Cha Cantalamessa - Bài Giảng Thứ I Mùa Vọng 2014

Bài suy tư Thứ Nhất Mùa Vọng của Cha Raniero Cantalamessa - Vị giảng thuyết cho giáo triều giảng cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô và Giáo Triều vào ngày Thứ Sáu, 05/12/2014. 

Hoà Bình Một Món Quà Của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô

Chúng ta đang bình an với Thiên Chúa!

Nếu một người có thể nghe được tiếng kêu khóc lớn nhất đang ở trong tâm hồn hàng tỷ người, thì người ta có thể nghe được, bằng mọi ngôn ngữ của thế giới, chỉ một từ duy nhất: hoà bình! Thực tế đau buồn của chủ đề này, gắn liền với sự cần thiết phải trả lại cho từ hoà bình sự phong phú và sự sâu sắc về mặt ý nghĩa mà nó có trong Kinh Thánh, đã thôi thúc tôi đến việc dành trọn vẹn những suy niệm Mùa Vọng năm nay cho chủ đề này. Nó sẽ giúp chúng ta nghe bằng đôi tai mới lời công bố Giáng Sinh "Bình an dưới thế cho người Chúa thương”, và cũng là để bắt đầu sống trong lòng Giáo Hội thông điệp mà Giáo Hội diễn tả mỗi năm cho thế giới nhân Ngày Hoà Bình Thế Giới.

Chúng ta bắt đầu bằng việc nghe lại lời loan báo nền tảng về hoà bình. Đó là những lời của Thánh Phaolô trong Thư Gửi Tín Hữu Rôma:

“Vậy, một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Vì chúng ta tin, nên Đức Giê-su đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay; chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa” (Rm 5:1-2). 

Tôi vẫn nhớ điều đã xảy ra vào ngày mà Thế Chiến Thứ II kết thúc đối với nước Ý. Tiếng kêu than “Đình Chiến! Hoà Bình!” lan toả khắp thành phố cho đến thôn quê, từ nhà này đến nhà kia. Đó là sự kết thúc của một cơn ác mộng – không còn sự kinh hãi, không còn những cuộc đánh bom nữa, không còn nạn đói nữa. Điều đó dường như là một người cuối cùng cũng trở lại để sống lại lần nữa. Công bố ấy của Thánh Tông Đồ cần phải gợi lên một điều gì đó về điều này trong tâm hồn của người đọc: “Chúng ta đã có sự bình an với Thiên Chúa! Hoà bình đã được thiết lập! Một thời đại mới đã mở ra cho nhân loại trong mối tương quan với Thiên Chúa!” Thời đại của họ được mô tả là “một thời đại của lo âu”. Con người thời đó đã có một ấn tượng (bất cứ điều gì nhưng lại không tìm thấy) về một sự kết án đè nặng trên đầu họ. Thánh Phaolô gọi đó là “cơn thịnh nộ của Người chống lại mọi thứ vô luân và bất chính” (Rm 1:18), do bởi sự xuất hiện của nhiều nghi thức và các kiểu thờ tự huyền bí, là những thứ đầy rẫy trong xã hội thời ấy.

Khi chúng ta nói về hoà bình, chúng hầu như luôn luôn đi đến việc nghĩ đến một nền hoà bình theo chiều ngang: giữa các dân tộc, giữa các chủng tộc, giữa các tầng lớp xã hội, giữa các tôn giáo. Lời Chúa dạy chúng ta rằng trước hết và thiết yếu nhất là sự hoà bình theo chiều dọc, giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và nhân loại. Tất cả các hình thức của hoà bình đều dựa trên nền tảng hoà bình này. Chúng ta thấy điều này trong chính trình thuật sáng tạo. Khi Ađam và Evà bình an với Thiên Chúa, thì cũng có sự bình an giữa họ với nhau, giữa xác thịt và tinh thần (họ đã trần truồng nhưng không cảm thấy xấu hổ); có sự bình an giữa người đàn ông và người phụ nữ (“thịt bởi thịt tôi”), giữa con người và toàn thể thọ tạo. Chẳng bao lâu sau khi họ phản nghịch cùng Thiên Chúa, thì mọi thứ trở thành một cuộc chiến đấu: xác thịt chống lại tinh thần (họ nhận ra mình trần truồng), người đàn ông chống lại người phụ nữ (“người đàn bà cám dỗ tôi”), thiên nhiên chống lại con người (sấm sét và nghịch cảnh), anh em chống lại nhau, Ca-in và A-ben.

