là George Templeton Strong, viết trong nhật ký của ông, than phiền về tình trạng ngoại kiều của họ. “Những anh em Celtic của chúng ta đa số là quá xa so với chúng ta về sự tiết độ và hiến pháp như người Trung Quốc”…Đến năm 1850, cứ bốn người trong chúng ta ở Boston thì có một người là dân Ireland. Các biển hiệu ở các cửa tiệm bắt đầu viết, “Không Tiếp Người Ireland”.

“Những người Đức” là những người đến Hoa Kỳ với một con số đông hơn người Ireland, đã phải chịu cảnh thành kiến ít hơn đáng kể”, Lepore viết. “Họ thường đến nơi ít xa cách hơn, có thể có tiền để đi vào đất liền và trở thành nông dân”. Dĩ nhiên, những người di dân Đức tự bản thân họ trở thành những người bảo vệ quốc gia khi Hoa Kỳ đi vào Đại Chiến Thế Giới Lần I.

Khi Mùa Vọng bắt đầu, Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy nhìn vào tương lai. Trong khi làm thế, chúng ta hãy nhìn nhận những nỗi sợ của chúng ta, nỗ lực hiểu chúng, thậm chí nói về chúng. Có những người ở giữa chúng ta nói về nỗi sợ địa lý chính trị. Đáng buồn thay, chính bản thân chúng ta thường đặt nỗi sợ cá nhân của chúng ta lên cao. Bằng không, bị bỏ mặc thối rữa trong bóng tối, nỗi sợ sẽ vẽ ra ranh giới, tạo nên những kẻ thù và cô lập chúng ta khỏi người khác.

Thật khó để cầu nguyện khi đối diện với nỗi sợ. Rất khó. Chúa chúng ta biết điều đó, nhưng chính Ngài đã thực hiện trong đêm trước khi Ngài chết. Ngài đã không trải qua nhiều giờ để xác định các kẻ thù và triển khai các chiến lược. Không, như chúng ta đã đọc sau này trong cùng Tin Mừng Luca, “Rồi Người đi cách các ông một quãng, chừng bằng ném một hòn đá, và quỳ gối cầu nguyện rằng: ‘Cha ơi, nếu Cha muốn, xin tha cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà xin theo ý Cha’” (Lc 22:42).

Terrance Klein – Linh mục thuộc Giáo Phận Dodge City, Hoa Kỳ, và là tác giả cuốn Vanity Faith.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ America Magazine)