Skip to main content
Nam diễn viên Mahershala Ali, đoạt giải Oscar 2017 dành cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất trong phim "Moonlight" (David Bornfriend—A24)

Phim "Moonlight", Đây Là Bộ Phim Hay Nhất Của Năm?

Mô tả phim “Moonlight”, một bộ phim đặc thù thứ hai của Berry Jenkins, là một bộ phim về một người da đen đồng tính lớn lên trong sự nghèo nàn thì có lẽ là đủ chính xác. Nhưng cũng sẽ chẳng có gì là sai trái nếu gọi đó là một bộ phim về lạm dụng thuốc phiện, sự tống giam hàng loạt và bạo lực học đường. Nhưng những kiểu phân loại thế này thì cũng vẫn chưa đủ, phần lớn sẽ là một sự gây hiểu lầm hoàn toàn. Sẽ đúng hơn với tâm trạng và tinh thần của bộ phim quặn lòng này khi nói rằng đó là một bộ phim về việc dạy một đứa trẻ học bơi, về việc nấu một bữa ăn cho một người bạn cũ, về việc cảm thấy cát dính trên làn da và tiếng sóng biển trên một bờ biển tối đen, và về những nụ hôn đầu đời và những hối tiếc còn đó. Dựa trên vở kịch “In Moonlight Black Boys Look Blue” (Dưới Ánh Trăng Các Bé Trai Da Đen Nhìn Thật Buồn) của Tarell Alvin McCraney, phim “Moonlight” vừa là một bộ phim không có vũ khí, đồng thời là một bộ phim mang tính cá nhân hầu như khó chịu nhất và là một tài liệu xã hội khẩn, một cái nhìn nghiêm vào thực tại Mỹ và một bài thơ được viết dưới ánh sáng, âm nhạc và những diện mạo con người thật rõ nét.

Bài thơ gồm ba chương trong cuộc đời của Chiron, được thủ vai bởi một cậu bé có đôi mắt to bởi Alex Hibbert, trong vai một cậu bé thanh thiếu niên đầy suy tư bởi Ashton Sanders và trong vai một người đàn ông hầu như trưởng thành bởi Trevante Rhodes. Bản chất và ý nghĩa của việc làm người là một trong những mối quan tâm chính của ông Jenkins. Bạn cho là bạn cứng cỏi đến thế nào? Tàn bạo thế nào? Dịu dàng thế nào? Can đảm thế nào? Và bạn cho là bạn chịu học thế nào?

Sự khởi đầu của Chiron trước những câu hỏi như thế này dường như là đi qua sự sợ hãi và bối rối. Trước hết chúng ta gặp cậu bé đang chạy, chạy khỏi một nhóm các bạn đồng trang lứa khác là những đứa đang muốn đánh đập cậu bé. Chiron nhỏ hơn so với đại đa số các bạn này – cái tên cúng cơm đầy lăng mạ của cậu bé là “Nhỏ” – và dễ bị tổn thương khác nhau theo những cách thế khác nữa.

Sự nỗ lực của cậu bé để hiểu sự khác biệt này – để hiểu được sự kết nối giữa nỗi sợ đồng tính ở học đường của các bạn đồng trang lứa của cậu bé và những khát khao đầy bối rối của riêng cậu – là một trong những dấu vết mà lộ trình thời gian từng cảnh đời của cậu bé được thực hiện. Một điều khác, cũng đớn đau và phức tạp không kém, là mối quan hệ của Chiron với mẹ cậu, Paula (Naomie Harris), một người trượt từ chuyện hút thuốc lá thuần túy vào trong cơn nghiện tuyệt vọng.