Đây là lý do mà tôi quyết định dành bài suy niệm đầu tiên này cho hoà bình như là một quà tặng của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô. Trong bài suy niệm thứ hai, chúng ta sẽ nói về hoà bình như là một công việc cần phải thực hiện và, trong bài thứ ba, nói về hoà bình như là hoa trái của Thần Khí, còn gọi là, sự bình an nội tâm của linh hồn.

Bình An của Thiên Chúa Đã Hứa và Đã Trao Ban

Lời công bố của Thánh Phaolô mà chúng ta vừa nghe, phỏng định rằng một điều gì đó đã xảy ra đã thay đổi vận mệnh của nhân loại. Nếu giờ đây chúng ta đang bình an với Thiên Chúa, điều đó có nghĩa là trước đó chúng ta đã không bình an; nếu giờ đây “không còn bị lên án nữa” (Rm 8:1), thì có nghĩa là trước đó có sự lên án. Chúng ta hãy xem điều gì đã dẫn đến một sự thay đổi mang tính quyết định như thế trong các mối quan hệ giữa con người và Thiên Chúa.

Khi đối diện với sự phản nghịch của con người – tội nguyên tổ - Thiên Chúa đã không bỏ rơi con người theo định mệnh của nó, nhưng Ngài quyết định đưa ra một kế hoạch mới nhằm hoà giải con người với chính Ngài. Một ví dụ có tính thách đố nhưng thật hữu ích để hiểu điều này, là điều đang xảy ra ngày hôm nay với cái mà chúng ta gọi là Hệ Thống Định Vị trong các xe hơi. Nếu tại một điểm nhất định nào đó người tài xế không theo chỉ dẫn đã được gửi đến cho anh ta từ trên cao bởi hệ thống định vị, nếu anh ta, ví dụ, quẹo trái thay vì quẹo phải, thì trong một vài giây hệ thống định vị sẽ đưa ra một lịch trình mới cho anh ta, từ vị trí mà anh ta đang hiện diện, để giúp anh đi đến đích. Đó cũng là cách mà Thiên Chúa thực hiện với con người, quyết định, sau khi phạm tội, một bản kế hoạch cứu chuộc.

Sự chuẩn bị lâu dài khởi đi từ những giao ước thánh kinh. Những giao ước ấy là, có thể nói, “những mảng hoà bình tách biệt”. Đầu tiên là với những con người cá nhân: Ông Nô-ê, Abraham và Gia-cóp. Rồi sau đó thông qua Môsê với toàn thể dân Israel, dân tộc trở thành Dân của Giáo Ước. Những giao ước này, nghịch lại với những khế ước của con người nhân loại, luôn luôn là những giao ước của hoà bình, chưa bao giờ là về một cuộc chiến tranh chống lại những kẻ thù.

Tuy nhiên, Thiên Chúa là Thiên Chúa của toàn thể nhân loại: “Hay là Thiên Chúa chỉ là Thiên Chúa của người Do-thái thôi? Thiên Chúa không là Thiên Chúa của các dân ngoại nữa sao?” (Rm 3:29). Do đó, những giao ước xưa tự bản thân chúng là tạm thời, dành riêng để nới thêm ra một ngày cho toàn thể nhân loại. Thực ra, các vị ngôn sứ đã bắt đầu nói một cách rõ ràng hơn bao giờ hết về một “giao ước mới và vĩnh cửu”, về một “giao ước của hoà bình” (Ed 37:26), mà từ Xi-on và Giê-ru-sa-lem sẽ mở ra cho hết mọi dân tộc” (x. Is 2:2-5).

Nền hoà bình mang tính toàn cầu này như là một sự trở lại của nền hoà bình đầu tiên trong vườn Ê-đen, với những hình ảnh và những biểu tượng mà truyền thống Do Thái Giáo hiểu theo nghĩa đen và Kitô Giáo hiểu theo nghĩa thiêng liêng.

“Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến” (Is 2:4). “Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng. Bò cái kết thân cùng gấu cái, con của chúng nằm chung một chỗ, sư tử cũng ăn rơm như bò” (Is 11:6-7).

Kinh Thánh Tân Ước sẽ thấy tất cả mọi lời tiên tri được nhận ra cùng với sự ngự đến của Chúa Giêsu. Sự hạ sinh của Ngài được tỏ lộ ra cho các mục đồng với lời công bố: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2:14). Chính Chúa Giêsu chỉ ra rằng Ngài đến thế gian là để mang sự bình an của Thiên Chúa: Thầy để lại bình an cho anh em, “Thầy ban cho anh em bình an của Thầy”, Ngài nói (Ga 14:27). Vào đêm Phục Sinh trong Phòng Tiệc Ly, ai cũng biết bằng những xung năng thánh nào mà lời Bình An lại xuất ra từ miệng của Đấng Phục Sinh! Bình an cho anh em! Giống như lời loan báo của các Thiên Thần vào đêm Giáng Sinh, đó không chỉ là lời chào hay một lời chúc nhưng là một điều gì đó thực được thông truyền. Tất cả nội dung của ơn cứu chuộc được gói gọn trong lời ấy.

Giáo Hội thời Các Tông Đồ đã không mỏi mệt để loan báo về sự thành toàn của những lời hứa của Thiên Chúa về hoà bình, điều đã diễn ra nơi Đức Kitô. Nói về Đấng Messia Đấng đã sinh ra ở Bê-lem xứ Giu-đê-a, ngôn sứ Mikkha đã tiên báo: “Chính Người sẽ đem lại hoà bình” (Mk 5:4), một cách chính xác như điều mà Thư Gửi Tín Hữu Ê-phê-sô xác định về Đức Kitô: “Người là bình an của chúng ta” (Ep 2:14). “Sự hạ sinh của Chúa, Thánh Lêô Cả nói, là sự hạ sinh của hoà bình”.

Bình An, Hoa Trái Của Thập Giá Đức Kitô

Nhưng giờ đây chúng ta tự hỏi lại chính mình một câu hỏi cụ thể hơn. Có phải bằng sự ngự đến đơn sơ của Ngài trên trái đất mà Chúa Giêsu tái thiết lập lại nền hoà bình giữa trời và đất không? Có phải sự hạ sinh của Đức Kitô thực sự “là sự hạ sinh của hoà bình”, hay đó cũng là, và trên hết tất cả, là sự chết của Ngài không? Câu trả lời chứa đựng trong những lời của Thánh Phaolô, lời mà chúng ta đã bắt đầu: “Vậy, một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta" (Rm 5:1). Bình an đến từ sự biện minh thông qua niềm tin và sự biện minh đến ngang qua hy tế của Chúa Kitô trên thập giá! (x. Rm 3:21-26).

Hơn thế nữa, bình an chính là nội dung của sự biện minh. Điều này không chỉ hệ tại ở nơi sự xoá bỏ (hoặc, theo như Luther, trong sự không đổ tội) các tội lỗi, có thể gọi là, trong một điều gì đó thuần tiêu cực, theo kiểu “mang đi” điều gì đó đã từng hiện hữu; nó cũng hàm chứa và trên hết tất cả một yếu tố tích cực, một sự đặt để một điều gì đó không là: Thần Khí và, cùng với sự đặt để ấy, ân sủng và bình an.