Việc bán thuốc phiện quanh dự án tái định cư Miami nơi mà bà và con trai bà sống nằm dưới quyền kiểm soát của Juan (Mahershala Ali), một người trở thành một kiểu người cha mang tính đại diện của Chiron. Ngôi nhà gọn gàng và đầy không khí nơi mà Juan sống với bạn gái của anh, Teresa (Janelle Monáe), trở thành một ốc đảo cho một sự bình ổn khu vực, một nơi với những bữa ăn nóng hổi, những chiếc ra trải giường sạch sẽ và cuộc trao đổi thoải mái. Sự thoải mái này được mua bằng đồng xu của nỗi thống khổ của mẹ cậu bé thì lại không bị mất đi ở nơi Chiron. “Mẹ cháu nghiện thuốc phiện ư?” cậu bé hỏi Juan trong bàn ăn tối. “Chú bán thuốc phiện à?” Theo dõi cậu bé hoàn tất việc lập luận trong đầu, và theo dõi phản ứng của Juan, thật quặn lòng.

Nhưng còn nhiều hơn thế nữa đối với “Moonlight” – và đối với Juan – so với sự trói buộc chấp đôi tàn nhẫn này có thể mang lại. Một người bán thuốc phiện là một gương mẫu mặc định đối với một đứa trẻ không cha là một chủ đề chủ lực của nền thần thoại hip-hop, nền xã hội học pop và các bộ phim tội phạm trên truyền hình. Nhưng Juan, giống như một hình tượng trong bức họa của Kehinde Wiley (và vì vấn đề ấy cũng giống như Chiron trong một giai đoạn sau của câu chuyện) gợi lên một bản sao của phái mạnh Mỹ - Phi để phá vỡ những điều kia.

Để nói rằng ông Jenkins, ông McCaraney (và ông Ali đầy tài năng) nhân bản hóa con người Juan thì chính xác là đảo lại. Không một ai trong hoàn cảnh của Juan – hay trong hoàn cảnh Chiron hay của Paula – lại từng có bất cứ thứ gì hơn mức con người. Bạn có thể nghĩ rằng điều đó có thể diễn ra mà không cần phải nói bây giờ, nhưng sức mạnh mang tính đột phá và tỏ hiện của bộ phim này cho thấy ngược lại. Giống như cuốn tiểu thuyết “Go Tell It on the Mountain” của James Baldwin – hay, đơn cử một trường hợp gần đây hơn, giống như cuốn sách “Between The World and Me” của Nehisi Coates – thì phim “Moonlight” tập trung vào phẩm giá, vẻ đẹp và sự tổn thương ghê gớm của những người da đen, về vấn đề hiện sinh và thể lý của đời sống người da đen.

Chỉ ngay sau khi tôi đã xem phim “Moonlight” lần thứ ba – và chỉ sau khi một người quen biết Châu Âu đã chỉ ra cho tôi điều đó – thì tôi mới để ý sự thiếu vắng gần như hoàn toàn người da trắng trong bộ phim. Tôi không đưa ra điểm này để cho rằng bộ phim hay sự ngưỡng mộ dành cho bộ phim một cách nào đó “đang vượt ra” khỏi chủng tộc. Tôi cũng không muốn chỉ trích bộ phim, quá phong phú về hình ảnh của Nam Florida mà bộ phim này làm gia tăng độ ẩm trong rạp chiếu phim, với một lời khen ngợi thẳng thắn về tính phổ quát của nó. Để khẳng định rằng những câu chuyện về người nghèo, người bị áp bức hay những nhóm người bên lề thật sự là về mọi người có thể là một cách để chối bỏ tính cụ thể của họ. Tính phổ quát thì quá li ti và quá bao la để bất cứ ai có thể hiểu, và ông Jenkins là một nhà làm phim quá kỷ luật để biến các nhân vật của ông trở thành những biểu tượng.

Ông không khái quát hóa. Ông thấu cảm hóa. Mọi giây phút đều được thổi vào điều mà nhà thơ Hart Crane gọi là “tình trạng huyết thống vô biên”, một mối dây liên hệ mầu nhiệm gắn kết chúng ta với nhau và điều đó chỉ có một trí tưởng tượng mang tính thức tỉnh và nhạy bén mới có thể làm cho nó thành hữu hình. Từ cảnh đầu cho đến cảnh cuối, “Moonlight” là một bộ phim tuyệt vời mà bạn rất có thể chưa bao giờ từng xem. Màu sắc thật phong phú và sáng sủa. (Đạo diễn hình ảnh là James Laxton). Âm nhạc – hip hop, R&B, và những đoạn cổ điển và những điểm nhấn của Nicholas Britell – vừa mang tính kinh ngạc và hoàn hảo.