Một điều rõ ràng: người ta không thể hiểu được sự thay đổi triệt để đã diễn ra trong các mối quan hệ với Thiên Chúa, nếu người ta không chịu hiểu điều đã xảy ra trong cái chết của Đức Kitô. Phương Đông và Phương Tây bất đồng nhau trong việc diễn tả hoàn cảnh của nhân loại trước Đức Kitô và bên ngoài Ngài. Một mặt, có những người, phạm tội, đã làm phát sinh một món nợ với Thiên Chúa và đã chống trả lại sự dữ vốn đang giam hãm họ trong tình trạng nô lệ -- tất cả mọi điều họ không thể thực hiện, món nợ trở nên vô biên và họ là những tù nhân của Satan kẻ mà họ cần phải được giải thoát khỏi. Mặt khác, có một Thiên Chúa Đấng có thể xoá bỏ tội lỗi và đánh bại Satan, nhưng Ngài đã không phải thực hiện điều ấy, đó là, Ngài không buộc phải thực hiện điều ấy, bởi vì Ngài không phải là con nợ. Lẽ ra phải có một ai đó hiệp nhất nơi chính mình người ấy phải chiến đấu và người ấy có thể chiến thắng, và đây là điều đã xảy ra với Đức Kitô, là Thiên Chúa và là con người. Đây chính là cách mà Nicholas Cabasilas, trong số những người Hy Lạp, và Thánh Anselm Thành Aosta, trong số những người La Tinh, diễn tả chính những điều ấy theo một cách thế gần hơn cả.

Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là một thời khắc mà trong đó Đấng Cứu Chuộc thực hiện công việc cứu chuộc, phá huỷ tội lỗi và dành lại phần thắng trên Satan. Là con người, điều mà Ngài thực hiện thuộc về chúng ta: “Đức Ki-tô Giê-su, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em” (1 Cr 1:30). Mặt khác, trong tư cách là Thiên Chúa, thì điều Ngài thực hiện lại có một giá trị vô biên và có thể cứu “tất cả những ai đến với Ngài” (Dt 7:25).

Gần đây, đã có một sự tái suy tư lại về ý nghĩa của sự hy sinh của Đức Kitô. Vào năm 1972 một nhà tư tưởng người Pháp là Réné Girard đã đưa ra một bài viết mà theo đó “bạo lực là tâm hồn bí mật và linh hồn của sự thánh thiêng”. Thực ra, ngay tại chính nguồn gốc và trung tâm của mọi tôn giáo, bao gồm cả Do Thái Giáo, có tế lễ, nghi thức sát tế, luôn luôn đi kèm với sự phá huỷ và sự chết. Tuy nhiên, cũng trước thời điểm này, thì vị học giả này đã trở lại Kitô Giáo và, vào Lễ Phục Sinh năm 1959, ông đã công khai “sự hoán cải” của mình, tuyên nhận ông là một người tin và trở lại với Giáo Hội.  

Biến cố này làm cho ông không dừng lại, trong các nghiên cứu kế tiếp, tập trung vào phân tích cơ chế của bạo lực, nhưng cũng chỉ ra cách thế mà tình trạng này khởi đi. Theo ông, Chúa Giêsu lột mặt nạ và phá vỡ cơ chế làm cho tình trạng bạo lực trở nên thánh thiện, biến chính Ngài trở thành “hiến tế” tự nguyện cho nhân loại, nạn nhân vô tội của tất cả mọi tình trạng bạo lực. Đức Kitô, Thư Gửi Tín Hữu Do Thái đã nói (Dt 9:11-14), không đến bằng máu của người khác, nhưng bằng chính máu của Ngài. Ngài không tạo ra các nạn nhân, mà biến mình thành nạn nhân. Ngài không đặt tội lỗi của Ngài trên vai của những người khác – con người hay các sinh vật – Ngài mang lấy tội lỗi của người khác trên chính đôi vai của Ngài: “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá” (1 Pr 2:24).

Thế thì, liệu người ta có thể tiếp tục nói về “hy tế” của thập giá và do đó nói về Thánh Lễ như là một hy tế không? Một thời gian rất lâu vị học giả được trích dẫn trong bài này đã chối bỏ quan điểm này, khi xem xét nó quá bị đánh dấu bởi ý tưởng về bạo lực, nhưng sau đó, với toàn bộ truyền thống Kitô Giáo, ông đã kết thúc việc ấy bằng việc nhìn nhận tính đúng đắn của nó, xét theo điều đã thấy, trong hy tế của Đức Kitô, một kiểu hy tế mới, và thấy trong sự thay đổi về ý nghĩa này “biến cố trung tâm trong lịch sử tôn giáo của nhân loại”.

Tất cả điều này giúp chúng ta hiểu rõ hơn, theo nghĩa nào mà sự hoà giải giữa Thiên Chúa và con người diễn ra trên thập giá. Thường thì hy lễ đền tội nhằm xoa dịu cơn giận dữ của Thiên Chúa vì tội lỗi. Con người, dâng lễ hy sinh lên Thiên Chúa, xin Thần Linh sự hoà giải và sự tha thứ. Trong hy lễ của Đức Kitô thì cách tiếp cận vẫn được duy trì. Đó không phải là con người thực thi sự ảnh hưởng lên Thiên Chúa để xoa dịu Ngài. Hơn thế, đó chính là Thiên Chúa Đấng hành động để con người khước từ lòng hận thù của mình nhằm chống lại Thiên Chúa. “Ơn Cứu Độ không bắt đầu bằng yêu cầu sự hoà giải từ con người, nhưng chính là đến từ yêu cầu của Thiên Chúa để được hoà giải với chính Ngài”. Trong sự kết nối này, người ta có thể hiểu lời xác quyết của Thánh Tông Đồ: “Trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với Người” (x. 2 Cr 5:19), và một lần nữa: “Ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hoà giải với Người” (Rm 5:10).

“Lãnh Nhận Thần Khí!”

Sự bình an mà Đức Kitô mang lại cho chúng ta bằng cái chết của Ngài trên thập giá trở nên năng động và hoạt động trong chúng ta ngang qua Thần Khí. Do đó, trong Phòng Tiệc Ly, sau khi đã nói với các Tông Đồ: “Bình an cho anh em”, Ngài thổi hơi trên họ và nói thêm, trong cùng một hơi thở: “Hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần!” (Ga 20:22)

Trên thực tế, bình an khởi đi từ thập giá Đức Kitô, nhưng lại không sinh ra từ đó. Bình an khởi đi từ một cách thế xa hơn. Trên thập giá Đức Giêsu đã phá huỷ bức tường của tội lỗi và của sự thù hận làm ngáng trở sự bình an của Thiên Chúa đổ xuống trên con người. Nguồn mạch tối hậu của bình an là chính Ba Ngôi Thiên Chúa. “Ôi Ba Ngôi Chí Thánh, đại dương của bình an!” phụng vụ xướng lên từ trong những bài ca tụng. Theo như Dionysius thành Areopagite, “Hoà Bình” là một trong những danh xưng của Thiên Chúa. Ngài chính là sự bình an ở nơi Ngài, vì Ngài là tình yêu và Ngài là ánh sáng.

Hầu hết tất cả các tôn giáo đa thần đều nói về thần thánh trong một tình trạng vĩnh viễn đối kháng và chiến tranh giữa họ. Thần thoại Hy Lạp là một ví dụ điển hình nhất. Theo nghĩa hẹp, người ta không thể nói về Thiên Chúa như là nguồn mạch và là khuôn mẫu của sự bình an, ngay cả trong ngữ cảnh về một sự độc thần tuyệt đối và theo số học. Bình an, thực ra, giống như tình yêu, không thể tồn tại nếu như ít hơn hai con người. Nó hệ tại trong những mối quan hệ tuyệt vời, trong các mối quan hệ của tình yêu, và Ba Ngôi Thiên Chúa là, rõ ràng, vẻ đẹp và sự hoàn hảo của các mối quan hệ này. Điều đánh động chúng ta nhất là khi chúng ta chiêm ngắm biểu tượng Ba Ngôi Thiên Chúa của Rublev thì một cảm thức bình an siêu nhân loại khởi ra từ đó.