Nhưng tất cả vẻ đẹp này – tính biểu cảm của những chuyển động máy quay, sự chậm rãi của nhiều cảnh, sự huyên náo đáng yêu trải dài trong cảnh cuối – thì trổi vượt hơn thuần túy là một vấn đề phong cách hay tính nghệ thuật. Đó là phần thiết yếu cho luận điểm của bộ phim.

Về mặt cấu trúc và cung điệu, phim “Moonlight” tự đặt nó đi ngược lại với chủ thuyết trang nghiêm và hà khắc vốn đã trở thành một thiết chế mặc định cho các bộ phim về nỗi thống khổ xã hội. Chắc chăn Chiron và Paula đều đau khổ (và tiêm nhiễm nỗi khổ cho nhau), nhưng họ được giải phóng khỏi vòng xoáy chuẩn mực của sự ngược đãi và cứu rỗi. Kịch bản của ông McCraney là một mảnh ghép nghệ thuật nhiều lớp và vụn vỡ của nhiều tiếng nói, trong khi đó ông Jenkins đã điều chỉnh lại hình thức cho phù hợp với những yêu cầu trực khởi của lối làm phim đặc tả, nhưng ông vẫn giữ trọng tâm thiết yếu của phiên bản gốc về đời sống nội tâm của Chrion.

Tôi không chắc là tôi đã từng xem việc áp dụng kịch bản phim của một vở kịch sân khấu mà cùng một lúc quá thật với tinh thần của bản gốc của nó và quá hoàn hảo về mặt điện ảnh. Qua bộ phim, giống như bộ phim “Boyhood” của Richard Linklater được dàn dựng nhiều bởi dòng kinh nghiệm hơn là cơ chế kịch bản, có nhiều điểm xoáy và đảo ngược. Tình bạn của Chiron với một người bạn học tên là Kevin (một nhân vật lớn lên từ Jaden Piner rồi Jharrel Jerome và cuối cùng là André Holland, tất cả đều xuất sắc) diễn tiến qua một vũ khúc của tình bạn thân thiết và sự phản bội vốn được chứng thực hơn là kể lại. Một cái chết ý nghĩa diễn ra trong phần chuyển tiếp giữa hai chương và chỉ được đề cập thoáng qua. Các bản án tù cũng được xử lý cùng một cách. Tội ác, bạo lực và sự giam giữ là những dữ kiện của đời sống, nhưng không một cuộc đời nào lại có đủ các dữ kiện như thế.

Và có lẽ điều tuyệt vời nhất về phim “Moonlight” là cái kết mở của nó, sự chống lại của bộ phim trước sự tóm lược hay phân loại dễ dãi. Cũng như với bất cứ tác phẩm gốc và đầy thách đố, câu trả lời có thể cần nhiều thời gian để có thể xuất hiện, nhưng điều đánh động tôi nhất bây giờ ít hơn nỗi đau của các hoàn cảnh của Chiron so với cảm giác là, bất chấp tất cả giờ đây cậu bé tự do. Một đứa trẻ bị dọa nạt, bị phớt lờ và chỉ biết thinh lặng, cậu bé lớn lên trước sự hiểu biết về chính mình và thế giới, và dù là thật đớn đau khi chứng kiến sự tiến bộ của cậu bé, nhưng việc đó cũng thật đáng rùng mình. Để có được một cánh cửa sổ đi vào ý thức của người khác là một quà tặng mà chỉ có nghệ thuật mới có thể mang lại. Được biết Chiron là một đặc quyền.

A. O. Scott

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ The New York Times)