Do đó, khi Chúa Giêsu nói, “Bình an cho anh em!” và “Hãy lãnh nhận Chúa Thánh Thần”, Ngài thông truyền cho các môn đệ một điều gì đó thuộc về “bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết” (Pl 4:7). Theo nghĩa này, bình an hầu như là một từ đồng nghĩa với ân sủng và, thực ra, hai thuật ngữ được sử dụng cùng nhau, như một kiểu nhị thức, ngay khởi đầu của các Thư Tông Đồ “Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giê-su Ki-tô ban cho anh em ân sủng và bình an” (Rm 1:7) (1 Tx 1:1). Khi “Bình an ở cùng anh em”, “Chiên Thiên Chúa Đấng xoá tội trần gian, xin ban bình an cho chúng con” được công bố trong Thánh Lễ, và cuối cùng, “Chúc anh chị em đi bình an”, đó chính là sự bình an này như quà tặng của Thiên Chúa mà người ta nói đến.

“Được Hoà Giải Cùng Thiên Chúa”

Giờ đây tôi muốn mang ra ánh sáng cách thế mà quà tặng bình an này, được lãnh nhận xét về mặt tri thức luận và quyền trong Phép Rửa, phải thay đổi từng chút một, thực ra cũng như là về mặt tâm lý học, mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Lời kêu gọi xé lòng của Thánh Phaolô: “Nhân danh Đức Ki-tô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hòa với Thiên Chúa” (2 Cr 5:20) nói với những Kitô hữu đã chịu phép rửa những con người đã sống trong một cộng đoàn đã lâu. Do đó, Ngài không có ý nói đến sự hoà giải đầu tiên hoặc, rõ ràng, nói đến điều mà chúng ta gọi là “Bí Tích Hoà Giải”. Theo nghĩa hiện sinh này, lời ấy cũng nói với mỗi người chúng ta và chúng ta cố gắng hiểu điều mà lời ấy chứa đựng.

Một trong những nguyên nhân, có lẽ là nguyên nhân chính yếu, của sự xa lạ của con người đối với tôn giáo và niềm tin chính là hình ảnh méo mó mà con người có về Thiên Chúa. Đây cũng là nguyên nhân của một Kitô Giáo khánh kiệt, không có lòng khao khát và không có niềm vui, sống như là một bổn phận nhiều hơn là một quà tặng. Tôi nghĩ về sự lớn lao biết là dường nào của hình ảnh Thiên Chúa Cha trong Nguyện Đường Sistine khi tôi thấy hình ảnh ấy lần đầu tiên nhiều năm về trước, tất cả đều được bao phủ bởi một lớp rêu xanh đậm, và bây giờ thì nó thế nào, sau khi được tu sửa, với những mầu sắc sống động và những nét bao quanh rõ ràng được khởi đi từ cây cọ vẽ của danh hoạ Michelangelo. Một sự khôi phục khẩn thiết về hình ảnh của Thiên Chúa Cha cần phải diễn ra trong tâm hồn con người, bao gồm cả chúng ta, những người tin.

Thực ra, đâu là hình ảnh “tiền định” về Thiên Chúa (trong ngôn ngữ máy tính, vốn đang thịnh hành, có thể nói, là mặc định) trong não trạng chung vô thức của con người? Để khám phá điều này, thật đúng đắn để tự hỏi bản thân mình câu hỏi này và cũng hãy hỏi câu hỏi này với những người khác: “Những ý tưởng nào, những lời nào, những thực tại nào bất chợt nảy lên trong bạn, trước mọi sự suy tư, khi các bạn nói: Lạy Cha chúng con ở trên trời...ý Cha thể hiện”? Trong khi đọc những lời này người ta có thể cúi đầu bái phục từ bên trong, như thể là chuẩn bị cho điều gì tồi tệ nhất. Một cách vô ý thức, thánh ý của Thiên Chúa được gắn liền với tất cả mọi điều không mấy dễ chịu gì, đau đớn đến mức, bằng cách này hay cách khác, có thể bị xem là một sự cắt bớt đi sự tự do và cắt bớt đi sự phát triển cá nhân. Điều đó như thể là Thiên Chúa là kẻ thù của mọi cử hành, niềm vui, và thú vui.

Một câu hỏi nữa mở ra – lời kêu gọi Kinh Thương Xót, “Lạy Chúa xin thương xót”, nói gì trong chúng ta, điều nhấn mạnh lời cầu nguyện Kitô Giáo và trong một số cử hành phụng vụ có cả Thánh Lễ từ khởi đầu cho đến kết thúc? Điều đó kết cục bằng việc trở nên chỉ thuần là lời kêu xin sự tha thứ cho thọ tạo, những con người luôn luôn nhìn về Thiên Chúa như thể đang chuẩn bị trừng phạt họ. Từ lòng thương xót đã bị hạ thấp từ cách sử dụng thường là theo nghĩa tiêu cực, như một điều gì đó hẹp hòi và bần tiện: “tội nghiệp”, một cảnh tượng “tội nghiệp”. Theo Kinh Thánh, Lời Kinh Thương Xót cần phải được dịch là: “Lạy Chúa, xin ban sự dịu dàng của Ngài trên chúng con”. Thật là đúng đắn để đọc điều này trong Sách Giê-rê-mia cách thế mà Thiên Chúa nói với dân của Ngài: “Ta lại thấy nhớ thương, nên lòng Ta bồi hồi thổn thức, Ta thương nó, thương nó thật nhiều” (Gr 31:20). Khi người đau yếu, người phong cùi và người mù kêu lên cùng Chúa Giêsu, như trong Tin Mừng Mátthêu 9:27: “Lạy Chúa, xin thương xót tôi!” họ không có ý nói: “xin tha thứ cho tôi”, nhưng “xin tỏ lòng thương cảm trên tôi”.

Nhìn chung, Thiên Chúa được xem là một Đấng Tuyệt Đối, Đấng Toàn Năng, Chúa của thời gian và lịch sử, đó là, như một thực thể áp đặt trên một cá nhân từ bên ngoài – không có chuyện cuộc sống con người trốn thoát Ngài. Sự vi phạm Luật của Ngài cho thấy một sự rối loạn không thể xoay chuyển chính xác là một sự chia cách. Sau này, như chưa bao giờ được xem là đủ, nỗi thống khổ về sự chết và về sự phán xét thần linh trỗi dậy.

Tôi thú nhận rằng tôi hầu như run rẩy khi đọc những lời mà đại nhân Bossuet nói về Chúa Giêsu trên thập giá, trong một trong những bài giảng của Ngài vào Thứ Sáu Tuần Thánh: “Ngài đặt chính bản thân Ngài, ôi Giêsu, vào trong vòng tay của Chúa Cha và Ngài cảm thấy bị loại bỏ, Ngài cảm thấy rằng thực ra chính Cha là Đấng đã hành hình Ngài, Đấng đánh Ngài, Đấng bỏ rơi Ngài, thực ra Cha là Đấng nghiền nát Ngài dưới sức nặng không thể chịu được và vô biên của sự trả thù nơi của Ngài...Cơn giận của một Thiên Chúa bị kích động: Chúa Giêsu cầu nguyện và Chúa Cha giận dữ đã không lắng nghe lời Ngài; đó chính là công lý của một Thiên Chúa trả thù vì những sự bội phản nhận được; Chúa Giêsu chịu đau khổ và Chúa Cha thì không được xoa dịu!” Nếu một nhà diễn thuyết nói về sự tinh tế của Bossuet, chúng ta có thể tưởng tượng đến điều mà các nhà giảng thuyết nổi tiếng của thời đó đã cấm chính họ. Do đó, chúng ta có thể hiểu, cách thế mà hình ảnh “tiền định” về Thiên Chúa được hình thành trong tâm hồn con người.

Lòng thương xót của Thiên Chúa chắc chắn chưa bao giờ bị phớt lờ! Tuy nhiên, tín thác cho lòng thương xót chỉ là một nghĩa vụ nhằm tiết chế những sự hà khắc không thể nhượng bộ của công lý. Thực ra, trong thực tế, tình yêu và sự tha thứ mà Thiên Chúa rộng ban đã được thực hiện dựa trên tình yêu và sự tha thứ dành cho những người khác: nếu bạn tha thứ cho người xúc phạm bạn, thì đến lượt Thiên Chúa cũng sẽ tha thứ cho bạn. Từ đó lại nổi lên nơi Thiên Chúa một mối quan hệ mặc cả. Đã chẳng phải người ta nói rằng một người phải tích luỹ nhân đức để đạt được Nước Trời sao? Và một người không đặt tầm quan trọng vào những nỗ lực để làm việc, vào các Thánh Lễ đã cử hành, vào việc thắp lên một ngọn nến, vào các tuần cửu nhật thì sao?

Tất cả điều này, đã làm cho quá nhiều người trong quá khứ thể hiện tình yêu của họ đối với Thiên Chúa, không thể bỏ đi được; điều đó cần được tôn trọng. Thiên Chúa làm cho những bông hoa của Ngài – và các thánh của Ngài – trổ sinh trong mọi điều kiện khí hậu. Tuy nhiên, người ta không thể chối bỏ rằng mối nguy rơi vào một nền tôn giáo thực dụng, một nền tôn giáo kiểu “hòn đá ném đi hòn chì ném lại”. Ở tận nền tảng của mọi thứ là một sự tiền giả định rằng mối quan hệ với Thiên Chúa lệ thuộc trên con người. “Người ta không được đi tay không đến trước nhan Ta” (Xh 23:15; 34:20), nhưng đây là Thiên Chúa của Lề Luật, chứ không phải Thiên Chúa của ân sủng. Trong vương quốc của ân sủng, thực ra, con người phải xuất hiện trước mặt Thiên Chúa “với bàn tay không”; điều duy nhất mà người ta phải có “trong đôi bàn tay của mình khi xuất hiện trước Ngài, là chính Con của Ngài, Chúa Giêsu”.

Chúng ta hãy xem cách thế Chúa Thánh Thần thay đổi tình hình, khi chúng ta mở lòng ra với Ngài. Ngài dạy chúng ta nhìn vào Thiên Chúa bằng đôi mắt mới: như là Thiên Chúa của Lề Luật, chắc chắn, nhưng trước hết là Thiên Chúa của tình yêu và của ân sủng, “nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34:6). Điều đó làm cho chúng ta khám phá ra Ngài là một đồng minh và một người bạn, như là “Đấng không giữ cho mình Con Một của Ngài mà lại trao ban Ngài cho tất cả chúng ta” (đây là cách mà Thư Rôma 8:32 cần được hiểu); tắt một lời, như một Người Cha dịu dàng nhất. Tóm lại, Chúa Thánh Thần thông truyền cho chúng ta cảm nhận mà Chúa Giêsu có về Cha của Ngài.

Tình cảm hiếu thảo giờ đây trổ sinh điều đồng thời đã được hiểu trong tiếng kêu: Abba, Cha ơi! Khi người ta nói: “Tôi không biết Ngài, hoặc tôi biết Ngài chỉ từ việc nghe người khác nói. Giờ đây tôi biết Ngài, tôi biết bạn là ai; tôi biết rằng Ngài thật sự yêu tôi, rằng Ngài yêu thích tôi”. Người Con đã nhận lấy vị thế của người nô lệ, yêu nỗi sợ ấy. Đó là điều mà người ấy đã thực sự được hoà giải với Thiên Chúa, cả về mặt chủ thể lẫn hiện sinh.

Chúng ta hãy để công việc hằng ngày cùng với một câu hỏi trong đầu: Ý tưởng về Thiên Chúa Cha là gì ở trong tâm hồn tôi: ý tưởng của thế gian hay ý tưởng của Chúa Giêsu?

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Zenit.org)